I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG TH CM ANH
địa vị pháp lý của nhà đầu t- n-ớc ngoài
Trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam
và pháp luật n-ớc ngoài
LUN VN THC S LUT
HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG TH CM ANH
địa vị pháp lý của nhà đầu t- n-ớc ngoài
Trong lĩnh vực chứng khoán theo pháp luật việt nam
và pháp luật n-ớc ngoài
Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó s: 60 38 01 08
LUN VN THC S LUT
HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. Lấ VN BNH
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
......1
C
h
ư
ơ
n
g
1
:
T
Ổ
N
G
Q
U
A
N
V
đ c ....
n
C ......
t
Q ......
k ......
Đ
t ......
......
......
......
......
......
NƯ
......
1
ỚC NGOÀI
......
.
TRONG
...6
2
Việt Nam
2
................
.
................
1
.
2
.
2
................
................
2 .........19
2 Các
1
quy
Thực tiễn về vấn đề địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài
trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam...............................................85
3.2.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề địa vị
pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán
tại Việt Nam ...............................................................................................96
3.2.1.
Các giải pháp thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường
chứng khoán Việt Nam................................................................................99
3.2.2.
Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề
địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán ....101
KẾT LUẬN ............................................................................................................109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................111
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HNX
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
Trang
B
á
ả
n
n
h
g
g
i
3
á
.
k
1
h
ế
g
p
h
c
ợ
ậ
p
n
k
t
ế
h
t
ị
có tỷ lệ
sở hữu
nước
ngoài
khoảng
49%
tính
đến
n
g
à
y
6
/
1
/
2
0
1
tính đến
4
n
B
ả
n
g
3
n
g
3
0
4
9
%
g
8
6
à
y
6
9
2
/
1
/
9
3
2
0
1
nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán đang ngày được chú trọng và trở
thành một trong những vấn đề tâm điểm được công chúng chào đón. Theo ông Vũ Bằng
- chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Việt Nam đang thể hiện quyết tâm nâng hạng
TTCK từ thị trường cận biên hiện nay lên mức thị trường mới nổi sẽ tăng sức hấp dẫn với
các nhà đầu tư quốc tế. Đặc biệt, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật chứng khoán có hiệu
1
lực vào ngày 01/9/2015, trong đó có nội dung quan trọng là tăng tỷ lệ sở hữu của
NĐTNN lên đến 100%.
Đây là một tín hiệu rất đáng mừng vì việc tăng độ mở của TTCK thông qua việc
tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN là biện pháp tăng cường các hoạt động đầu tư nước ngoài
vào TTCK Việt Nam, cũng như là động lực quan trọng để đẩy nhanh lộ trình nâng hạng
thị trường.
Tuy nhiên, để quy định về tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN (nới room) nói riêng
và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam nói chung được thực hiện trên
thực tế, Việt Nam cần sớm hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư
nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán. Đồng thời, xây dựng cơ chế thu hút NĐTNN phù
hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thông qua chính sách tài chính ưu đãi và đơn
giản hóa thủ tục đầu tư.
Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, mới mẻ, chính bởi lẽ đó, Pháp
luật về chứng khoán của nước ta còn một số tồn tại nhất định cần sớm hoàn thiện để
phù hợp với sự vận động và phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và hội nhập
kinh tế quốc tế nói chung. Bởi vậy, chúng ta cần sàng lọc để loại bỏ những nhược
điểm, phát huy những ưu điểm trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, quy định về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước
ngoài trong lĩnh vực chứng khoán tại một số nước trong phạm vi nghiên cứu như Việt
Nam, Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc.
- Phân tích những hạn chế, thiếu sót của các chính sách, quy định pháp luật Việt
Nam về địa vị pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán trên cơ sở kinh nghiệm
quốc tế và thực tiễn áp dụng của Việt Nam.
- Đề xuất phương án nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề địa vị
pháp lý NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chứng khoán là vấn
đề khá mới mẻ trong pháp luật Việt Nam. Hiện nay, vấn đề này đang được quy định rải rác
trong một số văn bản pháp luật như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư và một số văn bản
dưới luật.
3
Đến nay, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến
vấn đề này như:
- Hoàng Văn Thứ (2009), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học. Nghd: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa.
- Lê Anh Tuấn (2010), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực
chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế và hướng hoàn thiện, luận văn thạc sỹ luật học.
Nghd: TS. Lê Văn Bính.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư của
một số nước, báo cáo nghiên cứu.
