Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam(Tài liệu là bản tóm tắt ) - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ DIỆU QUYÊN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRONG
LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số

: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Năng

Hà Nội - 2016

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài

1.2.1. Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán .................... 18
1.2.2. Khái niệm địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng
khoán ......................................................................................................................... 21
1.2.3. Cơ sở pháp lý và nguyên tắc xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán ........................................................................... 24
1.2.4. Kinh nghiệm của một số nước trong việc điều chỉnh địa vị pháp lý của nhà
đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán ....................................................... 27
1.2.4.1. Pháp luật Brazil ........................................................................................... 27
1.2.4.2. Pháp luật Thái Lan....................................................................................... 30
1.2.4.3. Pháp luật Hàn Quốc..................................................................................... 33
Kết luận chƣơng I ........................................................................................................ 37
Chƣơng II. QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU
TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ...... 38
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN .................................................... 38
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1975 đến 1987 .................................................................... 38
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1987 đến 1996 .................................................................... 40
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1996 đến 2006 .................................................................... 44

Footer Page 3 of 126.

i


Header Page 4 of 126.

2.1.4. Giai đoạn từ 2006 đến nay .............................................................................. 47
2.2. NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG

TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN ............................................................. 94
3.2.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán ........................................................................... 94
3.2.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán ........................................................................... 97
3.2.2.1. Hoàn thiện quy định khái niệm nhà đầu tư nước ngoài ............................... 97

Footer Page 4 of 126.

ii


Header Page 5 of 126.

3.2.2.2. Xác định tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng
khoán Việt Nam ......................................................................................................... 98
3.2.2.3. Quy định về phát hành cố phiếu không có quyền biểu quyết ....................... 99
Kết luận chƣơng III................................................................................................... 106
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 111

Footer Page 5 of 126.

iii


Header Page 6 of 126.

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết

Sở giao dịch chứng khoán

TTCK

Thị trường chứng khoán

TTGDCK

Trung tâm giao dịch chứng khoán

TTLKCK

Trung tâm lưu ký chứng khoán

UBCKNN

Ủy ban chứng khoán Nhà nước

VSD

Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

Footer Page 6 of 126.

iv


Header Page 7 of 126.

LỜI MỞ ĐẦU

Footer Page 7 of 126.

1


Header Page 8 of 126.

đến 100%. Đây là điều đáng mừng về việc tăng độ mở của thị trường chứng khoán
thông qua tỷ lệ sở hữu, là biện pháp tăng cường các hoạt động đầu tư nước ngoài vào
thị trường chứng khoán, cũng như là động lực để đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị
trường.
Dẫu vậy, thị trường chứng khoán nước ta còn non trẻ, mới mẻ cũng vì vậy mà
hệ thống pháp luật chứng khoán của nước ta còn chưa hoàn thiện, vẫn tồn tại những
bất cập, thiếu sót nhất định cần sớm được khắc phục để phù hợp với sự vận động,
phát triển không ngừng của loại thị trường này nói riêng và hội nhập kinh tế quốc tế
nói chung. Một trong những quy định quan trọng liên quan đến đầu tư nước ngoài
trên thị trường chứng khoán chính là xác định địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước
ngoài trong lĩnh vực này. Bởi vậy, cần thiết phải có một nghiên cứu mang tính hệ
thống toàn diện về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng
khoán tại Việt Nam để so sánh với một số nước có thị trường chứng khoán phát triển
điển hình trên thế giới, từ đó vận dụng những kinh nghiệm tích cực của quốc tế vào
thị trường nước ta để đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư, rộng mở cánh cửa đầu
tư hơn nữa cho các nhà đầu tư ngoại, thu hút vốn cho thị trường.
Với những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Địa vị pháp lý của nhà đầu
tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
liên quan đến thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, do tính khá mới mẻ của thị
trường này nên các nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố của thị trường còn bị giới

trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 5/2006, tr. 36 –
41;
- Tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi với bài viết “Một số vấn đề pháp lý về đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập
trung” được đăng trên tạp chí Kiểm sát. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 4/2004,
tr. 9 - 11
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư
của một số nước, báo cáo nghiên cứu.
Và một số bài viết, công trình khoa học khác về Nhà đầu tư nước ngoài trong
lĩnh vực chứng khoán của một số nhà nghiên cứu khác học tập và công tác trong
ngành kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, những tác phẩm đó mới chỉ đề cập đến các khía
cạnh tài chính, chứng khoán chứ không đi sâu tìm hiểu mặt pháp lý. Có thể nói, các
công trình nghiên cứu được kể trên đều đề cập đến vấn đề đầu tư nước ngoài vào thị

Footer Page 9 of 126.

