BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VƯƠNG VĂN THUẬN HÀNH VI ĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ
NHÂN TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VƯƠNG VĂN THUẬN
HÀNH VI ĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN
TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Tóm tắt 1
1.
Giới thiệu 2
1.1.
Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.
Các vấn đề nghiên cứu 3
1.3.
Phương pháp nghiên cứu 4
1.4.
Dữ liệu nghiên cứu 5
2.
Cơ sở lý thuyết và công trình đã công bố 5
2.1.
3.2.1.
Xây dựng thang đo nghiên cứu 16
3.2.2.
Mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin 19
3.2.3.
Phương pháp xử lý dữ liệu 19
4.
Nội dung nghiên cứu 22
4.1.
Thống kê mô tả thông tin nhà đầu tư 22
4.2.
Thống kê mô tả bảng câu hỏi khảo sát 23
4.2.1.
Hành vi đầu tư 23
4.2.2.
4.6.
Mục tiêu đầu tư của nhà đầu tư 43
4.7.
Hành vi giám sát các khoản đầu tư của nhà đầu tư 46
4.8.
Quyết định đầu tư của nhà đầu tư 47
4.9.
Một số khía cạnh khác của hành vi nhà đầu tư 53
5.
Kết quả nghiên cứu 56
6.
Kết luận 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Hàm giá trị lý thuyết triển vọng 9
Hình 2.2 Lý thuyết triển vọng luỹ tiến 10
Hình 3.1 Sơ đồ trình tự nghiên cứu 16
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Biểu diễn AHP hành vi đầu tư 39
Biểu đồ 4.2 Biểu diễn AHP quyết định đầu tư 48
1 Tóm tắt
Giả thuyết thị trường hiệu quả cho rằng tại bất kỳ thời điểm nào tất cả thông tin mới
đều được người tham gia thị trường nắm bắt một cách nhanh chóng. Các thông tin
này được phản ánh vào giá cả thị trường và được nhà đầu tư phản ánh một cách
đúng đắn với tất cả thông tin sẵn có. Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, nhà đầu tư
luôn hành động hợp lý và khách quan. Tuy nhiên trên thực tế, một số nhà đầu tư
nghi ngờ về “sự tồn tại” của thị trường hiệu quả và cho rằng “thị trường không luôn
đầu tư của họ được đưa ra không dựa vào tình cảm hay cảm xúc. Sự lựa chọn của
các nhà đầu tư này nhằm tối đa hoá tỷ suất sinh lợi mong đợi.
Tuy nhiên trong thực tế, thị trường hiệu quả vẫn nhận thấy tồn tại một số nhà đầu tư
có hành vi bất thường gọi là những nhà đầu tư bất thường hay nhà đầu tư gây nhiễu.
Những nhà đầu tư này đưa ra quyết định đầu tư không dựa vào các phương pháp
hoặc mô hình, giả định của kinh tế truyền thống.
Các nghiên cứu của tài chính hiện đại cho thấy tồn tại các yếu tố cảm xúc trong sự
lựa chọn quyết định đầu tư. Bài luận văn này xem xét đến các yếu tố cảm xúc tác
động đến quá trình lựa chọn quyết định đầu tư.
Tài chính hành vi nghiên cứu các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư, mà những
hành vi này có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và giá cả thị trường, nghiên
cứu và làm sáng tỏ các khía cạnh cảm xúc, tình cảm và các nhận thức sai sót ảnh
hưởng đến quá trình ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư.
