ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT Ở
HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Sinh viên thực hiện:
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Thị Mai Anh
TS. Phạm Thị Thanh Xuân
Lớp: K47 KTNN
SĐT: 01693210560
Huế, tháng 5 năm 2017
SVTH: Trần Thị Mai Anh
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
triển của ngành Thủy sản ngày càng cao, chiếm 3-5% GDP (nếu chỉ tính thuỷ sản gồm
có nuôi trồng và khai thác) và trên 10% kim ngạch xuất khẩu, sản phẩm thuỷ sản Việt
Nam đã có mặt trên 80 quốc gia đưa nước ta thành quốc gia đứng thứ 7 về xuất khẩu
thuỷ sản. Nhà nước hiện tại đã xác định thuỷ sản sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước trong giai đoạn tới. Theo Tổng cục thống kê, năm 2015 GDP (giá so sánh 2010)
giá trị ngành Thủy sản đạt 91.185 tỷ đồng chiếm 19, 25 % tổng GDP toàn ngành nông,
lâm và thủy sản và chiếm 3, 17% tổng GDP toàn quốc. Điều này cho thấy Thủy sản
đóng vai trò quan trọng vào nền kinh tế quốc dân.
Quảng Bình là một tỉnh ven biển nằm ở ngõ vịnh Bắc Bộ nhìn ra Biển Đông
thuộc vùng biển Bắc Trung Bộ có nhiều lợi thế phát triển mạnh ngành nuôi trồng thủy
sản. Bờ biển dài 100km với nhiều bến bãi, cửa sông, vùng bãi triều, mặt biển rộng,
nguồn lợi thủy, hải sản tự nhiên phong phú, đa dạng …Hệ thống sông ngòi khá dày
đặc 0, 6 -1, 85 km/km2, gồm 5 sông chính là sông Nhật Lệ, sông Dinh, sông Lý Hoà,
sông Gianh, sông Roòn với nhiều hồ tự nhiên, nhân tạo và các đầm lầy. Trong những
năm qua, ngành Thủy sản tỉnh Quảng Bình đã đạt được nhũng thành tựu quan trọng và
có bước đi vững chắc, đồng bộ trên nhiều lĩnh vực hoạt động của ngành. Giai đoạn
2011 – 2015, tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất thủy sản bình quân hàng năm đạt 7,
6%. Trong đó giá trị khai thác tăng 6, 4%, năng lực phương tiện đánh bắt phát triển
theo hướng vươn khơi, cơ sở hạ tầng nghề cá được đầu tư nâng cấp nên đáp ứng yêu
cầu đánh bắt hải sản. Nuôi trồng thủy sản đã đạt được thành tựu nổi bật có bước phát
triển đột phá, giá trị nuôi trồng tăng 9, 0%, giai đoạn 2011-2015.
Quảng Trạch là một huyện phát triển ngành nuôi trồng thủy sản qua nhiều năm,
trong đó nuôi cá nước ngọt là một lợi thế của huyện. Với hệ thống thủy lợi được xây
dựng kiên cố đảm bảo nước ra vào ao ổn định, cá nước ngọt tăng trưởng nhanh và đạt
SVTH: Trần Thị Mai Anh
5
năng suất cao đem lại hiệu quả kinh tế cao đã góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nông
6
:Báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản từ Phòng Nông nghiệp huyện Quảng
Trạch, số liệu Niên giám thống kê huyện Quảng Trạch, Niên giám thống kê tỉnh
Quảng Bình. Một số sách báo, tài liệu có liên quan và internet ….
3.1.2. Số liệu sơ cấp
Điều tra phỏng vấn trực tiếp có chọn mẫu: Tập trung nghiên cứu 60 hộ nông dân
thuộc 2 xã Quảng Trường, xã Phù Hóa là 2 xã tiêu biểu trong các xã thuộc huyện
Quảng Trạch về nuôi cá nước ngọt.
3.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích.
- Phương pháp phân tổ thống kê: Phương pháp phân tổ thống kê được sử dụng
nhằm hệ thống hóa các số liệu thu thập được dưới dạng các chỉ tiêu nghiên cứu, từ đó
đánh giá các chỉ tiêu theo thời gian. Phương pháp này còn được dùng để phân tích sự
tác động của các yếu tố đầu vào với yếu tố đầu ra cũng như biểu hiện mối quan hệ
giữa yếu tố đầu ra với các yếu tố đầu vào.
