ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ DIỆU QUYÊN
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRONG
LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số
: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Năng
Hà Nội - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Kết luận chƣơng I ........................................................................................................ 37
Chƣơng II. QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU
TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ...... 38
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN .................................................... 38
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1975 đến 1987 .................................................................... 38
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1987 đến 1996 .................................................................... 40
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1996 đến 2006 .................................................................... 44
i
2.1.4. Giai đoạn từ 2006 đến nay .............................................................................. 47
2.2. NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN .................................................................................................................................. 50
2.2.1. Các chính sách và bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị
trường chứng khoán .................................................................................................. 50
2.2.1.1. Chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán ... 50
2.2.1.2. Bảo đảm đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK ........................ 51
2.2.2. Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt
Nam ........................................................................................................................... 56
2.2.3. Quy định về quyền của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 62
2.2.4. Các nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị trường chứng
khoán Việt Nam.........................................................................................................71
2.2.5. Thủ tục tham gia thị trường chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài..........77
2.3. QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ
THÀNH VIÊN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN ............................................................ 80
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 111
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết
Diễn giải
tắt/ký hiệu
ACIA
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN
AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN
AIA
Hiệp định chung về khu vực đầu tư ASEAN
BCTC
Báo cáo tài chính
ĐTNN
iv
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước đòi hỏi phải có một nền tảng kinh tế nói chung và tài chính nói riêng ổn định
và phát triển. Với tư cách là ngành dẫn dắt, hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia đã và
đang có những bước phát triển, cải cách và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy
quá trình đi lên của đất nước. Việc ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam vào
tháng 7 năm 2000 được coi như mốc phát triển quan trọng tất yếu của hệ thống tài
chính hiện đại.
Có thể thấy, thị trường chứng khoán là bộ phận cấu thành không thể thiếu
của nền kinh tế phát triển, đó là bức tranh phản ánh sâu sắc và chính xác sự phát
triển của nền kinh tế quốc gia. Tồn tại rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới tầm quan
trọng của sự phát triển của thị trường chứng khoán trong đó có ba yếu tố cốt lõi là:
Môi trường pháp lý, hàng hóa giao dịch trên thị trường và tình hình chính trị quốc
gia, sự hiểu biết của công chúng về thị trường chứng khoán. Thị trường năng động
này không thể vận hành và vươn lên nếu không có một khung pháp lý cần thiết cho
tổ chức và hoạt động của thị trường.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng hiện nay, mọi thị trường
của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có sự tham gia của một chủ thể quan trọng có tác
động rõ rệt đến thị trường – đó là Nhà đầu tư nước ngoài. Và điều tất yếu đặt ra là
các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách hỗ trợ, ưu đãi và khuôn khổ
pháp lý thích đáng để bảo vệ quyền lợi của nhóm chủ thể này nhằm thu hút vốn đầu
tư.
Với vị trí là quốc gia đang phát triển không ngừng, Việt Nam trong thời gian
gần đây vấn đề thu hút, mở rộng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán
nước ta đang ngày càng được chú trọng và trở thành một trong những vấn đề được
công chúng quan tâm. Đặc biệt mới đây, sự ra đời của Nghị định 60/2015/NĐ-CP của
hạn trong đó có vấn đề về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trên
thị trường chứng khoán. Hiện nay, vấn đề này đang nằm rải rác trong một số công
trình nghiên cứu về lĩnh vực chứng khoán nói chung như:
- Hoàng Văn Thứ (2009), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học. Nghd: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa.
2
- Lê Anh Tuấn (2010), Địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh
vực chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế và hướng hoàn thiện, luận văn thạc sỹ luật
học, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Tác giả Nguyễn Đức Hiến với đề tài “Hành vi nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán Việt Nam”, luận án Tiến sĩ, trường Đại học Kinh tế quốc dân, bảo vệ
thành công năm 2012. Luận án nghiên cứu những lý luận và đo lường các yếu tố
cấu thành hành vi của nhà đầu tư chứng khoán. Tâm lý nhà đầu tư theo trình độ học
vấn. Qua đó khuyến nghị những thay đổi một số chính sách liên quan đến quản lý
điều hành thị trường chứng khoán.
- Tác giả Nguyễn Thủy Anh với đề tài “Minh bạch hóa thông tin trên thị
trường chứng khoán Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án
Tiến sĩ, trường Đại học Ngoại thương, bảo vệ thành công năm 2012. Luận án trình
bày cơ sở khoa học về minh bạch hóa thông tin trên thị trường chứng khoán. Thực
trạng, phương hướng và giải pháp tăng cường minh bạch hóa thông tin trên thị trường
chứng khoán Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
- Tác giả Phạm Thị Giang Thu với bài viết “Một số vấn đề pháp lý về sự tham
gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam” được đăng
trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 5/2006, tr. 36 –
41;
- Tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi với bài viết “Một số vấn đề pháp lý về đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập
có liên quan tới địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán.
- Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp
dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam và
một số nước trên thế giới cụ thể là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc.
- Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến
nghị hoàn thiện pháp luật xác định luật áp dụng về địa vị pháp lý của NĐTNN trong
lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến
địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, thực tiễn tham
gia của nhà đầu tư nước ngoài. Những nội dung chính về địa vị pháp lý của nhà đầu
tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán của một số nước trên thế giới.
4
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về quy định của pháp luật Việt
Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt
Nam và phân tích một số thị trường chứng khoán nước ngoài, giới hạn trong ba
nước điển hình là Brazil, Thái Lan, Hàn Quốc, tiếp cận trên phương diện pháp lý.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng.
Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một
cơ sở hạ tầng phù hợp. Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về
phần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật. Về lý thuyết và thực
tiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện
VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA
NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN
1.1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán
Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và
trở nên đa dạng, phong phú. Người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư,
người thì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời. Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực
tiếp trên cơ sở quen biết, tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng lên
thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không đáp ứng được.
Vì vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu
tài chính của nhau – Đó là thị trường tài chính. Thông qua thị trường tài chính,
nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho
phát triển kinh tế.
Ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân chưa cao và nhu cầu về
vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn. Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn
dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao. Chính vì vậy, thị trường vốn đã ra đời
để đáp ứng các nhu cầu này. Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay
ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn
huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán. Khi một bộ phận các
chứng khoán có giá trị nhất định được phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán
chứng khoán. Và đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là
một bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng
khoán các loại.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm về thị trường chứng khoán, có quan điểm
cho rằng thị trường chứng khoán đồng nghĩa với thị trường vốn, có quan điểm cho
rằng thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn, có quan điểm cho
7
động được một số lượng vốn đầu tư dài hạn. Khi mua chứng khoán do các công ty
8
phát hành, số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động sản xuất
kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Trong quá trình này, thị
trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh việc
phát triển nền kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư dài hạn của
doanh nghiệp.
Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa
phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát
triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Thứ hai, chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán
TTCK là nơi các chứng khoán được mua bán, trao đổi, bởi vậy nhờ các
chứng khoán các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền hay các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả
năng chuyển đổi thành tiền) là một trong những yếu tố quyết định tính hấp dẫn của
chứng khoán đối với các nhà đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt của chứng
khoán. Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán là chức
năng quan trọng đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách năng
động và có hiệu quả.
Thứ ba, chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình kinh tế
TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình của cả nền kinh
tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường.
Từ đó tạo ra một môi trường cạch tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Thứ tư, giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
TTCK là nơi cung và cầu vốn dài hạn gặp nhau. Trên thị trường chứng
khoán, giá cả các chứng khoán phản ánh sự phát triển các doanh nghiệp nói riêng và
Nhà đầu tư cá nhân là những cá nhân tham gia mua bán chứng khoán với
mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Những nhà đầu tư này có vốn nhàn rỗi tạm thời muốn
đầu tư để kiếm lời. Khi nền kinh tế còn yếu kém thì các nhà đầu tư thường đưa vốn
của mình vào những lĩnh vực an toàn. Nhưng khi nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng
tốt thì các nhà đầu tư cá nhân lại thường chọn thị trường chứng khoán để đầu tư, vì
thị trường chứng khoán phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, qua đó các nhà đầu tư có
thể thu được khoản lợi từ sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc đầu tư vào thị
trường chứng khoán.
-
Các nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp
10
chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng
khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu và
các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm là đa
dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên
gia có chuyên môn và có kinh nghiệm.
1.1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán gồm có:
- Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành
lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các quy định khác của pháp luật để thực
hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo giấy phép
do Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp. Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán gồm có:
với mục đích bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường chứng khoán
hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững. Tuy nhiên, mô hình về cơ
quan quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán ở các nước đều có những
điểm khác nhau. Nhìn nhận khái quát có thể thấy có hai mô hình về cơ quan quản lý
Nhà nước đối với thị trường chứng khoán: Một số nước giao trách nhiệm chủ yếu
quản lý về mặt Nhà nước đối với thị trường chứng khoán cho một Bộ của Chính
phủ như ở Nhật Bản, Hàn Quốc... trách nhiệm này được giao cho Bộ Tài chính; một
số nước thành lập cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ như ở Mỹ có Uỷ ban chứng
khoán và giao dịch.
Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là trung tâm giao dịch có tổ chức để
giao dịch các chứng khoán được niêm yết. SGDCK thực hiện vận hành thị trường
thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động
trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, SGDCK cũng ban hành những quy định điều
chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán ở Sở, phù hợp với các quy định luật
pháp về chứng khoán và giao dịch chứng khoán.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các công
ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán,
được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà đầu tư
trên thị trường.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thường là một tổ chức tự quản,
thực hiện một số chức năng sau:
12
-
Đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực chứng khoán.
cường của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động như: cho vay tiền để
mua cổ phiếu và cho vay chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng. Các tổ
chức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, có một số
nước không cho phép thành lập các tổ chức này.