Trong thực tế, tầm quan trọng của quá trình ra quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá
nhân là không nhỏ, nhưng nhiều nghiên cứu tài chính đã không xem xét đến quá
trình này trong quá trình ra quyết định đầu tư cũng như bỏ qua các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình thực hiện quyết định đầu tư (Hayat, M. Awan, 2011)
Thị trường chứng khoán ở các nước phát triển được xem là kênh huy động vốn chủ
yếu, đồng thời là nơi tìm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư tài chính. Tại Việt Nam,
thị trường chứng khoán còn khá non trẻ so với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Thị trường chứng khoán Việt Nam dễ bị tác động bởi những cú sốc hoặc các
3 thông tin, tin tức, chính những điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường
4 Bốn khía cạnh chính của hành vi đầu tư được nghiên cứu trong luận văn này: sự quá
tự tin (overconfidence); sự lạc quan (optimism); sự tham gia của nhà đầu tư
(investor involvement); thái độ đối với rủi ro (risk attitude). Bài luận văn này, không
chỉ xác định mức độ quan trọng của các khía cạnh hành vi chính trong việc hình
thành hành vi đầu tư của nhà đầu tư, mà còn xác định ảnh hưởng của các yếu tố đối
với từng khía cạnh chính của hành vi đầu tư, ngoài ra bài luận văn cũng nghiên cứu
ba cách lựa chọn khác nhau của nhà đầu tư khi thực hiện quyết định đầu tư đó là
phân tích cơ bản; phân tích kỹ thuật; và dựa vào tâm lý của thị trường, đồng thời
xác định mức độ quan trọng của mỗi phương pháp trong việc ra quyết định đầu tư.
Từ những vấn đề cụ thể vừa nêu, nghiên cứu này giúp hiểu rõ về khía cạnh cảm xúc
và những nhận thức sai sót nếu có của nhà đầu tư trong việc thực hiện ra quyết định
đầu tư, đồng thời lý giải vì sao các nhà đầu tư đã lựa chọn các phương pháp không
hợp lý khi ra quyết định đầu tư. Hơn nữa, các nhà đầu tư cá nhân có thể nhận biết
những hành vi lệch lạc trong quá trình ra quyết định đầu tư, từ đó góp phần cải thiện
hành vi đầu tư và đưa ra các quyết định đầu tư tối ưu hơn.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách
phân tích bảng câu hỏi khảo sát nhà đầu tư. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý
và thực hiện các phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0. Ms.Excel được
dùng để phân tích AHP. Công cụ đánh giá độ tin cậy thang đo dựa vào hệ số
cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng để sàng
lọc thang đo các khái niệm cần nghiên cứu. Mô hình hồi quy đa biến được dùng
để kiểm định mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến. Các phép phân tích
phương sai ANOVA, được dùng để phân tích sự khác biệt giữa các nhóm nhà đầu
tư về hành vi đầu tư, quyết định đầu tư, mục tiêu đầu tư và hành vi giám sát các
economic), đó là những con người được giả định là hợp lý, được đặc trưng bởi các
khả năng xử lý vô hạn đối với bất kỳ thông tin sẵn có, để đưa ra các quyết định hợp
lý.
Các mô hình nghiên cứu về sự lựa chọn hợp lý đã được đơn giản hoá các giả định
nhằm mục đích có thể đưa vào tính toán và xây dựng những định nghĩa “gần đúng”
của sự lựa chọn hợp lý, làm cơ sở cho việc xây dựng lý thuyết hành vi. Tuy nhiên,
6 những “con người kinh tế” này được tìm thấy có những giới hạn về khả năng trong
quá trình ra quyết định (Simon, 1955)
2.1.2. Giả thuyết thị trường hiệu quả
Một trong những cơ sở và nền tảng kiến thức quan trọng trong lý thuyết tài chính
truyền thống là giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH).
Năm 1970, Fama, đã cho xuất bản bài viết nổi tiếng “Efficient Capital Markets: A
Review of Theory and Empirical Work”, trong bài viết này Fama đã xem xét các lý
thuyết và bằng chứng về giả thuyết thị trường hiệu quả. (Sewell, 2011, trang 4).
“Giả thuyết thị trường hiệu quả đưa ra giả thuyết cho rằng tất cả các thông tin đã
được phản ánh vào giá của chứng khoán hoặc giá trị thị trường, mức giá giao dịch
hiện tại của cổ phiếu hoặc trái phiếu trong ngày hôm nay là giá trị hợp lý của chứng
khoán” (Victor Ricciardi và Helen K. Simon, 2000, trang 2).
Fama (1970) đề xuất ba hình thức của thị trường hiệu quả dựa trên mức độ thông tin
được phản ánh trong giá cả chứng khoán. Ba hình thức của thị trường hiệu quả là thị
trường hiệu quả dạng yếu, thị trường hiệu quả dạng vừa và thị trường hiệu quả dạng
mạnh.
tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, …) đôi khi không thể điều chỉnh giá của những công
cụ này về giá trị hợp lý của nó mà còn đẩy đi xa hơn nữa. Đây cũng được xem là
nguyên nhân sâu xa xảy ra các khủng hoảng tài chính.