-
Phương pháp thống kê so sánh: Kết quả và hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất
được tính toán, lượng hóa thông qua các chỉ tiêu khác nhau như năng suất, tổng giá trị
sản xuất, giá trị gia tăng... Hệ thống chỉ tiêu đó phản ánh mức độ đạt được của từng
lĩnh vực, cho nên khi đánh giá kết quả và hiệu quả, cần so sánh mức độ đạt được các
chỉ tiêu này theo thời gian và không gian, từ đó rút ra kết luận.
3.3. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia Phòng Nông nghiệp, thầy cô hướng dẫn
và cán bộ địa phương và chủ hộ nuôi cá nước ngọt về vấn đề liên quan đến hiệu quả
kinh tế, kỹ thuật nuôi cá, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả hoạt động nuôi
cá, thuận lợi và khó khăn trong hoạt động nuôi cá nước ngọt tại địa phương
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
thể không kể đến đóng góp của ngành nuôi cá nước ngọt.
Nuôi cá nước ngọt đang có bước chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ sang sản xuất
hàng hóa lớn, điển hình là việc phát triển nuôi cá tra, cá ba sa xuất khẩu đem lại giá trị
kinh tế cao, nuôi đặc sản được mở rộng. Với các hình thức nuôi chủ yếu nuôi quảng
canh, quảng canh cải tiến sang bán thâm canh và thâm canh góp phần quan trọng vào
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Và vai trò của
ngành nuôi cá nước ngọt được thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:
Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân, đảm bảo an ninh
lương thực cho quốc gia
Cá được coi là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có giá trị vô cùng
quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm con người. Trong nó có các đặc điểm như
hàm lượng protein cao, lượng mỡ và colesteron thấp, có rất nhiều loại vitamin, dễ tiêu
hóa và hấp thụ đối với con người, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất. Nuôi cá nước
ngọt phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu
thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào.
Xóa đói giảm nghèo
Nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi cá
nước ngọt đến các vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm
bảm an ninh lương thực mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo. Nuôi cá nước ngọt
chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến và bán thâm
canh và thâm canh, nhiều nơi áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo hướng công
nghiệp. Hoạt động nuôi cá góp phần tăng hiệu quả kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập
cho người dân, là hình thức tạo sinh kế cho người dân.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn
SVTH: Trần Thị Mai Anh
9
Đối với những ao mới thì cần tát cạn tháo rửa chua 1 - 2 lần. Sau đó, bón vôi, có thể
sử dụng một trong hai loại là vôi sống (CaO) hoặc đá vôi nghiền (CaCO3). Tuy nhiên,
vôi sống vẫn là lựa chọn tốt, nhờ khả năng diệt khuẩn mạnh, giúp cân bằng pH tối ưu.
Bón vôi khắp mặt ao, bờ ao, đặc biệt ở vị trí thường cho cá ăn.
SVTH: Trần Thị Mai Anh
10
-
Tiếp đó, phơi ao, thời gian phơi tùy thuộc vào chất đất, với vùng đất nhiễm phèn chỉ
phơi trong khoảng 3 - 5 ngày trước khi tiến hành cấp nước. Nước trước khi được bơm
-
vào ao cần được lọc kỹ để loại bỏ tạp chất, vi khuẩn cũng như ấu trùng gây hại.
Để gây màu nước, có thể sử dụng phân hữu cơ, phân vô cơ đều được. Phân hữu cơ
thường dùng là phân chuồng hoặc phân xanh. Phân chuồng trước khi bón xuống ao
cần ủ kỹ với 1 - 2% vôi. Bón lượng 30 - 50 kg/100 m2, rải đều khắp mặt ao. Phân xanh
bó thành từng bó 5 - 10 kg, dùng cọc cố định đảm bảo bó phải ngập nước; sau 7 - 10
ngày, vớt hết những phần phân xanh không phân hủy lên khỏi ao. Phân vô cơ (đạm,
lân) theo tỷ lệ 2:1, với lượng 0,2 - 0,4 kg/100 m2, hòa tan vào nước rồi té khắp bề mặt
ao. Sau khi gây màu nước từ 2 - 3 ngày, có thể tiến hành thả cá.
