Tư tưởng hồ chí minh về dân và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng việt nam - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “DÂN” VÀ VAI TRÒ CỦA
NHÂN DÂN TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG
VIỆT NAM

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Nguyên Việt. Các nguồn tài
liệu được dẫn trích trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả

Nguyễn Thị Thu Trang



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người cộng sản vĩ đại, vị anh hùng giải phóng
dân tộc, chiến sĩ quốc tế lỗi lạc đã đấu tranh không mệt mỏi, hiến dâng cả đời
mình vì tổ quốc, vì nhân dân, vì độc lập tự do cho dân tộc, vì hoà bình và
công lý trên thế giới. Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn cả cuộc đời
mình Người chỉ có duy nhất một mong muốn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn,
ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học
hành” [36, tr. 187]. Nhân dân trong trái tim của Hồ Chí Minh giữ một vị trí vô
cùng quan trọng bởi dân là gốc của nước, là ngọn nguồn sức mạnh, là lực
lượng to lớn của Đảng, của cách mạng nếu không có sự ủng hộ của nhân dân
thì làm sao có thể làm nên sự nghiệp lớn lao.
Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên có tư tưởng hết sức đầy đủ và
đúng đắn về dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng đã chứng minh: nhân dân là người
làm nên những thắng lợi lịch sử. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã
đánh đuổi hai tên đế quốc hùng mạnh nhất, sừng sỏ nhất để giành lại độc lập
tự do cho đất nước, và cũng chính nhân dân lại đem tất cả sức lực, tài năng trí
tuệ, của cải để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng, Người nhận
thấy được rằng sức mạnh của Đảng và nhà nước là dựa trên sức mạnh và sự
ủng hộ của nhân dân cho nên mọi công tác của Đảng đều phải dựa vào dân,
tin tưởng ở nhân dân, phải thu hút trí tuệ, sức sáng tạo của nhân dân, đồng
thời chịu sự giám sát của nhân dân. Dù ở đâu, làm gì Người nhắc nhở mọi
đảng viên đều phải nhớ nước phải lấy dân làm gốc bởi: “Gốc có vững, cây
mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [44, tr. 502]. Và dù ở đâu,


2


Trong phạm vi của luận văn, tôi xin trình bày khái quát một số hướng nghiên
cứu sau đây:
Thứ nhất, nhóm các báo, tạp chí và sách chuyên khảo
Nguyễn Cương: “Triết lý “Lấy sức dân, của dân, tài dân, làm lợi cho
dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 814 (13/8/2010), tr. 38 - 41.
Bài viết đã phân tích một cách sâu sắc triết lý: “Lấy sức dân, của dân, tài dân,
làm lợi cho dân” cuả Hồ Chí Minh. Từ đó vận dụng triết lý ấy trong xây dựng
nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
PTS.Đàm Văn Thọ, PTS.Vũ Hùng: “Mối quan hệ giữa Đảng và dân
trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997. Trong
cuốn sách, các tác giả đã nêu lên khái niệm về dân, những quan điểm, thái độ
khác nhau về dân trong lịch sử phương Đông và phương Tây, cũng như trong
lịch sử Việt Nam. Khi phân tích quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai
trò của quần chúng nhân dân và của cá nhân kiệt xuất, các tác giả đã làm rõ
quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và
nhân dân; những nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
trong tư tưởng Hồ Chí Minh; những luận điểm chủ yếu của Hồ Chí Minh về
Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với dân.
GS.TS Hoàng Chí Bảo: “Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh” (tái
bản), Nxb Chính trị - Hành Chính, Hà Nội, 2011. Cuốn sách đã trình bày quan
điểm của tác giả khi nghiên cứu phương pháp Hồ Chí Minh, tác giả cho rằng
không thể tách rời tư tưởng, phong cách, đạo đức, lối sống với nhân cách của
Người. Công trình này gồm có mười nội dung chính, trong đó, ở nội dung thứ
sáu tác giả có đề cập đến quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân
dân, đó là: Từ “Dân” đến “Dân chủ” và “Dân vận” trong tư tưởng, phương