3


Header Page 10 of 126.

trường Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống hóa nhất các quy định luật và thực tiễn áp dụng các quy định này về địa vị
pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán đặc biệt là của các
nước Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc. Do đó, luận văn sẽ nghiên cứu về thị trường
chứng khoán của các nước nêu trên để người đọc thấy được tính đa dạng cũng như
những kinh nghiệm quốc tế mà Việt Nam cần học hỏi, đồng thời đóng góp những
nghiên cứu, tìm hiểu mới mẻ, cập nhật của mình cho bạn đọc.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt
Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt
Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba
nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng.
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một
cơ sở hạ tầng phù hợp. Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về
phần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật. Về lý thuyết và thực
tiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện
kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng
pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển. Ngoài ra, trong quá trình
thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến
như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống
kê.
Tác giả sẽ tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thông qua
các ví dụ cụ thể liên quan đến nội dung nghiên cứu. Bên cạnh đó, so sánh, đối chiếu
các quy định pháp luật với thực tiễn liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán để chỉ ra những điểm hạn chế, không phù
hợp trong các quy định pháp luật hiện hành. Từ đó có những kiến nghị, đề xuất phù
hợp, hiệu quả.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán và địa vị
pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán

Footer Page 11 of 126.

Vì vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu
tài chính của nhau – Đó là thị trường tài chính. Thông qua thị trường tài chính,
nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho
phát triển kinh tế.
Ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân chưa cao và nhu cầu về
vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn. Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn
dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao. Chính vì vậy, thị trường vốn đã ra đời
để đáp ứng các nhu cầu này. Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay
ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn
huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán. Khi một bộ phận các
chứng khoán có giá trị nhất định được phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán
chứng khoán. Và đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là
một bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng
khoán các loại.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về thị trường chứng khoán, có quan điểm
cho rằng thị trường chứng khoán đồng nghĩa với thị trường vốn, có quan điểm cho
rằng thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn, có quan điểm cho

Footer Page 13 of 126.

7


Header Page 14 of 126.

rằng thị trường chứng khoán là giao giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
Nhưng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến nhất như sau: Thị
trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch trao đổi các loại chứng
khoán nhằm mục đích kiếm lời. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ
cấp và thứ cấp. Do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành


Header Page 15 of 126.

phát hành, số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động sản xuất
kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Trong quá trình này, thị
trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh việc
phát triển nền kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư dài hạn của
doanh nghiệp.
Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa
phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát
triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Thứ hai, chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán
TTCK là nơi các chứng khoán được mua bán, trao đổi, bởi vậy nhờ các
chứng khoán các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền hay các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả
năng chuyển đổi thành tiền) là một trong những yếu tố quyết định tính hấp dẫn của
chứng khoán đối với các nhà đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt của chứng
khoán. Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán là chức
năng quan trọng đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách năng
động và có hiệu quả.
Thứ ba, chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình kinh tế
TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình của cả nền kinh
tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường.
Từ đó tạo ra một môi trường cạch tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Thứ tư, giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
TTCK là nơi cung và cầu vốn dài hạn gặp nhau. Trên thị trường chứng
khoán, giá cả các chứng khoán phản ánh sự phát triển các doanh nghiệp nói riêng và
nền kinh tế nói chung, các giá chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang được mở
rộng, nền kinh tế đang tăng trưởng và ngược lại khi giá chứng khoán giảm sẽ cho

chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
-

Nhà đầu tư cá nhân là những cá nhân tham gia mua bán chứng khoán với

mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Những nhà đầu tư này có vốn nhàn rỗi tạm thời muốn
đầu tư để kiếm lời. Khi nền kinh tế còn yếu kém thì các nhà đầu tư thường đưa vốn
của mình vào những lĩnh vực an toàn. Nhưng khi nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng
tốt thì các nhà đầu tư cá nhân lại thường chọn thị trường chứng khoán để đầu tư, vì
thị trường chứng khoán phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, qua đó các nhà đầu tư có
thể thu được khoản lợi từ sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc đầu tư vào thị
trường chứng khoán.
-

Các nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán

chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp

Footer Page 16 of 126.