Điều này cho thấy rằng, giả thuyết thị trường hiệu quả không thể bao quát và giải
thích được tất cả các hiện tượng xảy ra trên thị trường, dù rằng tính “hiệu quả” và
“hợp lý” của giả thuyết vẫn tồn tại. Nguyên nhân vì chủ thể tham gia thị trường là
con người, nên không thể luôn hành động một cách hợp lý vì bị họ ảnh hưởng bởi
yếu tố của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm, chính những yếu tố này dẫn đến họ có xu
hướng hành động không hợp lý.
Do đó các lý thuyết tài chính truyền thống đưa ra chưa thực sự đầy đủ, đòi hỏi cần
phải có một lý thuyết khác bổ sung để có thể giải thích các hành vi không hợp lý
8 trên thị trường tài chính. Việc nghiên cứu hành vi của các chủ thể tham gia thị
trường trong xu hướng biến động trên thị trường tài chính là điều cần thiết.
2.1.3. Lý thuyết tài chính hành vi
Tài chính hành vi là một lĩnh vực mới của tài chính hiện đại nghiên cứu và giải
thích các biểu hiện mang tính tâm lý của con người trên thị trường tài chính, bằng
cách sử dụng và kết hợp các kiến thức thuộc lĩnh vực tâm lý học, xã hội học, tài
chính học để lý giải các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư trên thị trường tài
chính mà các nền tảng kiến thức tài chính truyền thống chưa giải thích được.
Tài chính hành vi nghiên cứu tâm lý nhà đầu tư và những ảnh hưởng của nó tác
động đến thị trường tài chính, về tổng quan, tài chính hành vi cố gắng giải thích các
câu hỏi như: những gì, tại sao, như thế nào, bằng cách nào (what, why, how) của
lĩnh vực tài chính và đầu tư từ góc độ con người.
Nguồn: (Seewell, M (2007) “Behavioural Finance”, trang 3)
Hình 2.1 Hàm giá trị lý thuyết triển vọng
Hàm giá trị trong lý thuyết triển vọng được định nghĩa là lời hoặc lỗ kỳ vọng so với
điểm tham chiếu chứ không phải là giá trị tài sản cuối cùng. Hàm giá trị lõm trong
miền lời và lồi trong miền lỗ.
Điều này nói lên rằng:
- Trong lý thuyết kỳ vọng con người lựa chọn quyết định dựa trên lời hoặc lỗ
- Thái độ đối với rủi ro: con người có khuynh hướng e ngại mất mát trong
vùng lời và chấp nhận rủi ro trong vùng lỗ
10 - Cảm giác thua lỗ tác động mạnh hơn so với niềm vui từ đầu tư thành công.
- Con người đánh giá cao những xác suất nhỏ trong lý thuyết triển vọng.
- Điểm tham chiếu đóng vai trò mô tả các tham số tác động đến việc ra quyết
định.
Lý thuyết triển vọng giúp giải thích một số hành vi không hợp lý như hiệu ứng
ngược vị thế, e ngại thua lỗ, bài toán phần bù vốn cổ phần. (Phan Thị Bích Nguyệt
và cộng sự, 2012)
• Lý thuyết triển vọng luỹ tiến:
Năm 1992, Tversky và Kahneman đưa ra phần bổ sung của lý thuyết triển vọng
bằng lý thuyết triển vọng luỹ tiến. Phương pháp luận mới này sử dụng tính luỹ tiến
hơn là mức độ riêng biệt của quyết định đến sự không chắc chắn cũng như những
rủi ro kỳ vọng với bất kỳ mức độ hệ quả nào. Phương pháp này cũng tính đến mức
độ tăng thêm khác nhau của lợi ích và thiệt hại. Nguồn: (Seewell, M (2007) “Behavioural Finance”, trang 4)
xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác,
khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và
điều chỉnh lại).
Thị trường tồn tại một trong ba điều kiện thì các mô hình của lý thuyết tài chính
hành vi có thể đúng. Nếu tồn tại cả ba điều kiện trên thì việc định giá sai sẽ đáng kể
và kéo dài. (Hồ Quốc Tuấn, 2007).
