Quán ngữ tình thái trong tiếng Việt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VTỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU c ơ BẢN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC G!A
■ ■
QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: CB. 03.12
Chủ trì đề tài: ThS. Đoàn Thị Thu Hà
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
n /4Á'S
Hà Nội - 2005
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
1.
AN-VH
Báo An ninh Văn hóa
2. BKN
Bi kịch nhỏ
3. CN
Chủ ngữ
4. c.n Cũng nói
5.
CSMĐ Cây sồi mùa đông
7. KN Kiếp người
8.
NĐ và TN
Núi đồi và thảo nguyên
9.
PT Phù thủy
10. TĐGTHTTV
Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt
11.

5. Kết cấu của đề tài 11
Chương I: Cơ sở lý luận về tính tình thái. Khái niệm quán ngữ biểu
thị tình thái trong tiếng Việt
12
1. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ
12
2. Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ

21
3. Khái niệm quán ngữ biểu thị tình thái ' 24
Chương II: Đặc điểm hình thức của quán ngữ biểu thị tình thái
trong tiếng Việt 28
Chương này gồm các nội dung sau:
1. Đặc điểm tổ chức hình thức của quán ngữ biểu thị tình thái

28
2. Đặc điếm thái độ cú pháp của quán ngữ biểu thị tình thái thể hiện
qua khả năng cải biến, chêm xen các thành tố nội tại

31
3. Đặc điểm thái độ cú pháp của quán ngữ biểu thị tình thái thể hiện
qua khả năng phân bố vị trí trong cấu trúc câu
33
4. Phân biệt quán ngữ biểu thị tình thái với các thành phần từ ngữ khác
của câu 40
Chương III: Đặc điểm ngữ nghĩa - chức nãng của quán ngữ biểu thị
tình thái trong tiếng Việt 59
1. Đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng của quán nsữ biểu thị tình th á i

59

rốt cuộc p, tóm lại p
6) (Nói) của đáng tội p, cực chẳng đã p, (nói) đừng chấp p, (nói /hỏi)
klu không phái p , (hòi / nói) khí vô phép p, nói trộm vía p
Dè nhận thấy đây là một hiện tượns nsôn nsữ rất phổ biến của tiếng
V iệt. C ác tô h ợ p n à y có thể x e m n h ư m ộ t k iểu đ ơ n vị n g ô n n gữ đư ợ c h ìn h
thành bởi cách lặp đi lặp lại tương đối thườns xuyên, đèu đặn của thói quen
1
thể là một số ít trong số các sự kiện ngôn ngữ chúng tôi nêu trên kia (chủ yếu
thuộc nhóm hai, một phần nhóm một và nhóm năm). Vẫn còn rất nhiều đơn vị
bị bỏ qua cho dù chúng có thể có cùng bản chất với những đơn vị đã được các
tác giả này nói đến. Điều này thực ra cũng dễ hiểu, bởi lẽ đối với các kết cấu
có tổ chức phức tạp như: biết đâu chừng, chẳng có lẽ p, theo tôi thì p, như ỷ
tôi thì p, gì thỉ gì p, dù có thế nào đi nữa p, dù thế nào mặc lòng p, p đứt đuôi
đi rồi, cứ làm như là p, công bằng mà nói p, nói sai đừng chấp p, nói khí
không phải p, nói trộm vỉa p thì khó mà phân chúng vào một ô từ loại nào
cho thỏa đáng, nếu không muốn nói là không thể. Thêm nữa, nếu xem xét kỹ
thì việc xếp các từ không, chưa, chẳng, dạ, vâng vào chung nhóm với các
đơn vị đang xét như các tác giả Việt Nam vãn phạm giáo khoa thư đã làm
cũng là không thỏa đáng nếu không muốn nói là sai lầm bởi chúng thuộc
nhữns kiểu nhóm đơn vị ngôn ngữ có đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp và cả ngữ
dụng khác nhau về bản chất. Tóm lại, theo hướng nghiên cứu này, những kết
quả thu được thực sự còn quá nghèo nàn, vai trò tác tử tình thái của nhữns đơn
vị này hầu như hoàn toàn bị bỏ qua. Căn nguyên của sự hạn chế này thực ra
cũng khôns lấy gì làm khó hiểu, bởi tất cả những nghiên cứu này đều mang
đậm hơi hướns thiên vị một cách cố hữu đối với hình thức biểu đạt. Theo đó,
các loại tình thái nếu có được để mắt tới thì tất yếu cũng được miêu tả và gọi
tên theo những đặc trưng của cái biểu đạt (khỏi ngữ, phó từ phủ định, ngữ khí
từ, phó từ, phạm trù thì, thể, phó động từ, trợ từ, tiểu từ, liên từ ) và nhiều khi
những từ biểu đạt tình thái được liệt vào loại hư từ, trone khi nshĩa của chúng
nhiều khi phải diễn đạt bằng cả một câu hay một tiểu cú sỏm nhiều thực từ