“Dân là gốc” trong lịch sử dân tộc và sự vận dụng của Đảng ta”. Công trình
này đã khái quát lại tư tưởng chính trị “Dân là gốc” trong lịch sử dân tộc,
phân tích và so sánh tư tưởng chính trị “Dân là gốc” qua các giai đoạn trong
4


lịch sử dân tộc. Phân tích và đánh giá việc vận dụng và phát huy tư tưởng
“Dân là gốc” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cách mạng, từ đó
rút ra ý nghĩa của tư tư tưởng ấy trong giai đoạn hiện nay nhằm đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ ba, các luận văn, luận án triết học
Luận án tiến sĩ: “Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ
Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”,
của Phạm Văn Bính, Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, 2003. Luận
án này đã nghiên cứu hệ thống tư tưởng, phương pháp dân chủ của Hồ Chí
Minh và quá trình vận dụng vào thực tiễn Việt Nam để xây dựng hoàn thiện
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, luận án tiếp tục đưa ra phương
hướng vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong
công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Luận án tiến sĩ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng
nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc hiện nay”, Hà Trọng Thà,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh), 2013. Luận án này đã trình bày cơ sở thực tiễn và tiền đề lý luận cho
sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân. Trên cơ sở phân
tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần
chúng nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc, luận án đã làm rõ
thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ: “Sự phát triển từ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh”, Cao Phan Giang, Đại học Cần Thơ,

trên cơ sở đó làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân” và vai trò
của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

6


3.2. Nhiệm vụ
- Trình bày và phân tích bối cảnh xã hội và những tiền đề cơ bản cho sự
hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân” và vai trò của nhân dân trong sự
nghiệp cách mạng Việt Nam.
- Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về “dân” và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
- Làm rõ ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân” và vai trò của nhân
dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận là những nguyên
lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân
dân trong lịch sử.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận nghiên
cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu
khoa học khác: kết hợp lịch sử với lôgic, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá,
trừu tượng hoá…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề tư tưởng “dân” và vai trò của
nhân dân trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí minh trên một số khía cạnh chủ yếu.
5.2. Phạm vi nghiên cứu

của các bậc tiền bối. Bên cạnh đó là những biến động hết sức to lớn của tình
hình thế giới đã góp phần thúc đẩy tạo những tiền đề cho sự hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về “dân” và vai trò của nhân dân
trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng.
Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương tây có sự chuyển biến mạnh
mẽ từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Nền kinh tế hàng
hoá phát triển mạnh đặt ra yêu cầu bức thiết về vấn đề thị trường, từ đó dẫn
tới những cuộc chiến tranh xâm lược của các nước đế quốc phương tây với
các quốc gia phương đông, nhằm biến các quốc gia này thành thị trường tiêu
thụ hàng hóa, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sức lao động. Đất nước ta lúc
đó cũng không thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Chiến tranh
thế giới lần thứ I (1914 - 1918) nổ ra do mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về
vấn đề thuộc địa hết sức gay gắt. Các nước đế quốc, trong đó có thực dân
Pháp tìm mọi cách trút gánh nặng chiến tranh bằng cách tăng cường khai thác,
bóc lột, đàn áp nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có nước ta.
Đầu thế kỷ XX, V. I Lênin sau khi đã nghiên cứu tìm hiểu kĩ học thuyết
Mác, ông đã bảo vệ và phát triển học thuyết ấy lên một trình độ cao hơn với
việc đưa ra lý luận về một chính đảng vô sản kiểu mới của giai cấp công
nhân, về cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, về con đường và
9


cách thức đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi cách mạng vô sản giành thắng lợi.
Chính những tiền đề lý luận được V.I.Lênin phát triển đã đựợc Hồ Chí Minh
vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta
trong công cuộc đánh đuổi quân xâm lược và xây dựng đất nước sau khi giành
được độc lập.
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vẫn là một xã hội
phong kiến đặc thù với những đặc điểm cơ bản: thứ nhất, nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu tự cung tự cấp chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế; thứ

