TIỀN PHỤ TỐ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT -
NHỮNG CHUYỂN DỊCH TƯƠNG ĐƯƠNG
SANG TIẾNG PHÁP VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
NCS. NGUYỄN NGỌC LƯU LY
*
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có nhiều lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài về tình thái trong
tiếng Việt và tiếng Pháp:
Trước tiên, cần phân biệt trong một phát ngôn phần nội dung
mệnh đề, thường được gọi là “dictum” và phần thái độ của người nói
đối với nội dung này, thường được gọi là “modus” hay “tình thái”. Nói
cách khác, tình thái là một chuỗi các yếu tố chỉ ra rằng nội dung thuần
tuý mà được coi đã lược bỏ tất cả các can thiệp của người nói, được
đánh giá là đã được thực hiện hay chưa, được đón chờ hay không,
được chấp nhận một cách hồ hởi hay luyến tiếc , và tất cả điều đó
được người nói suy tính. Chẳng hạn, các phát ngôn tiếng Pháp dưới
đây (1) “Sylvie rentrera”, (2) “Que Sylvie rentre!”, (3) “Il est possible
que Sylvie rentre”, (4) “Sylvie ne rentre pas” có vẻ như có cùng một
nội dung mệnh đề, chỉ khác nhau ở tính tình thái. Cũng như vậy, trong
tiếng Việt, người ta dễ dàng nhận thấy sự khác nhau về hiệu ứng trong
các câu (5) “Anh đừng đi!”, (6) “Anh cóc đi”, (7) “Anh cứ đi”, (8)
“Anh mà đi ”, (9) “Anh mới đi”, (10) “Anh ắt sẽ đi”, (11) “Anh có
đi”, (12) “Anh quyết đi”, (13) “Anh đi thì phải”, (14) “Anh đi thật
à?”… Những ví dụ trên cho thấy tình thái được biểu đạt bằng những
phương tiện rất đa dạng trong nội bộ một ngôn ngữ và từ ngôn ngữ
này sang ngôn ngữ khác: là thức ngữ pháp trong ví dụ (1) và (2), là
mệnh đề trong (3), là dạng phủ định trong (4), (5) và (6), là các phụ tố
tình thái trong (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), là các tiểu từ tình
thái đứng cuối câu trong (13) và (14) , đó là ta còn chưa phân loại
một cách có hệ thống các tiểu từ và cụm từ tình thái. Ngôn ngữ học
ngữ học Việt Nam và mới chỉ được khai phá bởi một vài tác giả. Đó
chính là lý do khiến chúng tôi quyết tâm đổ công sức vào vào nội
dung đầy hứa hẹn này. Chúng tôi tin rằng việc phân tích chuyên sâu
các phương tiện biểu đạt tình thái trong hai ngôn ngữ và việc đối chiếu
tương phản sẽ đóng góp vào việc mở ra những cánh cửa mới để khám
phá bản chất đích thực của ngôn ngữ này hay ngôn ngữ kia nói riêng
và các phổ quát của các ngôn ngữ trên thế giới nói chung.
Lý do chính thứ ba của chúng tôi là vị thế sư phạm. Do tiếng Việt
và tiếng Pháp có nhiều dị biệt lớn trong việc cấu thành các cách biểu
đạt tình thái cho nên người Việt học tiếng Pháp sẽ lúng túng trước
thực tế ngôn ngữ của hai thứ tiếng và gặp khó khăn khi dịch sự uyển
chuyển của tình thái tiếng Việt sang tiếng nước ngoài. Nói một thứ
tiếng, là hành động trong và với ngôn ngữ đó. Những nghiên cứu mới
đây, ít nhiều mang tính dụng học, đã chỉ ra cho ta thấy hành vi ở lời
(acte illocutoire) có ý nghĩa thế nào trong giao tiếp. Việc giảng dạy
tiếng nước ngoài không thể bỏ qua điều đó. Tuy nhiên, những dấu
hiệu tình thái lại thường xuyên bị bỏ quên trong các lớp học tiếng
189
trong nhiều năm qua. Ý thức được những khó khăn và chướng ngại
đang đợi chúng ta ở cuối đường, chúng tôi tin rằng đề tài này sẽ khá
thú vị và có ích, có thể giúp được người học của chúng ta nắm bắt
những khác biệt trong hai hệ thống, để dễ dàng thích ứng được với các
tình huống giao tiếp.
