ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ NHUNG
QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM
CỦA BA NHÀ VĂN
THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2016
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ NHUNG
QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TÁC PHẨM
CỦA BA NHÀ VĂN
THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ HOÀI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
Bảng 3.4. Bảng số liệu thống kê, phân loại các QNTT rào đón............................. 74
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp một số QNTT rào đón đa giá trị.................................... 87
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...............................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................3
3. Ý nghĩa của đề tài…………………………………………………………….4
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ...............................................................4
5. Bố cục của luận văn ..........................................................................................5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................6
1.1. Vấn đề tình thái ..............................................................................................8
1.1.1. Khái niệm tình thái…………………………………………………………6
1.1.1.1. Vấn đề tình thái trong logic học và trong ngôn ngữ học…………......6
1.1.1.2. Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học……..…………………………...8
1.2. Quán ngữ tình thái tiếng Việt .....................................................................12
1.2.1. Vài nét về quán ngữ tiếng Việt…………………………………………12
1.2.2. Khái niệm quán ngữ tình thái tiếng Việt ................................................18
1.2.3. Một số đặc điểm của quán ngữ tình thái tiếng Việt ................................19
1.2.3.1. Đặc điểm về hình thức.....................................................................20
1.2.3.2. Đặc điểm về ngữ nghĩa – chức năng ...............................................23
1.3. Tiểu kết Chƣơng 1 .......................................................................................32
CHƢƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA QUÁN NGỮ TÌNH THÁI
TRONG TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ VĂN THẠCH LAM, VŨ BẰNG, TÔ
HOÀI ........................................................................................................................33
2.1. Đặc điểm về số lƣợng thành tố cấu tạo quán ngữ tình thái .....................33
2.1.1. Kết quả thống kê, phân loại ....................................................................33
3.1.2.1. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để đánh giá .......................... 53
3.1.2.2. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để phỏng đoán – giả định .... 55
3.1.2.3. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để phủ định - phản bác ........ 61
3.1.2.4. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để hỏi ................................... 64
3.1.2.5. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để tỏ thái độ thừa nhận – chấp
thuận ................................................................................................................. 65
3.1.2.6. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để cảnh báo – nhắc nhở ...... 70
vi
3.1.2.7. Nhóm quán ngữ tình thái đưa đẩy dùng để khơi mào ......................... 71
3.2. Đặc điểm của các quán ngữ tình thái rào đón trong tác phẩm của ba nhà
văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài ..................................................................74
3.2.1. Kết quả khảo sát, phân loại.....................................................................74
3.2.2. Phân tích kết quả ....................................................................................75
3.2.2.1. Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm về
lượng ............................................................................................................75
3.2.2.2. Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm về
chất ...............................................................................................................77
3.2.2.3. Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm
quan hệ .........................................................................................................81
3.2.2.4. Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến phương châm cách
thức ...............................................................................................................82
3.2.2.5. Nhóm quán ngữ tình thái rào đón liên quan đến điều kiện và hiệu
quả sử dụng hành động ở lời........................................................................83
3.2.2.6. Nhóm quán ngữ tình thái rào đón lịch sự .......................................84
3.3. Tiểu kết Chƣơng 3 .......................................................................................88
KẾT LUẬN ..............................................................................................................90
điểm, thái độ của ngƣời nói đối với nội dung miêu tả trong câu xét trong mối
1
quan hệ với ngƣời tiếp nhận, với hoàn cảnh giao tiếp. Đặc trƣng này đƣợc thể
hiện qua nhiều cách định nghĩa tình thái khác nhau, tuy rằng ở mỗi tác giả có
cách thể hiện khái quát hay cụ thể, tƣờng minh hay hàm ẩn.
Quan điểm của Benveniste (1966) xem tình thái là “một phạm trù rộng
lớn, nó gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của ngƣời nói
đối với nội dung phát ngôn, với ngƣời đối thoại, những kiểu mục đích phát
ngôn: hỏi, cầu khiến, trần thuật, v v.”. W. Frawley (1992) quan niệm tình thái
là “liên quan đến các thông tin về trạng thái của sự kiện, phản ánh quan hệ về
tính hiện thực, sự đánh giá và độ tin cậy của nội dung một biểu thức” [17, tr.
84 – 85].