• Đối với ao đã nuôi
- Tháo cạn nước cũ để thu hoạch cá. Vét bùn để làm sạch đáy ao, giải phóng khí độc.
Tăng dung tích ao (thì nuôi được nhiều cá hơn) để lại đáy một lớp khoảng 10 - 15 cm
-
Đối với ao nuôi ghép
+ Phương pháp thả cá giống ao nuôi ghép tương tự như trong ao nuôi đơn. Mật
độ thả từ 2 - 2, 5 con/m2 tùy vào thành phần cá thả ghép trong ao.
+ Mật độ cá thả 1 –1, 5 con/m 2, những nơi có nguồn nước sạch và ra vào thuận
lợi có thể nuôi 2 – 3 con/m2
Tỷ lệ nuôi ghép tùy thuộc vào điều kiện ao và khả năng cung cấp thức ăn.
Một số công thức ghép đàn cá.
* Nuôi cá Rô phi là chính : Cá Rô phi chiếm 60 - 70%, cá Mè chiếm 10- 15%,
các loại khác 20- 25%
* Nuôi cá trắm cỏ là chính: Cá Trắm cỏ chiếm 50%, cá Trôi chiếm 25%, cá Mè
20%, cá Chép chiếm 5%
* Nuôi cá Trôi là chính: Cá trôi ấn chiếm 50%, cá Mè chiếm 20, cá Trắm cỏ
chiếm 10%, cá Chép chiếm 10%, các loại khác chiếm 10%
Hiện này đa số người nuôi chủ yếu chọn đối tượng nuôi chính là cá rô phi đơn
-
tính, cá chép, cá trắm cỏ.
Cá trước khi thả nên được tắm qua nước muối ăn (NaCl) nồng độ 3% để phòng bệnh.
Khi thả bà con cần chú ý cân bằng môi trường nước nước tránh cá bị sốc. Ao có diện
tích lớn hơn 1.000 m2, màu nước xanh lá chuối, phân chuồng nhiều nên nuôi cá mè là
đối tượng chính. Vùng nuôi cung cấp được thức ăn xanh, nên nuôi cá trắm cỏ là đối
tượng chính. Ao có nguồn nước thải từ các chuồng nuôi thì nên nuôi cá rô phi, cá trôi,
cá chép là đối tượng chính.
SVTH: Trần Thị Mai Anh
12
nắm nhỏ rồi ép viên cho cá ăn. Cần cho cá ăn đầy đủ theo khẩu phần để cá lớn nhanh.
Không nên cho cá ăn vào thời điểm nhiệt độ quá cao hay quá thấp, khi hàm
lượng ôxy hòa tan thấp… Ngoài ra, với từng thành phần loài khác nhau, thức ăn bổ
sung cũng khác nhau.
Trong quá trình nuôi cần thường xuyên theo dõi môi trường nước. Định kỳ 20 - 30
ngày, sử dụng vôi lượng 2 - 3 kg/100 m2, hòa tan trong nước rồi té đều khắp mặt ao.
Trong những tháng nuôi đầu, định kỳ 1 tháng/lần thay nước cho ao nuôi với lượng 20 30% lượng nước, sang những tháng nuôi sau, định kỳ thay nước 1 tháng/lần. Để tăng
cường sức đề kháng cho cá nuôi, định kỳ 1 tháng/lần, bổ sung thêm Vitamin C, khoáng,
tỏi tươi xay nhuyễn vào thức ăn, nhất là trước và trong những thời điểm giao mùa.
SVTH: Trần Thị Mai Anh
13
Vào những ngày trời nắng, nhiệt độ cao, tảo phát triển mạnh, cá dễ nổi đầu vào
ban đêm do thiếu ôxy. Người nuôi cần lưu ý ngừng bón phân, giảm lượng thức ăn, bật
máy bơm để giảm thiểu tác động đến sức khỏe cá nuôi.
1.1.3.5.
Phòng và trị bệnh cho cá.
- Định kỳ dùng 1 - 2kg vôi/100m3 nước/tuần. Khi trời mưa dùng 2kg
vôi/100m3.