2. Giới hạn đề tài, mục tiêu và ý nghĩa
Như đã nói ở trên, khác với tiếng Pháp, trong tiếng Việt, để ghi
dấu tính tình thái, người ta phải dùng tới một hệ thống các tình thái từ,
phong phú cả về hình thức lẫn ý nghĩa. Hệ thống này tạo thành một
thành tố tách rời khỏi cấu trúc tống quát của câu tiếng Việt, là một đặc
trưng của tiếng Việt. Những phương tiện biểu đạt tình thái còn lại mà
hầu như có cùng chung tiêu chí phân tích của các ngôn ngữ Ấn-Âu ít
Đề tài của chúng tôi, ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, bao
gồm ba chương.
Chương một dành cho việc trình bày cơ sở lý thuyết về tình thái.
Trong phần này, chúng tôi trình bày tổng quan các khái niệm cơ bản
về phạm trù tình thái, những khó khăn trong việc tiếp cận phạm trù
này, các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học và đề xuất hướng tiếp
cận của tác giả đề tài, nghiên cứu cụ thể các phương thức biểu đạt tình
thái trong tiếng Việt.
Chương hai được dành cho việc nghiên cứu chuyên sâu về tiền
phụ tố tiếng Việt, nêu những đặc trưng của nó và phân loại các tiền
phụ tố tình thái trong tiếng Việt.
Chương ba là chương quan trọng của đề tài, sau khi nắm bắt
những đặc trưng của các phương tiện biểu đạt tình thái tiếng Pháp,
chúng tôi đề xuất ra các giải pháp chuyển dịch tiền phụ tố tình thái
tiếng Việt sang tiếng Pháp và nêu lên ý nghĩa thực tiễn.
5. Nguồn ngữ liệu
Để xây dựng nguồn ngữ liệu cho đề tài, bên cạnh kho thành ngữ
và các cụm biểu đạt thường dùng, chúng tôi đã tập hợp hai mươi
truyện ngắn của các tác giả Việt Nam được in trong khoảng từ 1945
đến 2005, bao gồm các truyện ngắn trong chiến tranh, hậu chiến tranh
cho đến bây giờ. Chúng tôi mong muốn giải quyết các vấn đề đặt ra về
tình thái theo cách mô tả lịch đại để có thể gìn giữ các yếu tố ngôn
ngữ qua các giai đoạn khác nhau của truyện. Tiến trình phân tích lịch
đại sẽ cho phép chúng tôi xem xét một cách thích đáng hơn việc sử
dụng ngôn ngữ qua các thế hệ khác nhau và giải thích được hiện
tượng này có quan hệ thế nào với hệ thống ngôn ngữ đang được đề
cập qua tiến trình phát triển ngôn ngữ.
Các truyện ngắn được lựa chọn có độ dài trung bình, chủ đề nói về
các mặt khác nhau của cuộc sống trong và sau chiến tranh. Phần lớn
các truyện đã được dịch sang tiếng Pháp. Bản dịch có sẵn của các
chung quan điểm phân tích. Tình thái quả thực là một lĩnh vực khó đòi
hỏi phải được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa.
Cái khó đầu tiên là do quan niệm. Tình thái nắm giữ vai trò quan
trọng ở nhiều ngành khoa học nhưng ở mỗi vị trí như trong triết học,
logic học, ngôn ngữ học, cách hiểu về tình thái lại không thống nhất.
Trong khi khái niệm tình thái của logic chỉ giới hạn ở một số kiểu
quan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, hoàn toàn tách hỏi
những nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, thái độ, tình cảm, đánh
giá của con người nói chung, thì việc nghiên cứu tình thái trong ngôn
ngữ trước hết nhấn mạnh tới nhân tố dụng học này.
Tuy nhiên, các nhà ngữ học cũng thường không có cùng quan
niệm về tình thái:
Trong cách quan niệm của Vinogradov, những mối quan hệ khác
nhau của thông báo với thực tế trước hết là phạm vi của quan hệ tình
192
thái. Cái được thông báo, chẳng hạn, có thể được người nói hiểu như
là hiện thực, là có trong quá khứ hay hiện tại, là điều được thực hiện
trong tương lai, là điều mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó, là cái
không có trong hiện thực v.v…Tính tình thái được xác lập theo quan
điểm của người nói, song bản thân quan điểm đó lại được xác định bởi
vị trí của người nói vào lúc nói đối với người đối thoại và với cái phân
đoạn thực tế được phản ánh, được thể hiện trong câu.