J. Lyons (1977) xem “tình thái là thái độ của ngƣời nói đối với nội
dung của mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”.
Theo F. Palmer (1986) cho rằng “tình thái là những thông tin ngữ nghĩa
có liên quan đến thái độ hay sự đánh giá của ngƣời nói về những gì đƣợc nói
ra”, sau đó ông viết thêm “tình thái đạo lý lại liên quan đến tính hợp thức về
đạo lý của hành động do một ngƣời nào đó hay do chính ngƣời nói thực hiện”.
Trong Việt ngữ, vấn đề tình thái cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu nhƣ: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp,
Hoàng Tuệ, Phạm Hùng Việt, v. v.
Chẳng hạn, Hoàng Tuệ đã nhận xét “tình thái là một khái niệm trong sự
phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của ngƣời nói trong hoạt động phát
ngôn tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà ngƣời nói muốn tạo
ra ở ngƣời nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ” [24, tr. 136].
Cao Xuân Hạo cho rằng tình thái của câu đƣợc biểu thị trong cấu trúc
cú pháp cơ bản (mà tác giả gọi là cấu trúc Đề – Thuyết).
2
- Phân tích và mô tả đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa – chức năng của
các QNTT đã thu thập đƣợc nhằm chỉ ra một số đặc trƣng của chung trong
ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong các tác phẩm.
3. Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lí luận: luận văn giúp khái quát đƣợc những đặc điểm về ngữ
pháp, ngữ nghĩa – chức năng của QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn
Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài. Thông qua đó, chúng tôi hi vọng kết quả của
luận văn có thể làm phong phú thêm những nghiên cứu về phong cách sáng
tác của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài.
Về mặt thực tiễn: quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể về QNTT
trong luận văn giúp cho ngƣời ngƣời Việt giao tiếp với nhau lịch sự và đạt
đƣợc hiệu quả cao hơn.
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các QNTT đƣợc sử dụng trong
ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch
Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số thủ pháp và
phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: để khảo sát, thống kê, phân loại các
QNTT trong tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài.
- Phương pháp phân tích và mô tả ngôn ngữ học: là phƣơng pháp chủ
đạo đƣợc sử dụng trong luận văn để phân tích và mô tả đặc điểm hình thức và
ngữ nghĩa chức năng của các QNTT trong các tác phẩm của ba nhà văn đƣợc
lựa chọn.
4
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn dự kiến chia làm 3 chƣơng
1.1.1.1. Vấn đề tình thái trong logic học và trong ngôn ngữ học
Tình thái (modality), một vấn đề rất rộng và phức tạp, đã đƣợc logic học,
ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Logic học đi đầu trong nghiên cứu tình thái.
Ngay từ thời cổ đại, Aristote đã bàn về mệnh đề tình thái, khi đó tình thái gắn với sự
phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trƣng cơ bản của
mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán
với thực tế. Khi đƣa tình thái vào câu nói, với tƣ cách là thành tố định tính cho
mệnh đề, các nhà logic học dựa theo các tiêu chí về tính tất yếu, tính khả năng, tính
hiện thực để phân loại phán đoán. Lúc này, tình thái chỉ đƣợc nghiên cứu ở phƣơng
diện logic học.
Đến 1932, việc đƣa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ mới đƣợc thể hiện rõ.
Trong tác phẩm Linguistique générale et linguistique française, Ch. Bally đã chủ
trƣơng phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ
nghĩa của câu; thái độ của ngƣời nói đối với nội dung ấy. Trong đó, Ch. Bally dùng
thuật ngữ dictum để chỉ nội dung cốt lõi của câu và modus hoặc modalité để chỉ thái
độ của ngƣời nói, tức tình thái [24, tr. 734]. Khi bàn về tình thái, nhà ngôn ngữ học
V. V. Vinogradov cho rằng “tình thái thuộc vào số những phạm trù ngôn ngữ học
trung tâm, cơ bản” và tác giả xem tình thái nhƣ phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại
song song với phạm trù vị tính, biểu hiện những mối quan hệ khác nhau của thông
báo với thực tế. Tác giả còn cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái nhƣ
dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực”. Nội dung thông báo,
có thể đƣợc ngƣời nói hiểu nhƣ là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong
6
quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ đƣợc thực hiện trong tƣơng lai, là điều mà
ngƣời nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó. Còn theo cách định nghĩa của O. B.
Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị tính của câu. Đối lập với các ngôn ngữ biến
nói với những gì đƣợc nói. Vì thế, nó xứng đáng là khung để thảo luận những vấn
đề của tình thái.
J. Lyons (1995) cho rằng tình thái logic đƣợc biểu thị qua khái niệm tính khả
năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tình thái đƣợc nhận thức qua hai phạm trù
cơ bản là tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo lý (deontic
modality). Tình thái nhận thức phải đƣợc thể hiện thông qua tính tất yếu hoặc khả
năng về tính xác thực của mệnh đề, và có liên quan đến tri thức và niềm tin, còn
tình thái đạo lý thì có liên quan với chức năng xã hội của phép tắc hay là nghĩa vụ.
Và ông xem tình thái là “thái độ của ngƣời nói đối với nội dung của mệnh đề mà
câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả”.
Những quan niệm về tình thái nêu trên đã cho thấy cách giải quyết ý nghĩa
của tính tình thái có nhiều điểm khác nhau giữa các tác giả.
1.1.1.2. Vấn đề tình thái trong Việt ngữ học
Hiện nay, trong Việt ngữ học, vấn đề tình thái đã đƣợc nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu, nhƣng chƣa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu toàn diện về
tình thái. Tình hình này có lẽ vì những nguyên nhân sau:
- Trong một thời gian rất dài, tình thái đƣợc xem thuộc lĩnh vực lời nói
(parole) chứ không thuộc ngôn ngữ (langue) theo quan điểm của F. D. Saussure. Vì
tuân thủ sự phân biệt giữa parole và langue nên các nhà nghiên cứu ngữ pháp không
đề cập tới nó. [24, tr. 729]
- Cách hiểu về tình thái trong giới Việt ngữ học còn chƣa thống nhất, thậm
chí có sự hiểu lầm. Cao Xuân Hạo có nhận xét xác đáng nhƣ sau: “Hai chữ tình thái
nếu có đƣợc quan tâm lại thƣờng đi đôi với những định kiến sai lạc. Sự hiểu lầm
phổ biến nhất là nghĩ rằng tình thái tức là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của
ngƣời nói trong khi phát ngôn”. [6, tr. 66]
8
Khảo cứu tài liệu, chúng tôi thấy có hai nhóm tác giả đề cập đến vấn đề tình
điểm chung của các tác giả này đều phân biệt rạch ròi hai phạm trù: ngôn liệu và
tình thái. Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, ở mỗi tác giả có những kiến giải
khác nhau, nhiều khi chƣa sáng tỏ. Dù rằng có những hạn chế nhất định, nhƣng
những kết quả của những công trình này mang lại là rất lớn, giúp giới Việt ngữ học
có thái độ quan tâm đến vấn đề tình thái. Trong đó, đáng chú ý nhất là các tác giả
sau đây:
+ Nguyễn Đức Dân (1976) đã bàn đến vấn đề logic – tình thái trong tiếng
Việt. Sau này (1998) ông đã nêu lên những khái niệm căn bản về tình thái trong
logic học. Tác giả cho thấy mối quan hệ giữa logic tình thái và ngôn ngữ, trong đó
tính tất yếu và tính có thể đƣợc coi là nền tảng của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ.
+ Từ năm 1979, Cao Xuân Hạo đã có bài đi sâu miêu tả, phân tích những
phƣơng tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái qua việc phân tích tiền giả định và hàm ý của
một số vị từ tình thái. Ông còn phân biệt rõ tình thái của hành động phát ngôn và
tình thái của lời phát ngôn. Từ đó, ông cho rằng: “Nội dung của bất kỳ một lời phát
ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình
thái)”. [16, tr. 51]
+ Hoàng Tuệ (1988) cho ngƣời đọc thấy đƣợc những nét khái quát về tình
thái khi bàn về thời, thể, tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tình thái. Trong đó,
ông có phân biệt rõ hai yếu tố khác nhau trong câu tiếng Việt đó là ngôn liệu
(dictum) và tình thái (modus).