12 2.2. Các công trình nghiên cứu đã được công bố
Tâm lý học, xã hội học cung cấp một loạt các hiệu ứng xã hội mà giúp hiểu rõ hơn
về hành vi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Các bằng chứng nghiên cứu trước đây cho thấy các nhà đầu tư có những hành vi
không hợp lý trong hoạt động đầu tư của mình. Nhiều nhà đầu tư có xu hướng tin
rằng họ nhận thức tốt và đánh giá cao khả năng của mình hơn so với những người
khác (Shiller, 1998), điều này là biểu hiện của sự quá tự tin, nếu quá tự tin kết hợp
với hoạt động giao dịch quá mức có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán.
Nghiên cứu của Odean (1996, 1999) về hành vi quá tự tin, cho thấy các nhà đầu tư
có hành vi quá tự tin và giao dịch quá mức, họ có thể giao dịch ngay cả lợi nhuận
dự kiến của họ cũng không đủ bù đắp được chi phí kinh doanh. Nghiên cứu của ông
cho thấy nếu bỏ qua chi phí kinh doanh, thì lợi nhuận của những nhà đầu tư này
thực sự giảm đáng kể
Khi phân tích lợi nhuận thu được của 66.465 hộ gia đình trong giai đoạn từ 1991
đến 1996, Barber và Odean (2000) tìm thấy các nhà đầu tư quá tự tin đánh giá cao
các thông tin cá nhân của họ khiến họ giao dịch quá tích cực do đó dẫn đến kiếm
được lợi nhuận dưới mức trung bình
Một nghiên cứu khác của Barber và Odean (2001), lấy nhân tố giới tính đại diện
thông tin và độ chính xác thông tin. Nghiên cứu của ông cho thấy vai trò của tin đồn
trên thị trường tài chính.
Tetlock (2007) nghiên cứu tác động của các tin tức trên phương tiện truyền thông
đối với thị trường chứng khoán bằng sử dụng nội dung của tạp chí Wall Street và
phát hiện rằng các vấn đề bi quan nổi bật trên truyền thông sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất
sinh lợi và khối lượng giao dịch. Những thay đổi tỷ suất sinh lợi thị trường bị ảnh
hưởng bởi tin đồn bi quan được phân tán trong suốt ngày giao dịch, chứ phải tập
trung ngay sau khi thông tin được tiết lộ. Hơn nữa, tỷ suất sinh lợi âm theo sau tâm
lý tiêu cực và được đảo ngược vài ngày sau đó.
Trong một nghiên cứu về hành vi đám đông của Thomas Lux (1995) cho rằng hiện
tượng bong bóng là do sự lan truyền quá trình tự tổ chức giữa các nhà giao dịch dẫn
đến trạng thái cân bằng của giá cả đi chệch khỏi giá trị cơ bản. Hành vi đám đông
của nhà đầu cơ phụ thuộc vào lợi nhuận thực tế. Nếu suất sinh lợi trên mức trung
14 bình, thái độ lạc quan của nhà đầu tư sẽ biểu hiện và hiệu ứng này sẽ ảnh hưởng đến
niềm tin tăng giá của người khác và ngược lại.
Thomas Lux đã thiết lập một hàm mang tính chu kỳ quanh giá trị cơ bản. Theo ông,
việc định giá sai của tài sản xảy ra là do phản ứng tự khuếch đại thái quá của những
nhà đầu cơ dựa trên độ lệch nhỏ từ trạng thái cân bằng.
Ngoài ra ông còn cho rằng còn tồn tại một số yếu tố vi mô có thể giải thích cho
hành vi bầy đàn của nhà giao dịch đầu cơ: những nhà đầu tư này thực sự nhìn thấy
hành động không hợp lý; sự lan truyền có thể được hiểu như là một nỗ lực để thu
hút các thông tin từ những gì người khác làm; danh tiếng có thể thúc đẩy các nhà
đầu tư thông minh đi theo đám đông.
Phương pháp đại diện là một trong những hiện tượng quan trọng của tài chính hành
Operating (RBOC) nắm giữ nhiều cổ phần trong RBOC của họ so với những RBOC
khác, hiện tượng này là bằng chứng cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào
các công ty quen thuộc mà phớt lờ những nguyên tắc của lý thuyết danh mục.