đạt ý nói q uy ế t ch ắ c [30 ,1 28 ]. C ũn g với tinh thầ n này , cá c tác g iả V i ệ t N a m
v ă n p h ạ m g iá o k h o a th ư ( 1 9 4 2 ) đ ã x ế p các đơ n vị như: c ó lẽ , d ễ th ư ờ n g , v ị tấ t
chung với nhóm các từ: không, chưa, chẳng, đừng, quyết, ắt, dạ, váng thành
một nhóm gọi là trang tư chỉ V kiến - làm rõ ý kiến phủ định, xác định hay
hoài nghi [33, 112]. Còn những kết cấu kiểu: Huống chi, hax là, song lẽ
được xèp vào nhóm các ỉièn từ cùns với mà, thì, và, hoặc [33 118]
[4 1 ,5 8 9 -5 9 1 ].
K h ôn g k h ó để n h ậ n th ấ y rằ n g h ư ớ n s n g h iên cứu này còn có nh iều bấ t
cập. Trước hêt là phạm vi đối tượng được khảo sát sẽ rất hạn chế. Nó chỉ có
2
thể là một số ít trong số các sự kiện ngôn ngữ chúng tôi nêu trên kia (chủ yếu
thuộc nhóm hai. một phần nhóm một và nhóm năm). Vẫn còn rất nhiều đơn vị
bị bỏ qua cho dù chúng có thể có cùng bản chất với những đơn vị đã được các
tác giả này nói đến. Điều này thực ra cũng dễ hiểu, bởi lẽ đối với các kết cấu
có tổ chức phức tạp như: biết đâu chừng, chẳng có lẽ p, theo tôi thì p, như ý
tôi thì p, gì thì gì p, dù có thế nào đi nữa p, dù thế nào mặc lòng p, p âíct đuôi
đi rồi, cứ làm như là p, công bằng mà nói p, nói sai đìùig chấp p, nói khí
không phải p, nói trộm vía p thì khó mà phân chúng vào một ô từ loại nào
cho thỏa đáng, nếu không muốn nói là không thể. Thêm nữa, nếu xem xét kỹ
thì việc xếp các từ không, chưa, chẳng, dạ, vâng vào chung nhóm với các
đơn vị đang xét như các tác giả Việt Nam văn phạm giáo khoa thư đã làm
cũng là không thỏa đáng nếu không muốn nói là sai lầm bởi chúng thuộc
nhữne kiểu nhóm đơn vị ngôn ngữ có đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp và cả ngữ
dụng khác nhau về bản chất. Tóm lại, theo hướng nghiên cứu này, nhữns kết
quả thu được thực sự còn quá nghèo nàn, vai trò tác tử tình thái của những đơn
vị này hầu như hoàn toàn bị bỏ qua. Căn nguyên của sự hạn chế này thực ra
cũng khôns lấy gì làm khó hiểu, bởi tất cả những nghiên cứu này đều mang
đậm hơi hướns thiên vị một cách cố hữu đối với hình thức biểu đạt. Theo đó,
các loại tình thái nếu có được để mắt tới thì tất vếu cũng được miêu tả và 2ỌÍ
tên theo những đặc trưng của cái biểu đạt (khởi ngữ, phó từ phủ định, ngữ khí