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh
giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm lực tài chính
của tổ chức phát hành theo những điều khoản đã cam kết của tổ chức phát hành cụ
thể. Hệ số tín nhiệm có thể biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuỳ theo quy định
của từng công ty xếp hạng.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán
Mỗi thị trường đều có những nguyên tắc hoạt động riêng. Đối với thị trường
chứng khoán cơ chế vận hành của nó được dựa trên bốn nguyên tắc hoạt động căn
bản sau: Nguyên tắc cạnh tranh tự do, nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian
và nguyên tắc đấu giá. Việt Nam đưa vào vận hành Trung tâm Giao dịch Chứng
13
khoán (TTGDCK) chính là tiền thân của Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), và
vì vậy việc tuân thủ các nguyên tắc này sẽ đảm bảo cho thị trường chứng khoán
phát triển được lành mạnh, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư.
Nguyên tắc cạnh tranh tự do
Thị trường chứng khoán phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự do. Các nhà
phát hành, các nhà đầu tư được tự do tham gia và rút khỏi thị trường. Giá cả trên thị
trường phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh
giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để
bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn
chứng khoán mà họ muốn đầu tư vào. Trên thị trường thứ cấp nhà đầu tư cũng tự do
cạnh tranh để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất.
Nguyên tắc trung gian trong giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua
các nhà trung gian môi giới (broker) và các nhà kinh doanh chứng khoán (dealer).
Các trung gian môi giới mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa
hồng họ có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ liên quan đến chứng khoán cho khách
hàng như: đại diện cho khách hàng để thương lượng mua hoặc bán chứng khoán, chi
trả cổ tức cho khách hàng, ứng vốn trước cho khách hàng trong các nghiệp vụ mua
bán sau (giao dịch bảo chứng), cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong
việc lựa chọn đầu tư, mua bán chứng khoán. Hoặc, họ chỉ cung cấp một số ít (môi
giới từng phần) dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng như làm trung gian mua bán
chứng khoán cho khách hàng hoặc chỉ làm đại diện cho người sở hữu chứng khoán.
Các nhà kinh doanh chứng khoán cũng là những người trung gian mua bán
chứng khoán trên thị trường, nhưng không phải cho khách hàng mà cho chính bản
thân họ, bằng nguồn vốn đầu tư để hưởng chênh lệch giá trong quá trình mua bán.
Bên cạnh đó, các nhà kinh doanh chứng khoán còn đóng vai trò là người tạo lập thị
trường, làm cho thị trường chứng khoán được diễn ra một cách liên tục.
Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và
các lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào
việc xác định giá này. Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự
động. Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực
tiếp đấu giá. Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập
vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác
15
định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao
nhất.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình
thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết
16
Theo hình thức luân chuyển vốn
Theo hình thức này, thị trường chứng khoán được phân thành thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp:
Thị trường sơ cấp (hay thị trường cấp I) là thị trường phát hành các chứng
khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên. Tại thị trường này, giá cả
của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp
làm tăng vốn cho nhà phát hành.
Thị trường thứ cấp (hay thị trường cấp II) là thị trường giao dịch mua bán,
trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển
vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.
Quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp thể hiện trên các giác độ
sau:
- Thị trường thứ cấp làm tăng tính thanh khoản (tính lỏng) của các chứng
khoán đã phát hành. Việc này làm tăng tính ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm
rủi ro cho các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa
chọn, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà
phát hành trong việc huy động và sử dụng vốn. Việc tăng tính lỏng của tài sản sẽ tạo
điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý, làm cơ sở cho việc tăng hiệu quả quản lý
của doanh nghiệp.
Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc chuyển đổi
thời hạn của vốn, từ vốn ngắn hạn sang trung hạn và dài hạn. Đồng thời, tạo điều kiện
cho việc phân phối một cách có hiệu quả. Sự di chuyển vốn đầu tư trong nền kinh tế
được thực hiện thông qua cơ chế “bàn tay vô hình”, cơ chế xác định giá chứng khoán
và thông qua hoạt động thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường thứ cấp.
- Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát hành trên thị
thành thị trường mở và thị trường đàm phán, thị trường giao ngay và thị trường kỳ
hạn. Việc phân loại thị trường chứng khoán sẽ giúp việc phân tích cụ thể hơn vai trò
của thị trường chứng khoán.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cá nhân nước ngoài và tổ chức nước ngoài.
Thứ nhất, về cá nhân nước ngoài. Cá nhân nước ngoài, theo pháp luật của đa
số các nước trên thế giới, là những người không mang quốc tịch của nước sở tại.[16.
Tr119] Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng xác định khái niệm người nước ngoài tại
18
khoản 5, Điều 3, Luật Quốc tịch 2008 như sau: “Người nước ngoài cư trú ở Việt
Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở
Việt Nam”.
Thứ hai, về tổ chức nước ngoài. Tổ chức nước ngoài, theo quan niệm của các
nước trên thế giới, là tổ chức được thành lập theo những quy định của pháp luật
nước này nhưng hoạt động tại nước khác nhằm những mục đích đã được xác định
trước.[16. Tr137] Còn khoản 26 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 của Việt Nam quy
định, tổ chức nước ngoài là tổ chức thành lập ở nước ngoài theo pháp luật nước
ngoài.
Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, một tổ chức được công nhận
là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu
tổ chức như sau: có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ
quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc
trong quyết định thành lập pháp nhân; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân
khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập. Thông thường một tổ chức được công nhận có