+ Treo túi vôi 2 – 4kg/túi tại các điểm cho ăn
+ Giống trước khi thả tắm qua nước muối 2 – 3kg/100lít nước thời gian 5 –10
phút.
+ Chọn công thức và đối tượng nuôi phù hợp cho từng ao.
+ Định kỳ dùng chế phẩm sinh học như EMC, BIODW, BIOBAC… để cải thiện
môi trường nước ao nuôi.
+ Bổ sung vitamin C từ 200 – 300g cho 100kg thức ăn, cho cá ăn định kỳ để tăng
sức đề kháng cho cá.
Là hình thức nuôi bằng nguồn giống và nguồn thức ăn tự nhiên thông qua việc
lấy nước qua cửa cống và nhốt giữ trong một thời gian nhất định. Trong thời gian nhốt
giữ ttrong đầm phụ thuộc vào vùng địa lý, mùa vụ và tập quán, ở miền Bắc và miền
SVTH: Trần Thị Mai Anh
14
Trung là thứ 3 đến tháng,ở miền Nam từ 15 ngày đến 2 tháng. Quy mô diện tích từ 2
ha đến hàng chục ha, có nơi đến 100 ha. Độ sâu mặt nước từ 0,5m đến 1m. Năng suất
có thể đạt từ 30 đến 300kg/ha/năm.
Diện tích ao nuôi thường lớn để đạt sản lượng cao. Với hình thức nuôi quảng
canh thì chi phí bỏ ra ít, trang bị đơn giản, cần ít lao động cho một đơn vị sản xuất.
Tuy nhiên nuôi cá theo hình thức này năng suất và lợi nhuận rất thấp, phụ thuộc hoàn
toàn vào điều kiện tự nhiên, thích hợp với những người sản xuất ít vốn.
1.1.4.2.
Nuôi quảng canh cải tiến (QCCT)
Là hình thức nuôi bằng nguồn giống và thức ăn tự nhiên là chủ yếu, nhưng có bổ
sung thêm giống nhân tạo ở mật độ nhất định, đồng thời có đầu tư cải tạo đầm, diệt trừ
các đối tượng dịch hại để tăng tỷ lệ sống và năng suất. Quy mô diện tích từ 0, 2 ha đến
2 ha, độ sâu mực nước từ 0.8m đến 1,0m. Mật độ thả bổ sung từ 1 -2 con/m2
Chi phí vận hành thấp, có thể bổ sung bằng giống tự nhiên thu gom hay giống
nhân tạo, phải bổ sung giống lớn để tránh hao hụt do dịch hại nhiều trong ao. Đây là
phương thức mà mức độ thiếu ôxy và ô nhiễm nguồn nước không trở thành vấn đề lớn,
không phải chăm sóc nhiều, quản lý còn đơn giản. Đồng thời, do mật độ cá còn thấp
nên chi phí thức ăn ít.
1.1.4.3.
Nuôi bán thâm canh (BTC)
Là hình thức nuôi bằng con giống nhân tạo và phần thức ăn nhân tạo là chủ yếu,
đồng thời kết hợp sử dụng một phần thức ăn tự nhiên có trong ao đầm. Hệ thống ao
hoàn toàn khống chế được các yếu tố môi trường bên ngoài. Cho năng suất từ 50 tấn
/năm.
1.2.
Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế nuôi cá nước ngọt
1.2.1. Khái niệm, bản chất, ý nghĩa hiệu quả kinh tế
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh tế.
• Quan điểm thứ nhất cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt
được và các chi phí bỏ ra (các nguồn nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được kết quả
•
đó.
Quan điểm thứ hai cho rằng hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất
đạt được và lượng chi phí bỏ ra đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế = Kết quả sản xuất – Chi phí bỏ ra
• Quan điểm thứ ba xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến động giữa chi phí và kết
quả sản xuất.
Theo quan điểm thứ ba, hiệu quả kinh tế ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của
kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi
phí bổ sung. Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả
sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội.
HQKT =
∆K: Là phần tăng thêm của kết quả sản xuất.
∆C: Là phần tăng thêm của chi phí sản xuất.
Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh: “Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan
phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định”.