- Và một số công trình nghiên cứu về Nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực
chứng khoán của các tác giả công tác trong lĩnh vực chứng khoán hoặc học tập, công
tác trong các trường về kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến
địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham
gia của nhà đầu tư nước ngoài. Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới như Brazil,
Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc.
Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện tiếp cận hạn chế, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu
về thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn
trong năm nước điển hình là Brazil, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, tiếp
cận trên phương diện pháp lý.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, học viên sử dụng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương pháp luận đó, học viên
áp dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, tổng hợp, thống kê, phân
tích, so sánh. Học viên đã tổng hợp, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thông
qua các ví dụ cụ thể liên quan đến nội dung nghiên cứu. Bên cạnh đó, so sánh, đối chiếu
các quy định pháp luật với thực tiễn liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước
ngoài trên thị trường chứng khoán để chỉ ra những điểm hạn chế, không phù hợp trong
các quy định pháp luật hiện hành. Từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm tiếp tục bảo
vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài cũng như thu hút đầu tư
cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
6
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn bao gồm ba chương như sau:
Khoản 20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định Quốc tịch của doanh nghiệp
là quốc tịch của nước và vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh.
Tuy nhiên quy định này chỉ bao gồm các doanh nghiệp mà không phải tất cả các pháp
nhân. Song điều khoản này đã không còn được quy định trong Luật doanh nghiệp 2014.
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã thừa nhận nguyên tắc xác định quốc tịch của
pháp nhân tuỳ thuộc vào nước, nơi pháp nhân được thành lập. Các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam là pháp nhân mang quốc tịch Việt
Nam. Những pháp nhân không mang quốc tịch Việt Nam đều được coi là pháp nhân nước
ngoài.
Về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, hiện nay Luật đầu tư 2014 đã phân biệt rõ khái
niệm nhà đầu tư nước ngoài với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để
9
giải quyết những nhầm lẫn, tranh cãi, mâu thuẫn về định nghĩa nhà đầu tư nước
ngoài của Luật đầu tư 2005 và các văn bản dưới luật khác. Theo đó, Nhà đầu tư nước
ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Còn tổ chức kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.
Bên cạnh cách phân loại này, theo tư cách chủ thể, nhà đầu tư nước ngoài có thể
được phân loại thành nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư tổ chức có
số lượng ít hơn nhưng do tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, vị thế kinh doanh nên
họ là lực lượng có vị thế và đóng góp nhiều hơn cho Việt Nam.
Theo thông lệ phổ biến trên thế giới thì nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh
nghiệp theo pháp luật nước sở tại thì coi là nhà đầu tư trong nước, đương nhiên họ có
nghĩa vụ và quyền lợi như doanh nghiệp trong nước, đồng thời được khuyến khích đầu
tư với tỷ lệ cổ phần không hạn chế vào doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, một số
doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực hạn chế thì có thể hạn chế tỷ lệ cổ phần của
nhà đầu tư nước ngoài. Quy định như vậy giúp khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhất là
phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia, thúc đẩy dòng vốn vận động trên
toàn cầu và đóng góp quan trọng cho sự phát triển của một số quốc gia.
Đối với quốc gia đang rất cần thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam thì
vai trò của nhà đầu tư nước ngoài càng trở lên quan trọng.
Từ năm 2005 trở về trước, vai trò của nhà đầu tư nước ngoài không nổi bật trên
thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều này có thể giải thích do hoạt động chưa đạt
mức độ tăng trưởng mạnh của thị trường chứng khoán, cũng như giai đoạn nằm ngang
kéo dài quá lâu của chỉ số chứng khoán đã khiến cho không chỉ nhà đầu tư trong nước mà
cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng không đánh giá cao về tiềm năng hồi phục và phát
triển của giá cả cổ phiếu.
Từ năm 2006 trở đi, nhà đầu tư nước ngoài đã tham gia khá tích cực vào thị trường.
Năm 2006 là một năm bản lề đối với nhà đầu tư nước ngoài. Chỉ riêng trong năm này, đã có
3,050 cá nhân và 239 tổ chức nước ngoài được cấp mã giao dịch, giá trị cổ phiếu do các
nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đạt khoảng 4 tỷ USD, chiếm 16.4% mức vốn hóa của
toàn thị trường. Tính đến tháng 30/04/2013, nhà đầu tư nước ngoài vẫn là những nhà
đầu tư mạnh nhất trên thị trường niêm yết, với những
11
quỹ đầu tư VinaCapital, Indochina Capital, Dragon Capital, IDG Vietnam, PXP
Vietnam, City Group, HSBC, JP Morgan, Deutsch AG,… các quỹ này được đánh giá là
hoạt động thành công trên thị trường Việt Nam [11].