10


Header Page 17 of 126.

chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng
khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu và
các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm là đa
dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên
gia có chuyên môn và có kinh nghiệm.


Header Page 18 of 126.

hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính [23]. Các tổ chức tài
chính trung gian gồm có: Ngân hàng thương mại, quỹ trợ cấp, công ty tài chính,
công ty bảo hiểm. Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty chứng khoán cũng là một
trong những tổ chức tài chính trung gian.
1.1.3.4. Các tổ chức liên quan đến chứng khoán
Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK
Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do chính phủ của các nước thành lập
với mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường chứng khoán
hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững. Tuy nhiên, mô hình về cơ
quan quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán ở các nước đều có những
điểm khác nhau. Nhìn nhận khái quát có thể thấy có hai mô hình về cơ quan quản lý
Nhà nước đối với thị trường chứng khoán: Một số nước giao trách nhiệm chủ yếu
quản lý về mặt Nhà nước đối với thị trường chứng khoán cho một Bộ của Chính
phủ như ở Nhật Bản, Hàn Quốc... trách nhiệm này được giao cho Bộ Tài chính; một
số nước thành lập cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ như ở Mỹ có Uỷ ban chứng
khoán và giao dịch.
Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là trung tâm giao dịch có tổ chức để
giao dịch các chứng khoán được niêm yết. SGDCK thực hiện vận hành thị trường
thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động
trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, SGDCK cũng ban hành những quy định điều
chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán ở Sở, phù hợp với các quy định luật
pháp về chứng khoán và giao dịch chứng khoán.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công
ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán,
được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà đầu tư

Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán.

-

Hợp tác với chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề có

tác động đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Tổ chức lƣu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh
toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán. Các ngân hàng thương mại, công ty
chứng khoán đáp ứng đủ điều kiện của Uỷ ban chứng khoán sẽ thực hiện dịch vụ
lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán.
Các tổ chức hỗ trợ
Là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng và tăng
cường của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động như: cho vay tiền để
mua cổ phiếu và cho vay chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng. Các tổ
chức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, có một số
nước không cho phép thành lập các tổ chức này.
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh
giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm lực tài chính
của tổ chức phát hành theo những điều khoản đã cam kết của tổ chức phát hành cụ
thể. Hệ số tín nhiệm có thể biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuỳ theo quy định
của từng công ty xếp hạng.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán
Mỗi thị trường đều có những nguyên tắc hoạt động riêng. Đối với thị trường
chứng khoán cơ chế vận hành của nó được dựa trên bốn nguyên tắc hoạt động căn
bản sau: Nguyên tắc cạnh tranh tự do, nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian
và nguyên tắc đấu giá. Việt Nam đưa vào vận hành Trung tâm Giao dịch Chứng


quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán lũng
đoạn thị trường.
Nguyên tắc thông qua trung gian
Đây là nguyên tắc căn bản cho việc tổ chức và hoạt động của thị trường chứng
khoán. Những người muốn mua hay bán chứng khoán không tiến hành giao dịch trực
tiếp với nhau trên thị trường chứng khoán mà phải thông qua các nhà môi giới.
Nguyên tắc này đảm bảo cho các chứng khoán được giao dịch là các chứng khoán

Footer Page 20 of 126.