Theo Farell (1950) và một số nhà kinh tế học khác thì hiệu quả kinh tế chỉ tính
được một cách đầy đủ theo nghĩa tương đối: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh
tế trong đó sản xuất đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối”.
Giáo trình kinh tế nông nghiệp cho rằng: Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Điều đó cho thấy quá trình sản xuất là sự liên hệ
mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, là sự biểu hiện kết quả của các mối quan
hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất.
1.2.2. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế.
Để xác định hiệu quả kinh tế, vấn đề đặt ra là xác định được chi phí bỏ ra và kết
quả thu về. Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là những chi phí cho các
yếu tố đầu vào như đất đai, lao động, tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu….Còn kết quả
thu được xác định như thế nào? Trong hệ thống cân đối quốc dân (MPS), kết quả thu
được có thể là toàn bộ giá trị sản phẩm (C+V+m), hoặc có thể là thu nhập (V+m),
ngoài ra cũng có thể là thu nhập thuần (MI). Trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA),
kết quả thu được có thể là tổng giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA), thu nhập
SVTH: Trần Thị Mai Anh
17
hỗn hợp (MI), hoặc lợi nhuận (Pr). Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế bao
gồm:
Thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách lấy kết quả thu được chia
cho chi phí bỏ ra (dạng thuận) hoặc lấy chi phí bỏ ra chia cho kết quả thu được (dạng
nghịch).
• Dạng thuận: H = Q/C
Công thức này nói lên một đơn vị chi phí bỏ ra sẽ tạo được bao nhiêu đơn vị
kết quả, phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố nguồn lực.
• Dạng nghịch: H = C/Q
Công thức này nói lên để đạt được một đơn vị kết quả thu được cần tốn bao
nhiêu đơn vị chi phí.
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
+ Chi phí ao hồ, công trình xây dựng cơ bản trên một đơn vị diện tích mặt nước
nuôi cá nước ngọt: như đê, kè. Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng kiên cố và trình độ
thâm canh nuôi
+ Mật độ nuôi: chỉ tiêu này phản ánh số lượng cá nuôi trên một đơn vị diện tích.
+ Chi phí trung gian trên một đơn vị diện tích. Là các khoản chi phí cấu thành
nên tổng chi phí như là chi phí vật tư và dịch vụ cho sản xuất bao gồm chi phí thức ăn,
chi phí xử lý ao hồ, chi phí giống, chi phí lao động và các khoản chi phí không thể
khấu hao trong quá trình nuôi.
+ Chi phí phòng trị bệnh: chi phí này phản ánh chi phí phòng và trị bệnh cho cá.
• Chỉ tiêu đánh giá kết quả
Năng suất cá (N): Phản ánh trung bình một năm thu được bao nhiêu kg cá trên một
đơn vị diện tích mặt nước.
N= Q/S
Trong đó: Q là sản lượng cá thu hoạch trong năm
S là diện tích mặt nước nuôi cá
Tổng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích (GO): là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền
phản ánh toàn bộ kết quả trực tiếp hữu ích lao động sáng tạo trong một thời gian nhất
định (1 năm). Hiện nay trong nền kinh tế thị trường sản xuất đơn thuần là tiêu dùng
cho nên tổng giá trị sản xuất cũng là tổng doanh thu của các hộ.
GO = ∑QiPi
Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm
Pi: Giá sản phẩm
Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích (VA): Chỉ tiêu này phản ánh giá trị tăng
thêm so với chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu này được tính bằng phần chênh lệch giữa tổng giá
trị sản xuất (GO) và chi phí trung gian (IC)
Việt Nam là quốc gia có diện tích nước ngọt bề mặt lớn với 653 nghìn ha sông
ngòi, 394 nghìn ha hồ chứa, 85 nghìn ha đầm phá ven biển, 580 nghìn ha ruộng lúa
nước. Vì vậy nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng. Theo
điều tra sơ bộ của ngành thủy sản, đã xác định được 544 loài cá nước ngọt phân bố ở
Việt Nam. Đối tượng cá nuôi khá ổn định gồm các loại: cá trắm, chép, mè, trê lai, rô
phi…. nguồn giống sinh sản hoàn toàn chủ động. Năng suất nuôi cá bình quân đạt 3
tấn/ha. Nghề cá nước ngọt bao gồm khai thác tự nhiên và nghề nuôi, trong đó nghề
nuôi cá đã đóng góp vào việc cung cấp thực phẩm quan trọng cho nhân dân. Tuy
nhiên, chỉ có khoảng vài chục loài cá nước ngọt được chế biến xuất khẩu, chủ yếu là
cá tra và cá basa.