thuộc địa như trên mà Việt Nam không thể phát triển lên tư bản chủ nghĩa
một cách bình thường, nền kinh tế bị kìm hãm trong vòng lạc hậu, phát triển
què quặt, phụ thuộc vào nền kinh tế chính quốc.
Về chính trị: thực dân Pháp tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với
bộ máy đàn áp nặng nề. Chúng tiếp tục củng cố bộ máy chuyên chế, tước bỏ
mọi quyền lực của triều đình phong kiến, tập trung vào tay người Pháp. Đồng
thời, chúng còn biến giai cấp phong kiến trở thành tay sai, công cụ đắc lực
phục vụ cho những mưu đồ chính trị của mình. Thực dân Pháp kìm hãm tự do
dân chủ, thẳng tay khủng bố, đàn áp, sẵn sàng dìm các phong trào đấu tranh
yêu nước của nhân dân ta trong biển máu. Chúng thi hành chính sách “chia để
trị” với âm mưu làm suy giảm sức mạnh, tình đoàn kết của dân tộc ta, ngăn
chặn sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta. Việc chia nước ta ra làm ba kỳ, mỗi
kỳ lại đặt ra một chế độ cai trị riêng (chế độ nửa bảo hộ ở Bắc kỳ, chế độ bảo
hộ ở Trung kỳ, chế độ thuộc địa ở Nam kì) là hoàn toàn phù hợp với tâm địa
cai trị đó. Thực dân Pháp còn sử dụng những thủ đoạn thâm độc gây chia rẽ,
hận thù giữa ba kỳ Bắc, Trung, Nam, giữa các dân tộc, tôn giáo, các địa
phương.
Về mặt văn hoá: thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách “ngu dân”,
gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, nhằm
kìm chế nhân dân ta trong cảnh ngu dốt để dễ bề cai trị, bóc lột. Mọi phong
trào, hoạt động yêu nước đều bị cấm đoán, đàn áp thẳng tay. Thực dân Pháp
11


xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học. Mặc dù chúng có lập ra những cơ sở
đào tạo nhưng cũng chỉ là đào tạo ra đội ngũ tay sai phục vụ cho chính quyền
thực dân, hay những công nhân lành nghề phục vụ cho chương trình khai thác
thuộc địa. Mặt khác chúng còn dung túng, bao che, thậm chí cổ vũ cho các tệ
nạn xã hội: mại dâm, cờ bạc, nghiện ngập…, reo giắc tư tưởng sùng bái nước
Pháp, coi Pháp là “mẫu quốc”, là người đi “khai hóa văn minh”. Chúng

chính trị độc lập, có đủ điều kiện và năng lực để lãnh đạo cách mạng. Giai cấp
tư sản là con đẻ của chế độ thuộc địa, gồm hai bộ phận: tư sản mại bản và tư
sản dân tộc. Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với chủ nghĩa đế quốc, là kẻ
thù của dân tộc và đối tượng của cách mạng. Tư sản dân tộc có khuynh hướng
kinh doanh độc lập, có tinh thần yêu nước, lực lượng kinh tế nhỏ yếu, lập
trường không kiên định dễ thoả hiệp cải lương khi đế quốc mạnh. Giai cấp
tiểu tư sản gồm nhà buôn nhỏ, chủ xưỏng nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh,
sinh viên… bị thực dân Pháp bạc đãi, chèn ép, đời sống bấp bênh, có lòng yêu
nước, hăng hái đấu tranh, là một lực lượng quan trọng trong phong trào cách
mạng dân tộc, dân chủ ở nước ta.
Như vậy, đầu thế kỷ XX trong xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn
cơ bản là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, mâu
thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Từ đó, đối với bất kỳ phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc nào cũng đều hướng tới mục tiêu là giành độc
lập cho dân tộc và người cày có ruộng, nhiệm vụ độc lập dân tộc là cơ bản
nhất và chủ yếu nhất vì nó phản ánh nguyện vọng bức thiết nhất của cả dân
tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Với truyền thống yêu nước nồng nàn, ngay từ khi thực dân Pháp nổ
súng xâm lược, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống lại quân cướp nước
và bè lũ tay sai bán nước. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã diễn ra các
phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng dân chủ tư
sản, tiêu biểu có phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi phát động (1885 1896), phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884 13


1913), phong trào Đông Du (1906 - 1908), phong trào Duy tân (1906 - 1908)
do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi xướng… Tuy nhiên, do phương
pháp cách mạng sai lầm mà các phong trào đó đã đi đến thất bại. Phan Bội
Châu là một chí sĩ đầy nhiệt huyết và tinh thần cách mạng sục sôi, song cuối
đời bị bắt và bị giam lỏng ở Huế; Phan Chu Trinh đi theo xu hướng cải lương
và mục tiêu của ông cũng không thành.