khác thì Nguyễn Kim Thản cho đó là thành phần có tác dụng biểu thị sự
c h u y ể n tiếp đ o ạ n v ăn [41, 22 5] và tro n s cô n g trìn h x u ất bả n n ă m 1991, ôn g
gọi c h ú n g là tra n g n s ữ ch u y ể n tiếp [42, 578]. N h ó m I.S .B y strov, N g uy ễ n T ài
C ẩn, N .V .S tan k ê v ic h (1 9 7 5 ) đ ư a ra k h á i niệm th à n h p h á n x e n kẽ đ ư ợ c h iể u là
n hữ n g từ n g ữ biể u thị m ố i q u a n hệ g iữ a n g ư ờ i nó i với n ộ i d u n s p há t n g ô n ,
th ư ờ n s đứ ng ờ đ ầu câu h oặ c trư ớ c c hủ n s ữ và vị n g ữ. V í dụ:
1) Ước gì tôi thấy được đồng chí tiểu đội trưởng của tôi nhỉ.
2) Đơn vị có lể sắp vào rừng lấy nứa.
T h e o họ, n h ữ ng từ n g ữ n ày kh ô n g th a m 2Ía v ào c ấ u trú c câu, n sh ĩa là
k h ô n g có qu an hệ n g ữ p h áp với m ộ t th à n h p h ầ n n à o c ủ a câ u [d ẫn theo 4 5 , 38].
K hi n g hiên cứ u c ấ u trúc c ú p h á p c âu tiế n g V iệ t, D iệp Q u a n g B an (1 9 8 7 ) c ũ n g
dùng tên gọi phu ngữ câu chỉ đỏ tin câv để chỉ nhữns tổ hợp kiểu: có lẽ là,
chắc hẳn ỉà, tất nhiên là Ví dụ:
1) Có lẽ lù chiều nay mưa.
2) Tất nhiên là ông ấy sẽ đến.
4
3) Chắc hẳn là ông ấy bận.
Còn thuộc vào nhóm phu ngữ câu chỉ ý kiến ià những tổ hợp mà theo
ông phần lớn đư ợc làm thành từ những quán ngữ, chúng có thể đứng trước
nòng cốt câu hoặc sau chủ ngữ và trước vị ngữ [1,197]. Ví dụ:
1) Nói trộm bóng, từ ngày nó lên bốn, nó hóm đáo để.
2) Nói của đáng tội, mẹ con tôi cũng chẳng muốn đi.
3) Cứ như ý ông ấy thì làm như vậy là được rồi.
4) Theo chỗ tôi biết thì anh ấy đang bận một việc khác.
Ông cho rằng nội dung ý nghĩa chung của hai loại phu ngữ càu này
là cùng biểu thị ý nghĩa tình thái chủ quan được hiểu là mối quan hệ thái độ
của người nói đối với nội dung của phần còn lại trong câu [1, 194].
Theo cách nhìn nhận của Lưu Vân Lăng về cấu trúc câu tiếng Việt
thì những kết cấu dẫn trên được xếp vào nhóm các gia tố hỗ trơ (thành tố thêm
vào ngoài phần nòng cốt). Ví dụ:

câu luôn luôn đứng sau nòng cốt ( ) không tham gia vào phân đoạn thực tại
câu. V í dụ:
1) Được vào đây hát, họ thích mê rồi còn gì. (Nhất Linh)
2) Cô vào trong nhà tôi thì hơn. (Nhất Linh)
3) Cha An Nam thì chỉ quen đến An Nam, như lão huyện Yên Mô, lão
thương tá là cùng [45, 133].
4) Nó lại lấv cả quần áo mang đi mới chết.
5) Kia kia, mày trông người ta đi chân không còn được nữa là
[45. 139].
ơ càu có nòns cốt kép đơn giản hay phức tạp, tinh thái ngữ có thể
ch iế m vị trí c u ố i m ỗi v ế câu. V í dụ:
- Những lúc ấy đáng lẽ khêu gợi lắm thì phải song tức thay nó chí là
n h ữ n g bức tran h m ầ u , ph o tượ ng trán g đầy bụ i b ặm . ( N su v ễ n c ỏ n s H oan )
[45, 133].
Mặc dù đây đó có nhữnơ điểm chưa thống nhất trons cách phân loại
cũng như dán nhãn cho các kiểu tổ hợp đã nêu trên giữa các tác giả vừa trích
dẫn, song họ có một điểm chung là đã phát hiện ra các kết cấu này có chức
năng nhất định trong việc bổ sung ý nghĩa tinh thái cho cáu. Tuy nhiên, trong
6
khuôn khổ miêu tả của mình, tầm quan trọng của vấn đề này chưa được các
tác giả đánh giá đúng mức. Các tổ hợp này chủ yếu mới được xem xét trong sự
giới hạn ở phạm vi cấu trúc nội tại của câu trên bình diện tĩnh tại. tách rời khỏi
ngữ cảnh giao tiếp hiện thực. Những nhân tố thuộc phạm vi ngữ dụns như
người nói, người nghe, ý đồ, tình cảm, ý chí, thái độ đánh giá cùa những người
tham gia giao tiếp đối với hiện thực khách quan cũng như với nội dung mà câu
biểu thị hầu như chỉ được nhắc đến một cách sơ lược. Tron
2
khi trên thực tế,
đây mới chính thực là những yếu tố cần yếu phải được chú trọng khi bàn đến
vấn đề tình thái. Điều này dẫn đến việc giải quvết các hiện tượng ngôn ngữ