Nghiên cứu của Coval và Moskowits (1999) về hiện tượng lệch lạc địa phương đã
tìm thấy các nhà quản lý của quỹ tương hỗ luôn dành sự ưu tiên đối với các công ty
có trụ sở chính đặt tại địa phương.
Tính toán bất hợp lý là một phần của lý thuyết triển vọng, mô tả con người có xu
hướng đặt các sự kiện vào các tài khoản riêng biệt khác nhau, dựa vào các thuộc
tính bên ngoài mà bỏ qua sự kết nối giữa các tài khoản đó. Chính vì vậy, tính toán
bất hợp lý có tác động đến quá trình ra quyết định của nhà đầu tư (xem thêm của
Thaler 1980, Tversky và Kahneman, 1981).
Một hành vi lệch lạc khác đó là việc nhà đầu tư thích đánh cược các khoản thua lỗ
và nắm giữ các khoản lỗ lâu hơn cũng được nghiên cứu bởi Kahneman và Tversky
(1991)
Hayat, M. Awan và cộng sự (2011) đã tiến hành nghiên cứu khảo sát trên 246 nhà
đầu tư trên thị trường chứng khoán Pakistan để tìm mối liên hệ giữa các yếu tố
quyết định hành vi đầu tư và quyết định đầu tư bằng phân tích hồi quy đa biến.
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có mối liên hệ giữa các yếu tố quyết định
hành vi đầu tư và quyết định đầu tư, cụ thể sự tham gia và quá tự tin có ảnh hưởng
đáng kể đối với tâm lý thị trường, sự tham gia thị trường của nhà đầu tư ảnh hưởng
16 đến phân tích kỹ thuật, thái độ đối với rủi ro và hành vi quá tự tin có liên quan đến
phân tích cơ bản. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy xu hướng tự quy kết của nhà
đầu tư.
hình nghiên cứu
Thu thập và làm sạch
dữ liệu
Kiểm định thang đo Phân tích nhân tố
Kết quả nghiên cứu
Sử dụng thang đo,
bảng câu hỏi của
Hayat, M. Awan
Kết luận
Tiến hành khảo sát
- Thống kê mô tả
- Phân tích phương sai
- Phân tích AHP
-
Phân tích h
ồ
i quy
17 chính được đo lường bằng một số thang đo nhất định. Trong mỗi thang đo lại có
một tập biến quan sát (câu phát biểu) được xây dựng để đo lường các yếu tố của
thang đo.
Các tập biến quan sát cụ thể được đo lường bằng thang đo Likert 7 điểm, 1 = “hoàn
toàn không đồng ý” hoặc “ít quan trọng nhất”, 7 = “hoàn toàn đồng ý” hoặc “quan
trọng nhất”
- Hoãn đầu tư vào thị trường chứng khoán: câu 17B1
- Kế hoạch tăng khoản đầu tư: câu 17B2
- Sự mong đợi giá cổ phiếu tăng: câu 17B3
- Sự hồi phục của chỉ số chứng khoán: câu 17B4
3. Hành vi tham gia: được đo lường bằng hai yếu tố, được thể hiện bằng hai câu
phát biểu 17C1, 17C2
- Kiếm tiền nhanh chóng: câu 17C1
- Hoạt động giao dịch: câu 17C2
4. Thái độ đối với rủi ro: được đo lường bằng bốn yếu tố, được thể hiện bằng bốn
câu phát biểu 17D1, 17D2, 17D3, 17D4
- Sở thích giao dịch rủi ro: câu 17D1
- Lệch lạc sự quen thuộc: câu 17D2
- Chấp nhận rủi ro: câu 17D3
- Tỷ suất sinh lợi ổn định: câu 17D4
• Quyết định đầu tư gồm ba thang đo:
1. Phân tích kỹ thuật: được đo lường bằng bốn yếu tố, được thể hiện bằng bốn câu
phát biểu 18A1, 18A2, 18A3, 18A4
- Thông tin giá cả trong quá khứ: câu 18A1
- Sự biến động giá cả hàng ngày: câu 18A2
- Mô hình, đồ thị và xu hướng: câu 18A3
- Khối lượng giao dịch: câu 18A4
2. Phân tích cơ bản: được đo lường bằng bốn yếu tố, được thể hiện bằng bảy câu
phát biểu từ câu 18B1 đến 18B7