Theo Lyons (1977:425), tình thái là thái độ của người nói đối với nội
dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả.
“Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý
kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu” (Palmer,
1986:14)
Benveniste không đưa ra định nghĩa cụ thể về tình thái, nhưng các
đặc trưng chủ yếu của nó lại được thể hiện rất cụ thể qua các nhận xét
rải rác của ông. Theo ông, tình thái là một phạm trù rộng, khó có thể
cũng là một dạng cam kết. Và như vậy, ngữ đoạn “mẹ nó nói” cũng có
giá trị tương đương với các quán ngữ biểu thị tình thái như nghe đâu,
nghe nói, nghe đồn, … mang đầy tính chủ quan.
Đề tài này quan tâm chủ yếu đến các vấn đề của tình thái chủ quan,
“trong đó người nói có thể biểu đạt một cách tường minh (“tôi nghĩ
rằng nó xấu”) hoặc hàm ẩn (“nó xấu”)” (Kerbrat-Orrechioni 1980:71).
Để xác định được mối quan hệ giao - hợp của tình thái và tính chủ
quan trong ngôn ngữ, chúng tôi xin đưa một ví dụ:
[2] Cô ta cao lớn.
Ta thấy rằng phát ngôn này biểu đạt tính chủ quan của chủ thể nói
năng đối với sự việc bởi lẽ người ta có thể đánh giá cùng một số đo
chiều cao là “cao” hay “thấp” tùy theo quan niệm, ý định giao tiếp của
người nói, tùy theo quốc tịch hay thế hệ, Tuy vậy, ở đây, người nói
không bộc lộ tình cảm. Thật khó có thể kết luận rằng người nói đánh
giá cao hay thấp chiều cao của cô gái đó. Như vậy, chúng ta có thể nói
rằng tính chủ quan liên hệ mật thiết với phạm trù tình thái nhưng
không trùng khớp với phạm trù này.
Để vạch rõ ranh giới nghiên cứu, chúng tôi xin đề xuất bảng sau:
Tình thái
chủ quan
Tính chủ quan
Tính khách quan Tình thái
Hình 1 : Tính chủ quan/ tính khách quan và tình thái
Bảng trên đây chỉ rõ chỗ đứng của tình thái chủ quan trong ngôn
ngữ học: Tình thái được miêu tả bằng hình chữ nhật đứng, nửa trên là
tình thái chủ quan và nửa dưới là tình thái khách quan. Tính chủ quan
được biểu thị bẳng tất cả khoảng không phía trên đường ranh giới và
tính khách quan bên dưới đường ranh giới. Tình thái chủ quan (phần
màu ghi) là đối tượng nghiên cứu của đề tài này.
Cái khó thứ hai là do tính không ổn định của đối tượng nghiên cứu.
trong đó M là thành tố tình thái, P là thành tố mệnh đề. Theo tác giả
này, thành tố “Proposition” được hiểu là tập hợp các mối quan hệ phi
thời gian, được phân biệt với thành tố “Mood”, bao gồm các giá trị
cho cả câu, như là phủ định, thời, thức, thể động từ (Fillmore, 1968,
p.23). Trong khi đó, tác giả Culioli lại đề xuất cặp từ “modus/lexis”,
Charle Bally gọi là “modus/dictum”, Hare dùng bộ ba “phrastic/
tropic/neustic” …
Sự lựa chọn của Fillmore có thể khiến người sử dụng băn khoăn:
“Proposition” được hiểu theo nghĩa nào? Theo lăng kính khách quan
logic hay ngôn ngữ?. “Mood” có thể được hiểu là “thức của động từ”
theo nghĩa hẹp. Cặp từ “lexis” và “dictum” tương ứng với cặp “modus/
dictum”, nhưng “lexis” nhấn mạnh vào tính chất của từ dùng hơn.
195
Do đó, chúng tôi xin đề xuất định nghĩa của mình, trên quan điểm
đề cao tính chủ quan của ngôn ngữ, trong mối quan hệ người nói -
người nghe. Chúng tôi cũng xin sử dụng thuật ngữ “dictum” và
“modalité” và giữ nguyên công thức:
Enoncé = Dictum + Modalité
trong đó “dictum” gắn với chức năng thông tin, chức năng miều tả của
ngôn ngữ. “Modalité” (tức bộ phận tình thái) gắn với bình diện tâm lý,
thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh
giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với
thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. “Modalité”
tham gia vào quá trình thực tại hóa, biến nội dung sự tình còn ở dạng
tiềm năng thành phát ngôn hiện thực.