tôi nhận thấy ý nghĩa tình thái và các phương tiện biểu thị ý nshĩa tình thái
(trong đó có một số tổ hợp mà chúng tôi đã dẫn trên đây) bước đầu đã được
chú ý nghiên cứu theo hướng hoạt động chức năng, gắn liền với các tinh
huống và ngữ cảnh hiện thực, với mục đích ý đồ của người nói và sự tác động
liên chủ thể giữa những người tham gia siao tiếp. Những kết quả nghiên cứu
theo xu hướng này là sự bổ sung hết sức quan trọng và có giá trị cho các
nghiên cứu có trước theo hướng ngữ pháp hình thức như đã trình bày, khắc
phục được tính phiến diện và đơn giản hóa trong nshiên cứu tình thái của
tiếng Việt.
Mặc dù đã có những thành tựu đáng kể nhất định trons việc nghiên
cứu chỉ ra các kiểu loại ý nghĩa tình thái như vậy, song ở các công trình này.
phạm vi đối tượng biểu thị tinh thái được bàn đến nhìn chung còn hạn hẹp,
thường chỉ là một nhóm phương tiện gắn liền với đặc điểm từ loại hoặc một
kiểu cấu trúc nhất định. Do vậy những nshiên cứu mới chỉ dừng lại ở những
quan sát đơn lẻ. Tuv nhiên, cũng xin nói nsay răng đây là một hạn chế ít
nhiều mang tính khách quan, khó tránh khỏi bởi đối tượng được bàn đến phải
chịu sự chế định của khuôn khổ, phạm vi nghiên cứu cũng như cái khuns lý
thuyết được lấy làm cơ sở cho việc nghiên cứu của từng tác giả. Tóm lại thì
trên thực tế, chưa có công trình nào tập trung đi sâu nghiên cứu một cách đầy
đủ, có hệ thống đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa - chức năng, điều kiện sử dụns
các tổ hợp mà chúng tôi đã dẫn với tư cách tác tử biểu thị ý nghĩa tình thái.
Đày thực sự là một địa hạt xứng đáng cần được tiếp tục nshiên cứu, ùm hiểu
đầy đủ, sâu hơn và toàn diện hơn nữa để đi đến nhữnơ kết luận thỏa đáns,
2
Óp
phần hoàn thiện từng bước bức tranh toàn cảnh về vấn đề tinh thái của tiếng
Việt.
Với nhận thức như vậy, chúns tôi đã chọn việc tìm hiếu đặc điếm của
quán ngữ biếu thái tình thái trong câu tiên
2