Minh đã suy ngẫm về nguyên nhân thất bại của những phong trào yêu nước
lúc bấy giờ và nung nấu quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước giành độc lập
cho dân tộc. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, Hồ Chí Minh khi đó lấy tên là Văn Ba
đã rời bến cảng Nhà Rồng trên chiếc tàu Amiral Latuche Tréville với hành
trang là tình yêu quê hương đất nước, là khát vọng tìm hiểu, học hỏi, tiếp thu
nền văn minh các nước tiến bộ trên thế giới để quay về giúp nước, cứu dân.
Hồ Chí Minh đã đến Pháp và rất nhiều các nước ở Châu Á, Châu Âu, Châu
Phi, Châu Mỹ. Đi đến đâu Người cũng nhiệt tình tham gia vào phong trào
công nhân và nhân dân các nước thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa học
tập và hoạt động cách mạng, nghiên cứu các học thuyết cách mạng. Năm
1917, với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế
Cộng Sản đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính từ đây
Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc là con
đường cách mạng vô sản.
Năm 1919, Hồ Chí Minh tham gia hoạt động trong phong trào công
nhân Pháp và gia nhập Đảng xã hội Pháp. Tháng 6 năm 1919, Hồ Chí Minh
thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị các nước đế quốc
thắng trận họp tại Versailes (Pháp) Bản yêu sách gồm 8 điểm yêu cầu các
nước tham gia hội nghị công nhận quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho dân
tộc Việt Nam. Tháng 7 năm 1920, Hồ Chí Minh đọc được bản “Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin.
Tác phẩm đã mở ra cánh cửa tương lai cho vận mệnh của dân tộc Việt Nam,
giúp Hồ Chí Minh tìm ra đường đi đúng đắn cho dân tộc đó là con đường
15


cách mạng vô sản. Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp lần thứ
18 họp tại Tous, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế
Cộng Sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện trên đã đánh
dấu bước chuyển biến quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ

tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Hưởng ứng lời kêu gọi của
Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam đã nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi
nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử thay mặt
Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với nhân dân cả nước
và nhân dân thế giới quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Sau khi đất
nứơc giành được độc lập, Hồ Chí Minh được bầu làm chủ tịch nước đầu tiên
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đã cùng Đảng lãnh đạo nhân dân xây
dựng đất nước, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Tháng 9 năm
1945, thực dân Pháp âm mưu quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.
Chúng đánh chiếm miền Nam rồi chuyển dần xâm chiếm miền Bắc. Hồ Chí
Minh lại tiếp tục lãnh đạo Đảng và toàn dân ta tiến hành cuộc kháng chiến
chống Pháp đi đến thắng lợi vẻ vang với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
(1954).
Hiệp định Géneva được kí kết, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn.
Miền Nam bị đế quốc Mĩ xâm lược với âm mưu biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới. Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân
dân cả nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng
miền Nam tiến tới mục tiêu chung là thống nhất hai miền Nam - Bắc, đưa cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng Lao
động Việt Nam, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo của mình, Hồ
Chí Minh đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng đưa ra những đường lối
17


chiến lược hết sức đúng đắn, chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam đi đến thắng

dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Trong những giá trị truyền thống ấy, đầu tiên phải kể đến chủ nghĩa yêu
nước và ý chí kiên cường, bất khuất đánh đuổi giặc ngoại xâm của nhân dân
ta trong lịch sử. Chủ nghĩa yêu nước luôn là nhân tố hàng đầu trong giá trị tư
tưởng của con người Việt Nam, dường như mỗi người Việt khi sinh ra đều đã
mang trong mình dòng máu yêu nước nồng nàn. Chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam được thể hiện mỗi khi đất nước bị xâm lăng, thì cả dân tộc Việt Nam sẵn
sàng đứng lên hi sinh tất cả để đánh đuổi quân cướp nước. Sinh ra và lớn lên
trong cảnh nước mất nhà tan, được tận mắt chứng kiến phong trào yêu nước
đấu tranh anh dũng của cha anh, chứng kiến sự áp bức, bóc lột tàn bạo của
thực dân Pháp và tay sai đối với nhân dân đã nung nấu rất sớm trong Hồ Chí
Minh lòng yêu nước ,thương dân và ý chí quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước
giải phóng đồng bào. Tinh thần yêu nước đã tiếp thêm sức mạnh để Hồ Chí
Minh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ tìm ra con đường giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống
lấy tinh thần trung quân và ái quốc làm nền tảng, ở đó thần dân phải tuyệt đối
trung thành với vua; bởi lẽ vua đứng đầu cả nước, thần dân trăm họ đều dưới
sự cai quản của vua. Chính tinh thần trung quân ái quốc đó đã làm nên những
trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do và
xây dựng vương triều sau mỗi lần khải hoàn ca chiến thắng quân xâm lược.
Khi chế độ quân chủ không còn hợp thời như triều Nguyễn ở nước ta đương
thời vốn chỉ là một chính quyền bù nhìn, thì vấn đề “trung quân” không còn
giá trị để nhân dân ta trân trọng và trung thành. Do đó, Người đã suy ngẫm rất
nhiều và quyết tâm xóa bỏ chế độ quân chủ, xây dựng một nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa mà ở đó, mọi quyền lợi đều thuộc về nhân dân. Khái niệm
“trung quân” được Người đưa về vị trí khác với nội hàm mới, đó là “trung với
19




hợp nhiều yếu tố tốt đẹp để hình thành nên một nhân cách vĩ đại, biểu hiện
qua sự đau xót, cảm thông khi chứng kiến cảnh đồng bào sống trong cảnh
khốn khổ, lầm than để từ đó Người nung nấu ý chí quyết tâm ra đi tìm đường
cứu nước, cứu dân. Ý chí ấy luôn đồng hành và nâng bước cho Người trên
con đường đầy gian khổ hy sinh bằng truyền thống lạc quan, yêu đời, tin vào
sức mạnh và sự chiến thắng của lẽ phải, luôn tin tuởng vào sức mạnh, khả
năng của bản thân và của cả dân tộc.
Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Lịch sử của dân tộc ta cũng đã có những tư tưởng hết sức sâu sắc và
tiến bộ về vai trò và sức mạnh của nhân dân, coi dân là gốc của nước, có dân
mới có nước. Người Việt Nam ta từ xưa đã có câu: “quan nhất thời, dân vạn
đại”, nghĩa là quan thì chỉ xuất hiện, chỉ trở thành một tầng lớp khi xã hội có
giai cấp, có nhà nước, mỗi một ông quan chỉ tồn tại một thời hạn nhất định so
với sự tồn tại của dân, của xã hội. Suy cho đến cùng thì quan là dân, quan
cũng từ dân mà ra, hết thời thì quan lại làm dân. Dân đã xuất hiện ngay từ khi
có loài người, có dân thì mới có xã hội, mới có nước. Có thể nói, câu nói trên
là một triết lý hết sức thâm thuý, sâu sắc thể hiện sự trường tồn, bất biến của
dân trong bất kỳ chế độ chính trị, xã hội nào.
Vai trò của nhân dân cũng được thể hiện qua các truyền thuyết, sự tích
của dân tộc từ ngàn đời xưa để lại. Đằng sau truyền thuyết “An Dương Vương
và Mị Châu - Trọng Thuỷ” không chỉ là một câu chuyện tình yêu đẹp nhưng
buồn về một nàng công chúa vì quá tin tưởng vào tình yêu dành cho chồng
mà làm bại lộ bí mật quốc gia, khiến đất nước rơi vào tay giặc, bản thân nàng
cũng phải chịu kết cục hết sức đau đớn mà ý nghĩa sâu xa của truyền thuyết
ấy còn nêu lên bài học sâu sắc, rằng nếu biết dựa vào sức mạnh của nhân dân,
không quá chủ quan tin tưởng dựa vào vũ khí thì đã không rơi vào cảnh nước
mất nhà tan. Mỗi người Việt Nam hẳn không ai là không biết đến sự tích
“Thánh Gióng”, cậu bé khôi ngô tuấn tú nhưng mãi đến ba tuổi vẫn không
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status