Có thể thấy, khối ngoại có động thái đặc biệt và khác biệt với nhà đầu tư trong
nước, trong đa số trường hợp biến động về giá cổ phiếu, dường như nhà đầu tư nước
ngoài luôn giữ một tư thế độc lập và tách rời hẳn tâm lý đám đông của các nhà đầu tư
Việt Nam. Vì vậy, có những lúc nhà đầu tư Việt Nam đổ xô ra bán thì nhà đầu tư nước
ngoài lại mua vào.
Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài không chỉ có vai trò đem lại nguồn vốn đầu tư
nước ngoài cho quốc gia, thúc đẩy dòng vốn vận động trên toàn cầu mà những quyết
hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ mà theo pháp luật quy định. Năng lực hành
vi của cá nhân là khả năng của chính người đó bằng hành vi của mình thực hiện các
quyền và gánh vác các nghĩa vụ theo pháp luật quy định. Thông thường các quốc gia
quy định năng lực pháp luật của người nước ngoài ngang hoặc tương đương công dân
nước sở tại. Đại đa số các quốc gia xác định năng lực hành vi theo nguyên tắc luật quốc
tịch. Một số nước như Anh, Mỹ xác định năng lực hành vi theo nguyên tắc luật nơi cư
trú.
Bộ luật dân sự 2005 quy định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người
nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch. Người
nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ
trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác (Điều 761). Còn năng lực hành vi dân
sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó
là công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Trong trường hợp
người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Na m thì năng lự c
hành vi dâ n sự của ngư ời nư ớc n goài đư ợc xác định theo pháp luật Việt Nam (Điều
762).
Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) 2015 quy định, năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch. Năng lực hành vi
dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.
Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng
lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo
pháp luật Việt Nam. Viêc xác
c ất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi
c điṇ h cá nhân bi m
dân sự taị Viêṭ Nam theo pháp luật Việt Nam.
13
Với pháp nhân, khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở một
14
1.2.1.2. Nguyên tắc xác định
Theo quy định của pháp luật và phụ thuộc vào mức độ quan hệ giữa các quốc
gia và tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể, các quy định về địa vị pháp lý của người nước
ngoài (thể nhân và pháp nhân) có thể được xây dựng trên nguyên tắc hay các
chế độ pháp lý sau:
Một là, chế độ đãi ngộ quốc gia, là chế độ cho phép người nước ngoài có quyền
và nghĩa vụ tương ứng như công dân nước sở tại trong các quan hệ xã hội nhất định.
Nội dung cơ bản của chế độ đãi ngộ quốc gia là người nước ngoài được hưởng
các quyền dân sự và lao động, cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác tương
đương hoặc bằng với những quyền và nghĩa vụ mà công dân nước sở tại đang được hưởng
và sẽ được hưởng trong tương lai. Ví dụ: trong giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên, người nước ngoài được hưởng quyền và nghĩa vụ như công dân nước
sở tại không phải ở tất cả mọi mặt, người nước ngoài bị hạn chế ở một số quyền nhất
định. Ví dụ: quyền bầu cử, quyền ứng cử, đề cử, quyền hành nghề, học
tập trong lĩnh vực an ninh quốc phòng…
Hai là, chế độ tối huệ quốc. Nội dung cơ bản của chế độ tối huệ quốc là người
nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được hưởng một chế độ mà nước sở tại dành cho
người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài của bất kỳ nước thứ ba nào đang hưởng và
sẽ được hưởng trong tương lai.
Đây là một chế độ pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ kinh
tế, thương mại và hàng hải. Chế độ tối huệ quốc dành riêng cho công dân và pháp nhân
nước này hay nước kia cần phải được quy định rõ ràng và cụ thể trong các Hiệp định quốc tế
(thường trong các Hiệp định thương mại và hàng hải; Hiệp định về
thuế quan và mậu dịch; Hiệp định về thị trường chung hay thị trường tự do…)
Theo chế độ tối huệ quốc thì người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được
hưởng đầy đủ và hoàn toàn các quyền hợp pháp mà một quốc gia đã dành cho và sẽ
dành cho bất kỳ một nhóm người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài nào đang sinh