luận lẫn ứns dụng thực tiễn. Để tiện cho việc trình bày, bắt đầu từ đâv. chúnơ
tôi qui ước gọi các quán ngữ biểu thị ý nghĩa tình thái là quán nsữ tình thái và
viết tắt là QNTT.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đé tài.
Khi chọn thực hiện đề tài này, chúns tôi đặt ra những nhiệm vụ sau:
2.1. Xác lập một danh sách các QNTT thu thập được (xếp theo thứ tự
chữ cái) kèm theo sự giải thích ngắn sọn ý nghĩa tình thái mà chúng biểu thị
và điều kiện dùng (trong trường hợp cần thiết) nhãm cuns cấp tư liệu cho
những người có quan tàm đến vấn đề.
9
2.2. Bước đầu phân tích, miêu tả những đặc điểm cơ bản của chúng về
hình thức cũng như về ý nghĩa - chức năns xét trong mối quan hệ với nội dung
mệnh đề và tình huống giao tiếp. Trên cơ sở đó, tiến hành phân loại, xếp
nhóm các QNTT đổng thời chỉ ra sự chế định của khuna tình thái với nội
dung mệnh đề.
3. Ý nghĩa của đề tài.
Đề tài có thể nói là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu chức
năng ngữ nghĩa của các QNTT tronơ tiếng Việt. Với việc miêu tả một cách cơ
bản, có hệ thống kiểu đơn vị ngữ nghĩa này, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ có
những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu tính tình thái cũng như các
phương tiện biểu thị tình thái của tiếng Việt, làm cho vấn đề phức tạp và còn
tương đối mới mẻ này trở nên sáng rõ và đầy đủ hơn.
Việc chỉ ra đặc điểm hình thức, ngữ nghĩa - chức năng, cảnh huống sử
dụng các QNTT. trong một chừng mực nào đó, cũng siúp ích cho việc dạy
ngữ pháp trons nhà trường, đặc biệt cho người nước nsoài học tiếng Việt (tất
nhiên là ở một trình độ phù hợp).
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là nguồn tư liệu có giá trị nhất định
làm tiền để cho việc tiến hành nghiên cứu, so sánh, đối chiếu hệ thống QNTT
tiếng Việt với các n
2

3. Đặc điểm thái độ cú pháp của quán ngữ biểu thị tình thái thể hiện
qua khả năng phân bố vị trí trong cấu trúc câu.
4. Phàn biệt quán ngữ biểu thị tình thái với các thành phần từ nsữ
khác của càu.
Chương III: Đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng của quán ngữ biểu thị
tình thái trong tiếng Việt.
1. Đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng của quán n
2
ữ biểu thị tinh thái.
2. Các kiểu quan hệ thường gặp về nsữ nghĩa - chức nănơ của quán
ngữ biểu thị tình thái với nội dung mệnh đề của câu.
3. Đặc trưns cảnh huống sử dụng của quán ngữ biểu thị tinh thái.
11
CHƯƠNG I
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỂ TÍNH TÌNH THÁI
KHÁI NIỆM QUÁN NGỮ BIÊU THỊ TÌNH THÁI
1. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ.
1.1. Suốt một thời gian dài, trong giới ngôn ngữ học tổn tại phổ biến
cách hiểu "tình thái là tình cảm, thái độ của nsười nói đối với điều được nói
ra". Vào thời điểm này, không cần bàn cãi nhiều cũng có thể nhận thấy cách
hiểu trên còn mang tính chủ quan, chung chung và phiến diện. Nó chỉ đứng về
phía người tạo phát ngôn và chỉ giới hạn ở phạm vi quan hệ giữa người nói với
cái được nói ra trong câu. Hiểu như vậy, vô hình chung chúng ta đã làm thu
hẹp. nếu không muốn nói là làm sai lệch nội hàm của khái niệm này.
Cần nói ngay rằng, nhận thức về tính tình thái là một vấn đề mang đầy
tính thử thách. Nó tùy thuộc vào việc chúng ta nhìn nhận tính tình thái về cơ
bản có cơ sờ ở ngôn ngữ hay triết học? "Tinh thái là gì?". Càu hỏi này sản sinh
ra vô vàn câu trả lời tùy vào hướng tiếp cận mà mỗi nhà nghiên cứu lựa chọn
cho mình. Tuy nhiên, có lẽ không ai phản đối với nhận định rằng đây là phạm
trù cơ bản nhất nhưng cũng là mơ hồ, khó nắm bắt nhất cả trons ngôn ngữ lẫn