Hiện nay, nghề nuôi cá nước ngọt phát triển rộng khắp cả nước, không chỉ ở các
tỉnh đồng bằng ven biển mà ở cả các tỉnh miền núi, nhằm mục tiêu kinh tế vừa xuất
khẩu vừa cải thiện nguồn cung cấp thực phẩm cho dân cư trong nước. Thời gian qua
đã có rất nhiều mô hình nuôi cá nước ngọt như: cá rô phi, ếch, baba… thành công trên
quy mô lớn tại các địa phương trong cả nước. Việc nuôi cá hồi thành công tại một số
điạ phương miền núi phía Bắc như Sapa, Lai Châu….đã đánh dấu bước phát triển của
nghề nuôi cá nước ngọt Việt Nam. Bên cạnh sản phẩm chủ lực là cá tra ở ĐBSCL, nếu
mô hình này thành công và được nhân rộng, có quy hoạch hợp lý và có điều kiện để
phát triển thì không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà sẽ được xuất khẩu ra
thị trường thế giới. Cá nước ngọt được xuất khẩu sang gần 50 thị trường trên thế giới.
Giá trị xuất khẩu cá nước ngọt của Việt Nam hằng năm hiện nay chiếm khoảng 5060% tổng giá trị xuất khẩu cá đông lạnh. Đóng góp đáng kể vào thành quả đó phải kể
đến cá tra, cá basa với kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn 1 tỷ USD/ năm. Tuy nhiên,
SVTH: Trần Thị Mai Anh
20
thực tế cho thấy nhiều loài thủy sản nước ngọt có giá trị xuất khẩu nhưng vẫn chưa
được đầu tư hiệu quả.
+/-
%
Ha
3.479
3.540
3.700
61
1,75
160
4,5
2. Năng suất
Tấn/ha
1,59
1,67
1,69
tích có xu hướng tăng nhẹ lên 3.700 ha, tăng 4, 5% so với năm 2014. Với việc đầu tư
cho ngành nuôi trồng thủy sản thì diện tích mặt nước ngày càng có xu hướng tăng lên,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.
Năng suất nuôi cá nước ngọt ở tỉnh Quảng Bình chưa cao, bình quân năm 2013
đạt 1, 59 tấn/ha đến năm 2015 đạt 1, 69 tấn ha. Mặc dù có xu hướng tăng nhưng tăng
không đáng kể. Điều này cho thấy hiệu quả nuôi cá nước ngọt của tỉnh chưa đạt hiệu
quả cao. Vì vậy cần phải quan tâm đầu tư vào hoạt động này nhằm tăng sản lượng
cũng như năng suất nuôi trồng.
SVTH: Trần Thị Mai Anh
21
Về mặt sản lượng, năm 2014 là 5.937 tấn tăng so với năm 2013 là 5.540 tấn, tức
là tăng 7,16 % so với năm 2013. Năm 2015 sản lượng nuôi trồng thủy sản vẫn tăng
nhưng tăng chậm hơn, đạt 6.259 tấn, tăng 5,42% so với năm 2014. Việc áp dụng khoa
học kỹ thuật vào các khâu chăm sóc và quản lý thủy sản, kết hợp với các hình thức
nuôi bán thâm canh, thâm canh nhằm nâng cao sản lượng cũng như chất lượng thủy
sản.