Những khó khăn của việc định nghĩa thực sự chỉ là khởi đầu khi
bước chân vào địa hạt của tình thái. Để có định hướng tốt cho nghiên
cứu, chúng tôi mong muốn xử lý các vấn đề tình thái theo ba cấp độ:
hình thái - cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, bởi nếu một từ hoặc một
ngữ có nhiều nghĩa khi sử dụng, đó không chỉ là do cách tổ chức hệ
phức tạp, dù ở bất cứ ngôn ngữ nào. Các nhà ngữ học ít khi đồng nhất
về các cách biểu đạt giá trị tình thái.
Von Wright (1951:1-2) phân tình thái ra thành bốn tiểu loại:
- Tình thái chân ngụy, hay chân thực
- Tình thái nhận thức
- Tình thái đạo nghĩa, hay nghĩa vụ
- Tình thái tồn tại
Lyons (1977:452) chia sẻ quan điểm trên, thế nhưng ông chỉ nhóm
tình thái vào hai loại:
- Nhận thức, đề cập tới phạm trù khả năng, có thể
- Đạo nghĩa, nói đến nghĩa vụ và sự cho phép
Ta nhận thấy theo cách quan niệm này, thì giá trị tồn tại có thể
quy vào mối quan hệ với phạm trù khả năng, giá trị chân ngụy vừa có
thể quy vào phạm trù khả năng, vừa phạm trù nghĩa vụ hay mệnh lệnh,
nghĩa là vừa thuộc tình thái nhận thức, vừa thuộc tình thái đạo nghĩa.
Một số nhà ngữ học khác lại phân chia tình thái theo thế nước ba:
- Tình thái hướng tác thể (bao gồm cả tình thái đạo nghĩa) quan tâm
tới các chủ thể khác nhau như khả năng, nghĩa vụ, ý định, sự cho
phép, …
- Tình thái nhận thức quan tâm tới cam kết của người nói với tính
chân thực của phát ngôn.
- Tình thái của hành động phát ngôn chỉ ra những điểu liên can tới
người nói trong hành vi phát ngôn (mệnh lệnh, sự mong chờ, sự cho
phép) (J. Bybee & S. Fleishmann, 1995)
Ta thấy rằng về cơ bản thì nó giống với những gì mà Lyons đề
xuất, nhưng khác ở chỗ họ tách bạch riêng chủ thể của câu (trong tình
thái hướng tác thể) với chủ thể nói năng (trong tình thái phát ngôn).
B. Pottier (2000:192-215) đã phân chia tình thái thành bốn tiểu
loại như sau:
- Tình thái chân ngụy (khả năng, cần thiết) không phụ thuộc vào
chủ quan. Do đó, cách phân loại của Pottier về khách quan - chủ quan
là không cần thiết.
Thứ hai, chúng tôi đã xác định trong phạm vi đề tài chỉ quan tâm
đến chủ thể người nói và các vấn đề quanh người nói. Như vậy, sự
phân biệt chủ thế người nói và chủ thể của câu theo Kerbrat-
Orecchioni (1980), Bybee (1995) có lẽ có thể bỏ qua trong đề tài.
Đối với nội dung tình thái nhận thức và đạo nghĩa, ta thấy được
rằng chúng khá tương đồng với bốn thái mà Culioli đề xuất. Nhưng
chúng tôi thích chia nhỏ thành bốn thái theo Culioli hơn là giữ nguyên
từ “nhận thức” để tránh hiểu nhầm với từ dùng của các tác giả trước,
ví dụ như Lyons sử dụng thuật ngữ này cho phạm trù khách quan.
Sau cùng, cách phân chia của Kerbrat-Orecchioni (1980), Cao
Xuân Hạo (1994) lúc đề cập đến hành động phát ngôn, lúc đề cập đến
198
lời phát ngôn có lẽ sẽ gây trở ngại khi ta nghiên cứu thực nghiệm các
yếu tố ngôn ngữ cụ thể, bởi nghiên cứu sẽ không có cùng duy nhất
một xuất phát điểm.