d) Phi chân lý (Non truth): Giả hiệu (False). [53, 128].
Do chỗ chỉ quan tâm đến giá trị chân - ngụv của mệnh đề, trừu tượng
h ó a v à gạt b ỏ vai trò c h ù q u a n của n gư ời n ói cù nơ n h iều n h â n tố k h á c n hư
m ục đ ích , n h u cầu, ý chí, thái độ , đán h g iá c ủ a n gư ờ i n ó i c ũ n g n h ư n sư ờ i tiếp
n h ận nê n "cái âm g iai tình th á i logic ch ỉ g iới h ạ n tro n g tín h h iện th ự c, tín h tất
vếu và tính khả nãns với những mức độ khác nhau của tính chất ấy và sự phối
hợp g iữ a các tính ch ất ấy" [25, 50]. N ó i c á c h k h á c , tình th ái tro n s logic chỉ
duy nhất liên quan đến phạm trù tình thái khách quan. Các ý nshĩa tình thái
được m iê u tả cũ n g chỉ d uy n h ấ t xo ay q u a n h m ố i q u an h ệ giữ a nộ i du n g cù a
điều đ ư ợ c th ô n g b á o v ớ i thực tế. N ói n h ư v ậy k h ô n s có ng h ĩa đ âv là đ iể m h ạn
c h ế củ a logic tìn h th á i c ần p h ải phê p h án m à n g ư ợ c laị, x ét c h o cù n s, đ ặc tính
này củ a lo e ic tìn h th á i là c ầ n thiết để nh ữ ng vấn đề c ủ a lo s ic họ c k h ô n
2 trờ
thành vấn đề của những ngành khoa học khác.
T ro n g ng ô n ngữ , các tìn h thái m ặc dù p h ần lớn đều trực tiếp h o ặc siá n
tiếp có liên quan đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả nãns (vốn là ba
13
phạm trù đã được tình thái logic quan tâm nghiên cứu từ làu) nhưns khôns thể
phủ nhận là chúng vẫn làm thành một phổ đa dạns về màu sắc. phonơ phú về
cách biểu hiện hơn nhiều so với tinh thái trong logic. Lý giải điều này,
T.Givon đã chỉ ra rằng đó là bởi " trong ngôn ngữ của con người, tính tình
thái đã được nhìn nhận và lý giải từ góc độ dụng học với nhửns sờ chỉ rõ ràng
về người nói, người nghe, với sự quan tâm đến ý đồ mục đích, giao tiếp của
họ" [53, 129]. Chính góc độ nhìn nhận, lý giải này làm nên điểm khác biệt căn
bản giữa tình thái trong logic và tình thái trong ngôn ngữ. là cơ sờ cần vếu cho
sự phân biệt tình thái khách quan với tình thái chủ quan.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói ngay rằng không phải naay từ đầu các
nhà ngôn ngữ học đã ý thức được như vậy. Trên thực tế, trons một thời sian
tương đối dài, việc xác lập một đường ranh giới dứt khoát giữa ngôn ngữ và lời
nói của F.D.Saussure đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến khoa học ngôn ngữ nói

biệt ngôn ngữ tự nhiên với hệ thống tín hiệu ở động vật". [18, ]. Từ sự "tỉnh
ngộ" đó, người ta bắt đầu nghiên cứu chúng trong ngữ nshĩa, cú pháp, nsữ
pháp chức năng và trong lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Ở những khuynh hướng,
trường phái ngôn ngữ khác nhau, khái niệm tình thái được hiểu không giống
nhau. Do vậy mà xung quanh vấn đề tình thái trong ngôn ngữ cho đến nay vẫn
đang còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm, cách hiểu chưa toàn toàn thống nhất
giữa các nhà nghiên cứu. v ề điều này, v . z Panfilov đã từng có nhận xét rằng
"khổns có phạm trù nào mà bản chất ngồn nsữ học và thành phần các ý nshĩa
bộ phận lại sây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tính
tình thái" [dẫn theo 45, 215].
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xin trình bày một số quan niệm
phổ biến đã được nhiều người chấp nhận và lấv đó làm cơ sở lý thuyết cho
việc giải quyết những vấn đề tiếp theo.
Ảnh hưởns sâu sắc nhất đến lv thuyết tình thái trước hết phải kể đến
nhà ngôn nsữ học nổi tiếng người Pháp Ch.Bally. Theo ông. trong nội duns
ngữ nghĩa của câu, cần thiết phải phân biệt hai yếu tố khác nhau đó là Dictum
và Modus. Dictum được hiểu là nội dunơ biểu hiện làm thành cốt lõi nsữ
nghĩa của câu miêu tả một sự tình nào đó của thế giới, còn Modus là nhữns
thái độ, cách đánh giá khác nhau của người nói đối với nội dung được biểu
hiện cũns như mối quan hệ siữa nội dung ấy với hiện thực trong cách nhìn
nhận cùa chủ thể phát ngôn rằng đó là cái m ons muốn hav khỏns mons
muốn, cái hiện thực hav phi hiện thực, gắn với mục đích phát ngôn nào và
ông cho rằng chính đâv mới là "linh hồn của câu".
Tư tưởns của Ch.Bally về sự đối lập giữa hai thành phán cơ bản tron
2
cấu trúc ngữ nghĩa cùa câu như vừa nêu đã được thừa nhận rộns rãi và trớ
thành cơ sở cho lý thuyết tình thái trons nsốn nsữ học. Tuy răng vé sau sự
15
đối lập mà ông đề xuất có thể được thay bằng nhữns cặp thuật ngữ khác tùv
theo hệ thống quan điểm của từng tác giả với những ngụ V riêns. Chẳnơ hạn,