Diện tích nuôi cá nước ngọt của tỉnh Quảng Bình tương đối lớn, tuy nhiên sản
lượng thu hoạch chưa cao, năng suất còn thấp. Chính vì vậy cần phải có các chính sách
hỗ trợ cho các chính sách nhằm thúc đẩy ngành nuôi cá nước ngọt nhằm đem lại hiệu
quả kinh tế cho toàn tỉnh. Hiện tại người dân đang đầu tư nuôi cá thâm canh, phát triển
các vùng nuôi tập trung và áp dụng nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật mới nhằm nâng
cao năng suất chất lượng sản phẩm. Nhiều hình thức nuôi mới được người dân áp dụng
như nuôi lồng bè trên sông, hồ chứa, nuôi trong bể xi măng; nuôi nhuyễn thể 2 mảnh
võ bãi triều. Các đối tượng nuôi như cá chim vây vàng, cá dìa, bống bớp, cá lăng
chấm…. góp phần phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững. Phát triển ngành nuôi trồng
thủy sản là một trong những công cụ góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân địa
như đất ở của nhân dân, đặc biệt các xã ven sông Gianh, sông Roòn. Khi có gió bão,
áp thấp nhiệt đới, gió mùa… tất cả các xã trên địa bàn huyện đều chịu ảnh hưởng.
Vùng ven biển, cửa sông thường bị ảnh hưởng trực tiếp của bão, triều cường, nước
biển dâng.
2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết
Quảng Trạch nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; mùa mưa bão thường
xảy ra từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng
1.700 đến 2.300mm; mưa bão thường gây ra lũ lụt, triều cường, làm thiệt hại đến tính
mạng, tài sản của nhà nước và nhân dân trên địa bàn huyện.
+ Khí hậu: Mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, có sự phân hoá sâu sắc của
địa hình và chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta.
Với đặc điểm đó, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô lạnh
bắt đầu từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 3, nhiệt độ trung bình từ 18-20°C, có 4 tháng
lạnh nhất là: 11,12, 1, 2, nhiệt độ xuống dưới 15°C, có lúc xuống dưới 10°C. Mùa mưa
tập trung vào 3 tháng 9, 10, 11 trong đó tháng 10 có lượng mưa cao nhất.
+ Lượng mưa: Lượng mưa năm bình quân nhiều năm X 0 =2503mm. Lưu vực này
có lượng mưa lớn hơn các sông suối phía Nam của tỉnh. Lượng mưa phân bố không
đồng đều giữa các vùng và các tháng trong năm. Mưa tập trung vào 3 tháng 9, 10, 11.
Tháng 10 có lượng mưa cao nhất, chiếm gần 30% tổng lượng mưa cả năm.
Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm gây ảnh hưởng lớn đến
sản xuất và đời sống.
Hằng năm, mưa phân bố thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài 4 tháng, từ tháng
8 đến tháng 11, lượng mưa mùa này chiếm khoảng 65 - 70% tổng lượng mưa cả năm.
SVTH: Trần Thị Mai Anh
23
Mùa khô ít mưa, kéo dài từ tháng 12 đến tháng 7. Tháng mưa lớn nhất là tháng 10,
234
27.738
7.151
2.678
Cơ cấu ( % )
100,00
78,19
16,13
0,52
61,54
15,87
5,94
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quảng Trạch)
Đất sản xuất nông nghiệp là 7.269 ha chiếm 16, 13%, đất lâm nghiệp là 27.738
ha chiếm 61, 54%, đất nuôi trồng thủy sản là 234 ha chiếm 0, 52% tổng diện tích đất
tự nhiên. Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 234 ha, cho thấy ngành nuôi trồng thủy
sản đang có bước phát triển. Cơ cấu diện tích phân bổ không đều, điều này đòi hỏi
chính quyền địa phương cần phân bổ lại để có cơ cấu đất đai hợp lý.
Đất nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm 234 ha, đa số diện tích này được sử dụng để
nuôi cá nước ngọt, đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế nhất định cho người dân
huyện Quảng Trạch. Hiện nay có nhiều chương trình hỗ trợ chuyển đổi diện tích đất
SVTH: Trần Thị Mai Anh
24
trồng lúa không hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản nước ngọt mang hiệu quả kinh tế
So sánh (%)
2014/201
3
2015/2014
Hộ
25.974
26.876
27.475
3,5
2,23
Khẩu
104.94
5
105.46
3
105.99
7
0,5
0,49
4,04
3,92
3,86
-2,97
-1,53
1,15
1,09
1,07
-5,22
-1,83
3. Lao động nông
nghiệp
4. Bình quân nhân
khẩu trên hộ
Ngườ
i