+ Đỗ Hữu Châu (1993) cho rằng phạm trù tình thái truyền đạt quan hệ giữa
nhận thức của ngƣời nói với nội dung của câu và quan hệ của nội dung này với thực
tế ngoài ngôn ngữ. Nội dung câu nói có thể đƣợc khẳng định, đƣợc phủ định, đƣợc
yêu cầu hay bị cấm đoán, đƣợc cầu mong hay đề nghị, v. v..
+ Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã cho thấy sự đối lập giữa phạm trù tình thái và
phạm trù ngôn liệu. Tác giả viết: “Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lập
giữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề. Đây là một sự đối lập đƣợc thừa
10
- Các phó từ làm thành phần phụ của vị từ: sẽ, đang, từng, vừa, mới,…
- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, muốn, cố,
đành, được, bị,…
- Các động từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: Tôi e
rằng, tôi nghĩ rằng, tôi sợ rằng,..
- Các động từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành (với những điều kiện về
ngôi, về chỉ tố thời,…) nhƣ: ra lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu,…
- Các thán từ: ôi, chao ôi, ồ, eo ôi,…
- Các tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp tƣơng đƣơng: à, ư, nhỉ, nhé, thôi,
chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,…
- Các trợ từ tình thái: đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, mới,
đã, chỉ,…
- Các kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì…, giá…thì…, cứ….thì….
Đặc biệt trong đó cũng có các tổ hợp từ kiểu nhƣ: nói gì thì nói, nói của đáng
tội, nói khí không phải, nói bỏ ngoài tai,… mà ta thƣờng thấy xuất hiện trong giao
tiếp. Đó là những tổ hợp từ, những lối nói đã tạo thành những đơn vị, khối hay
khuôn cấu trúc tƣớng đối ổn định đƣợc ngƣời nói dùng nhƣ một công cụ chức năng
của những tác tử tình thái tác động vào nội dung mệnh đề theo một kiểu nào đó. Và
chúng tôi tạm gọi những tổ hợp từ trên là quán ngữ tình thái (QNTT) – đối tƣợng
nghiên cứu của luận văn trên ngữ liệu là ngôn ngữ giao tiếp của các nhân vật trong
các tác phẩm của ba nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng, Tô Hoài.
1.2. Quán ngữ tình thái tiếng Việt
1.2.1. Vài nét về quán ngữ tiếng Việt
Quán ngữ (QN) là đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi quan tâm trƣớc hết của
các nhà nghiên cứu từ vựng. Chính vì thế mà đơn vị này thƣờng đƣợc thấy trong
công trình nghiên cứu về từ vựng hơn là trong các sách ngữ pháp. Bản thân thuật
12
tƣợng, tính chất,...chƣa có tên gọi. Ngoài các thí dụ đã nêu, có thể dẫn thêm các
quán ngữ khác nhƣ:“ai cũng biết rằng”, “rõ ràng là”, “chắc chắn là”,…”
[5, tr 74].
Dựa vào đó, chúng tôi đƣa ra lƣợc đồ sau đây:
Ngữ cố định
Quán ngữ
Thành ngữ
(Gần gũi với cụm từ tự do)
Theo lƣợc đồ, QN là đơn vị phân biệt với TN và qua định nghĩa của tác giả,
phân biệt ở đây không chỉ là hình thức của QN mang tính chất của cụm từ tự do cao
mà còn về mặt nghĩa học. Trong khi TN có nghĩa bóng và tính biểu trƣng thì QN,
nhƣ quan niệm của Đỗ Hữu Châu, là đơn vị “rỗng” nghĩa vì nó chỉ có chức năng
dẫn xuất, đƣa đẩy, là đơn vị ngôn ngữ mang tính công cụ nhiều hơn. Thật vậy, khi
một ngƣời muốn bổ sung giữa cái nói rồi với cái định nói nữa, anh ta sử dụng các
“chỉ xuất” diễn ngôn đƣợc làm sẵn hoặc để cho ngƣời nghe có thể “dự báo”, có thể
nắm bắt trƣớc tinh thần phát ngôn, chuyển đổi chủ đề, tránh tình trạng đột ngột, tạo
ý khẳng định, phủ định, tạo hành vi tại lời, v.v.