Đến với lý thuyết của Culioli, chúng tôi thấy lý lẽ của ông đưa ra
như sau:
Phát ngôn là một câu được chịu trách nhiệm bởi một chủ thể
người nói (S
o
) và nói cho một người đối thoại (S
1
). Đó là một mối
quan hệ liên chủ thể giữa S
o
và S
1
. Mối quan hệ này được sản sinh ra
động P hoặc Không-P, 0 hoặc 1, đúng hoặc sai. Thuật ngữ “mệnh
lệnh” này bao hàm cả sự cầu xin, ra lệnh, gợi ý, yêu cầu, nghĩa là
người ta đặt ra một giá trị thực về tương lai thế giới. Mệnh lệnh không
có đúng, có sai những nó có thể dẫn tới cái đúng hay sai. Ví dụ:
[4a] Ngồi xuống!
199
[4b] Cô ấy ngồi xuống.
[4c] Đó, cô ấy ngồi rồi.
Ta cũng nhận thấy là tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh
vực dụng học bởi vì có những câu sử dụng không đúng theo mục đích
vốn có của nó. Ví dụ:
[5] Con giữ trật tự và con ăn bánh.
Ở đây người ta dùng câu xác tín, thế nhưng không với mục đích
xác tín một thông tin mà ý định ở đây lại là mệnh lệnh. Ta thường
xuyên gặp phải những câu dạng này.
Thái thứ 2 (μ2) quan tâm đến các khả năng giữa 0 và 1 (mà
không thuộc 0 và 1):
Không phải lúc nào ta cũng ở thế hai cực 0 hay 1. Nhiều khi ta sẽ
phải đứng giữa 0 và 1. Thế giới khả năng nằm ở khoảng giữa 0 và 1, P
và Không-P, là trung gian của cái có thực và cái không tồn tại. Như
vậy, trong μ2 bao gồm sự chắc chắn, sự có thể, các khả năng, nghĩa
là các giá trị trung gian giữa 0 và 1. Ví dụ:
[6] Lẽ ra anh ta đã phải làm vậy.
hoặc khi nói về tương lai, người ta không thể khẳng định. Ví dụ:
[7] Trời sẽ nắng.
Với μ2, ta sẽ ở một thời điểm của hành động phát ngôn mà khi ta
phát ngôn về một sự tình, ta khó có thể nói được sự tình đó đúng hay
sai, mà chỉ có thể nhận định rằng “sẽ xảy ra”, “có lẽ sẽ xảy ra” hay
“nhất định sẽ xảy ra”,
Thái thứ 3 (μ3) quan tâm đến các đánh giá của S
- Người này để cho người kia tự do làm gì đó
- Người này tự điều khiển chính bản thân trong sự mong muốn
Khi phân tích cách biểu đạt giá trị tình thái, cần phải hiểu được ý
định giao tiếp chủ quan của người nói, bởi lẽ khi anh ta nói, anh ta
không chỉ muốn điều khiển chính mình, mà còn muốn điều khiển cả
người khác, hay cho phép người khác làm điều gì đó, theo quan
điểm của Austin “Nói, là hành động”. Tình thái sẽ được biểu đạt ở
trong lòng những gì mà người nói nói với người đối thoại của anh ta.
Đó là một mối qua hệ nhập nhằng nhưng khá thú vị, và ta phải đặt
mình trong ngữ cảnh giao tiếp để có thể nhận ra.
Các thái 1, 2, 3, 4 không theo thứ tự, ta cũng khó có thể lập trật tự
cho chúng vì các mối quan hệ luôn đan xen, chồng chéo. Cùng một
phát ngôn mang tính chất mệnh lệnh có thể vừa thuộc thái 1, vừa thuộc
thái 4. Do đó sự phân loại này không thể thuộc loại hình tuyến tính.
1.1.3. Các phương tiện biểu đạt tình thái
Tình thái phản ánh quan hệ đa phương giữa người nói, nội dung
mệnh đề, người đối thoại và thực tế. Như đã đề cập ở trên, một phát
ngôn luôn là một sự cộng hợp của một “dictum” và một “modalité”,
trong bất cứ ngôn ngữ nào. Như vậy, tình thái là một hiện tượng phổ
quát, chung cho tất cả các ngôn ngữ tự nhiên trên thế giới, nghĩa là
luôn luôn tồn tại các phương tiện biểu đạt tình thái trong tất cả các
ngôn ngữ.