14


Header Page 21 of 126.

thật, đảm bảo thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, liên tục, ngày càng phát
triển và bảo vệ lợi ích các nhà đầu tư. Bởi lẽ, không phải nhà đầu tư nào cũng có thể
hiểu biết và phán đoán được giá trị thực của từng loại chứng khoán cũng như những
biến động giá trong tương lai của chúng. Những người môi giới chuyên nghiệp với
vốn kiến thức, hiểu biết và kinh nghiệm của mình, dựa trên các căn cứ xác đáng khi
đưa ra những phân tích chứng khoán, sẽ giúp cho nhà đầu tư tránh bị nhầm lẫn hoặc
bị lừa.
Nguyên tắc trung gian trong giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua
các nhà trung gian môi giới (broker) và các nhà kinh doanh chứng khoán (dealer).
Các trung gian môi giới mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa
hồng họ có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ liên quan đến chứng khoán cho khách
hàng như: đại diện cho khách hàng để thương lượng mua hoặc bán chứng khoán, chi
trả cổ tức cho khách hàng, ứng vốn trước cho khách hàng trong các nghiệp vụ mua
bán sau (giao dịch bảo chứng), cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong
việc lựa chọn đầu tư, mua bán chứng khoán. Hoặc, họ chỉ cung cấp một số ít (môi

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán có thể
phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thường, ta có thể xem xét
3 cách thức cơ bản là theo hàng hoá giao dịch trên thị trường, theo hình thức tổ chức
thị trường và theo quá trình luân chuyển vốn. Các phân tích sau đây sẽ thể hiện từng
cách thức phân loại đó.
Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân
chia thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị
trường dẫn suất (thị trường các công cụ phái sinh).
 Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là các

trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành công cụ này là
phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốc và lãi.
 Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ có xác

nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu
trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu
cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công ty khi tài
sản này được đem bán. Cổ phiếu có thời gian đáo hạn là không xác định.
 Thị trường công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoán phái sinh được mua và

bán. Tiêu biểu cho công cụ này là hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn. Thị
trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính. Nó cung
cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà
đầu tư.

Footer Page 22 of 126.

16


trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công ty.
- Thông qua việc định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí
vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở
tham chiếu cho nhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp. Thông

Footer Page 23 of 126.

17


Header Page 24 of 126.

qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ được chuyển đến công ty nào làm ăn có hiệu quả
nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội.
Tóm lại, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ trợ
lẫn nhau. Về bản chất, mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán sơ cấp và thứ cấp là
mối quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ không có thị
trường thứ cấp, đồng thời, thị trường thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển cho thị
trường sơ cấp.
Theo hình thức tổ chức của thị trường
Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách sau:
 Thị trường giao dịch tập trung, thị trường được tổ chức thành sở giao dịch,

tại đây, người mua và người bán (hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa
điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Chính vì vậy,
người ta còn gọi sở giao dịch chứng khoán là sở giao dịch tập trung, nơi giao dịch
mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả.
 Thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường giao dịch phi tập trung (OTC:

Over-The-Counter Market) là thị trường giao dịch của các nhà buôn, những người tạo

ngoài.
Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận
là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu
tổ chức như sau: có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ
quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc
trong quyết định thành lập pháp nhân; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân
khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập. Thông thường một tổ chức được công nhận có
tư cách pháp nhân ở nước nó được thành lập thì cũng được công nhận có tư cách
pháp nhân ở các nước khác. Đối với Việt Nam, pháp nhân nước ngoài là tổ chức
hưởng tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước ngoài và được công
nhận là có quốc tịch nước ngoài. Việc xác định quốc tịch của pháp nhân tạo cơ sở
xác định nội dung quy chế pháp lý của pháp nhân, góp phần kiểm soát các hoạt
động của pháp nhân, bảo vệ an ninh, chủ quyền và lợi ích kinh tế xã hội của nhà
nước nơi pháp nhân đặt trụ sở hoặc hoạt động. Vấn đề xác định quốc tịch của pháp
nhân đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện
nay và pháp luật các quốc gia có quy định khác nhau về vấn đề xác định quốc tịch
của pháp nhân.
Pháp luật của Pháp, Đức và của nhiều nước khác, pháp nhân đặt trung tâm
quản lý ở nước nào thì mang quốc tịch nước đó, không phân biệt nơi đăng ký thành
lập hay tiến hành hoạt động của pháp nhân. Pháp luật của Anh, Mỹ xác định quốc
tịch của pháp nhân theo nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập. Ở Nga và

Footer Page 25 of 126.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status