16
các dạng quan hệ giữa người nói với mối quan hệ khác nhau của phát nsôn đối
với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau cùa điều được
thông báo" [dẫn theo 51, 48]. Ông còn nói thêm rằng hướng đi được nhiều
người công nhận nhất là phân chia phạm trù tình thái thành phạm thù tình thái
khách quan và tình thái chủ quan. Theo ông, tình thái khách quan thể hiện mối
quan hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính'; còn
tình thái chủ quan là dấu hiệu tất yếu ở một phát ngôn bất kỳ (phạm trù thức
của động từ là phương tiện chính thể hiện tình thái ở chức năng này). Tình thái
chủ quan là quan hệ của người nói với điều được thông báo, là dấu hiệu khônơ
bất buộc của phát ngôn. Dung lượng ngữ nghĩa của tình thái chủ quan rộng
hơn dung lượng ngữ nghĩa của tình thái khách quan và khôns đồng loại. Khái
niệm đánh giá làm nên cơ sở ngữ nghĩa cho tình thái chủ quan. Khái niệm này
không chỉ bao
2
ồm các đánh giá logic (lý tính, duy lý) về điều được thôns báo
mà còn gồm tất cả các dạng khác nhau về phản ứng có tính cảm xúc (phi lý
tính) [dẫn theo [51. 48-49].
Từ góc nhìn của lý thuyết hành vi ngôn ngữ, Palmer và một số tác giả
khác cho rằng "sự phân biệt giữa nội dung mệnh đề và tình thái rất gần gũi với
sự phân biệt giữa hành vi tạo lời và hành vi tại lời theo tinh thần của Austin.
Trong hành vi tạo lời. chúng ta nói một cái gì đó còn trons hành vi tại lời
chúng ta làm một cái sì đó" [55, 14].
Với cùns một tinh thần nhưng sự phân biệt của Hare có hơi khác. Theo
Hare, trons câu, cẩn phân biệt ba bộ phận: Phrastic, Tropic và Neustic. Trong
đó Phrastic là phần chuns cho các câu tuvên bố, mệnh lệnh, nghi vấn. Đó
chính là nội dung mệnh đề theo cách hiểu của Ch.Bally; Tropic tương ứng với
kiểu hành vi ngôn nsữ thông thường được thực hiện bằng câu này. Nội dung
của Neustic chính là cái mà Hare gọi và chỉ hiệu của sự cam kết đối với.hành
vi ngôn ngữ được thực hiện. Đó là sự bảo đảm, cam kết của người nói có liên