Chia sẻ tinh thần của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp có cùng ý kiến:
“Quán ngữ là những cụm từ đƣợc dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên
kết, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong cách thƣờng
có những quán ngữ riêng, chẳng hạn các quán ngữ “của đáng tội”, “nói khí vô
phép”, “nói bỏ ngoài tai”, “chẳng nước non gì”, “còn mồ ma”, v.v...thƣờng đƣợc
dùng trong phong cách hội thoại” [10, tr. 101].
Từ định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi phát hiện thêm một đặc
điểm nữa mà sẽ là thiếu sót nếu không đƣa vào đặc tính của QN, đó là sự sử dụng
Ngữ láy đơn nhất
Ngữ láy mô hình
Thành ngữ hòa kết
Thành ngữ hợp kết
Cấu tạo bằng
phƣơng thức láy
Ngữ định danh hòa Ngữ định danh hợp
kết
kết
Chức năng đƣa
Quán ngữ
Cấu tạo bằng
phƣơng thức ghép
đẩy, rào đón, nhấn
mạnh, liên kết
Bảng 1.1. Phân loại ngữ cố định theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp
Dễ nhận thấy rằng QN trong bảng trên của Nguyễn Thiện Giáp có ba đặc
điểm nổi bật:
Ngữ cố định định danh
(Của đáng tội)
(Mặt trái xoan)
16
Qua lƣợc đồ, chúng ta có thể nhận thấy rằng tác giả dù có ý kiến khác và
thuật ngữ khác trong việc phân chia ngữ/cụm từ cố định những tác giả vẫn thống
nhất đặt QN vào một vị trí trong hệ thống cụm từ cố định.
Hữu Đạt có định nghĩa dựa vào nội hàm của thuật ngữ nên suy ý hơi rộng
nhƣng những ví dụ tác giả đã đƣa ra hoàn toàn phù hợp với lớp QN chúng tôi đang
bàn luận: “Theo nghĩa đen “quán” là “quen”. Vậy QN là một loại ngữ cố định đƣợc
ngƣời ta quen dùng. Ví dụ: “nói tóm lại”, “kết quả là”, “rốt cuộc”, “nói một cách
khác”, “ nói gọn lại là”, “trước hết”, “đáng chú ý là”, “không chóng thì chày”,
“mặt khác thì”...[...]. Nhƣ vậy nói khái quát thì QN là loại ngữ cố định đƣợc quen
dùng nhƣng ít hoặc không có tính hình tƣợng [9, tr. 77].
Ý kiến trên bổ sung cho phần nhận định về QN là chúng có ít hoặc không có
tính hình tượng. Thật vậy, với tƣ cách là đơn vị ngôn ngữ không có nghĩa thực mà
chỉ có nghĩa chuyên dụng thì việc đặt ra vấn đề “hình tƣợng” hoặc “biểu trƣng” là
vừa rất khó và cũng không thực tế.
Quan niệm này cũng tƣơng đồng với cách giải thích trong các từ điển tiếng
Việt mà chúng tôi đã tổng hợp. Theo đó, khác với TN, QN có ý nghĩa có thể suy ra
từ các thành tố tạo nên nó một cách trực tiếp. Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý kiến
này.
Ngoài các định nghĩa về thuật ngữ QN mà theo chúng tôi, còn có chỗ mơ hồ
về các ví dụ minh hoạ, hai công trình từ điển tiếng Việt giải thích các QN cụ thể
trong mục từ của mình là “cách dùng khẩu ngữ”, hoặc “dùng ở đầu câu”, hoặc
thƣờng thấy. Nó phụ thuộc vào góc độ mà ngƣời ta chọn để xem xét đối tƣợng. Ở
đây, xin nhấn mạnh lại là tiêu chí đầu tiên và cũng là quan trọng nhất đối với các tổ
hợp từ đƣợc chúng tôi tập hợp để nghiên cứu trong luận văn này là khả năng biểu
đạt các ý nghĩa tình thái. Dùng khái niệm QN của từ vựng học, thực ra chúng tôi
chỉ muốn nhấn mạnh đến tính chất “khối” tƣơng đối ổn định và quen dùng của
chúng mà thôi. Và nhƣ vậy, chúng tôi rút ra đƣợc một số đặc điểm về bản chất của
QNTT tiếng Việt nhƣ sau:
18