- Tính khả năng, tính thực tế và tính cần yếu. Nhóm ý nshĩa này là cơ
sở ch o tình thá i k h á c h quan .
- Sự nghi ngờ, tính không chắc chấn (giả định khả năng) và tính dứt
kh o át. N h ó m ý ng h ĩa n ày là c ơ sở ch o tìn h th ái c hù q u a n [dẫn th e o 51, 18].
E.M. V olf lại cho rằng có nhiều kiểu ý nghĩa tình thái. Trong đó, sự
đ án h g iá có thế co i n h ư m ộ t tro n s n hữ n g k iểu tình thá i trù m lên trên nội d u n g
được miêu tả của sự biểu thị ngôn ngữ. Ngoài ra còn có các ý nghĩa khác:tình
18
thái cần yếu, tình thái mong muốn (nguyện vọng), tình thái khuvên nhủ, tình
thái ngăn cấm và cảnh cáo trước, tình thái răn đe [dẫn theo 51, 49].
Coi tình thái là một lĩnh vực ngữ nghĩa, gắn liền với các yếu tố ngữ
nghĩa và ngôn ngữ biểu thị, J. ByBee cho rằng " tình thái bao trùm lên một
loạt những sắc thái ngữ nghĩa hết sức rộng lớn, đa dạng như: cầu khiến, giả
định, tiềm năng nghĩa vụ, ngờ vực, cảm thán v.v Chúng tuy khác nhau
nhưng đều có chung một mẫu số đó là đều được coi như nét nghĩa bổ sung, bổ
trợ, thêm vào hay bao trùm lên cái nghĩa sự tình được thể hiện ờ mệnh để
trong phát ngôn". [51, 1].
Ở một mức khái quát hơn, J.Lyons (1977) cho rằng tình thái chủ quan
có thể được chia làm hai tiểu loại: tình thái nhận thức (Epistemic modality) và
tình thái đạo lý (Deontic modality).
Cả hai phạm trù này đều liên quan đến khái niệm khả năng và tất yếu
nhưng theo hai phạm vi khác nhau.Tinh thái nhận thức có liên quan đến tính
khả năng và tất yếu về phươns diện tính xác thực của mệnh đề. Do đó, nó liên
quan đến sự hiểu biết (knowledge) và niềm tin (confidence) [54,793]. Tinh
thái đạo nshĩa cũng liên quan đến tính tất yếu của khả năng nhưns là cùa
những hành động được thực hiện bởi nhữns tác thể đã bị ràng buộc về trách
nhiệm cũns như những nsuvên tắc xử thế về phương diện đạo đức. Do đó, nó
liên quan đến sự cho phép hay nghĩa vụ có tính xã hội" [54, 823].
Cũng chính là J.Lyons, trong một côns trình xuất bản năm 1980 về
n

trong câu (khẳng định, phủ định, ngờ vực, nêu rõ phạm vi giới hạn và điều
kiện của tính chân lý).
- Về tính khả năng hay tất yếu của điều đó (có thê hay không có thế, tất
nhiên hay không tất nhiên, mức độ cao hay thấp của tính khả năng tính tất yếu).
- Cách đánh giá của người nói đối với sự tình được truyền đạt (đáng
mừng hay đáng tiếc, đáng hy vọng hay e ngại nên có hay khổng nên có ).
- Sự giới thiệu của nsười nói về tính chất của câu nói (tính thành thực,
đơn giản, áng chừne hay chính xác )
Mối quan hệ siữa càu nói với tình huốns đối thoại hay đối với ngôn
cảnh và nhiều nội dung khác thuộc lĩnh vực logic và siêu ngôn ngữ [25, 175].
Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi xin
tổng kết thành mấy điểm chính như sau về vấn đề tình thái:
- Tinh thái cùns với nội dung mệnh đề là hai thành phần cần yêu tạo
nên cấu trúc ngữ nshĩa của câu, sóp phần thực tại hóa câu. gắn câu với điều
kiện siao tiếp hiện thực.
- Các phạm trù tinh thái không tồn tại và hoạt động tách biệt lập trong
một thế giới tự trị mà trái lại, chúng có sự phù hợp, tương thích với nhau va
thực sự bị quyết định bởi:
20
+ Những khác biệt về hình thức trong những nsôn nsữ khác nhau.
+ Những mồ hình phổ quát nổi bật của sự tươns quan giữa hình thức
và chức năng.
+ Những cách thức biến đổi của ngôn nsữ đã được chứng minh bằng
thực tế ngữ liệu.
Chính vì vậy, các ngôn ngữ khác nhau, về nguyên tắc, sẽ rất khác nhau
về số lượng các kiểu loại phạm trù tình thái cũng như những cách thức thể
hiện nội dung của phạm trù tình thái ấy.
- Có thể khẳng định tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa cực kỳ rộn
2
lớn, thể hiện thái độ, những dạng đánh giá khác nhau của người nói đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status