Lấy ví dụ ở các thứ tiếng:
[10a] Tôi muốn đi chơi. (tiếng Việt)
[10b] Je veux sortir. (tiếng Pháp)
[10c] I want to go out. (tiếng Anh)
[10d] Eu quero sair. (tiếng Bồ Đào Nha)
[10e] Watashi wa dekake tai. (tiếng Nhật)
[10f] Wo xiang zou le. (tiếng Trung)
Ta nhận thấy rằng ở mỗi phát ngôn trên đây, luôn có hai thành tố
Trong trường hợp này, người Pháp thường dùng thức hiện tại
(indicatif), thời hiện tại (présent), phối hợp cùng các điệu bộ như giơ
thẳng tay ra phía trước, bàn tay hướng lên trên và dùng ngữ điệu lên:
Le professeur arrive.
Mệnh lệnh ngầm yêu cầu giữ trật tự trở nên sáng tỏ với tình thái
biểu đạt bằng các dấu hiệu ngôn điệu hay cử chỉ mệnh lệnh.
Trong khi đó, tiếng Anh và tiếng Bồ, những ngôn ngữ biến hình
khác, lại sử dụng thời hiện tại tiếp diễn để biểu đạt cùng sự việc:
The teacher is coming.
O professor esta chegando.
Trợ động từ và phân từ hiện tại của động từ trung tâm kết hợp với
nhau thành một đơn vị ngữ nghĩa gọi là cụm động từ. Để gây sự chú ý
202
của các thành viên trong lớp, lớp trưởng đã dùng ngữ “is coming” ou
“esta chegando” để chỉ thời gian của sự việc.
Nếu như ta dùng thời hiện tại như trong tiếng Pháp, người Anh
hoặc Bồ bản ngữ sẽ nói thành “The teacher comes” hoặc “O professor
chega”. Các câu này cũng có thể thông báo thầy giáo đến, thế nhưng
trong trường hợp này nghe không thật tự nhiên và có lẽ ít gây hiệu
ứng đối với người nghe, như vậy cần thêm các dấu hiệu khác để hiện
thực hóa sự tình, ví dụ như vừa nói vừa vỗ vỗ tay. Ngược lại, nếu như
trong tiếng Pháp, ta nói “Le professeur est en train d’arriver”, việc
báo động hay mệnh lệnh lại có lẽ bị giảm giá trị.
Trong tiếng Nhật, việc sử dụng các tiểu từ cuối câu cũng khá phổ
biến, như trong các ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt, tiếng Trung ):
Sensei ga kuru yo.
Tiểu từ tình thái “yo” ở đây biểu đạt sự chắc chắn, sự nhấn mạnh.
Xét các ví dụ khác với “yo”:
[12] Ashita no gogo denwa suru yo.
Ngày mai/của/buổi chiều/điện thoại/làm/tiểu từ “yo”
Như vậy, trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, thức của động từ luôn giữ
vai trò quan trong để biểu đạt tình thái phát ngôn. Tuy nhiên, tình thái
không chỉ bó gọn trong phạm vi động từ mà còn biết đến rất nhiều
phương tiện khác.Ví dụ trong tiếng Pháp “Il viendra peut-être
demain” (dùng thời ngữ pháp, trạng từ) = “Il viendrait demain” (sử
dụng thức ngữ pháp).
c- Trong tiếng Việt, tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980:31) đã nhận
định trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - Câu” rằng mỗi ngôn ngữ lại
có các phương tiện biểu đạt tình thái riêng, nhưng những phương tiện
thường gặp nhất là:
c.1. Ngữ điệu
c.2. Động từ
c.3. Trật tự từ
c.4. Tiểu từ tình thái
c.5. Thành ngữ và ngữ cố định có chức năng khu biệt và hiện thực
hóa câu.
d- Các nhà ngữ học khác đã chỉ rõ chỗ đứng của các yếu tố và khả
năng vận hành của chúng trong cấu trúc cú pháp nhằm mục đích phân
loại các phương tiện biểu đạt giá trị tình thái.
Ta nhận thấy rằng những đề xuất này đúng nhưng chưa đủ bởi vì
mỗi ngôn ngữ lại có các phương tiện biểu đạt tình thái điển hình và rất
đa dạng. Theo chúng tôi, để có thể xác định được các phương tiện này
một cách đầy đủ nhất, trước tiên ta phải xác định rõ ta đang làm việc
với ngôn ngữ cụ thể nào và thật kiên nhẫn xem xét lần lượt trên nhiều
bình diện khác nhau: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và dụng học.
1.2. Các phương tiện biểu đạt tình thái tiếng Việt
Như đã nhận định, các phương tiện biểu đạt tình thái vốn rất đa
dạng trong các tiếng khác nhau. Trong khi các ngôn ngữ Ấn-Âu sử
dụng thời, thức, thể để biểu đạt tình thái thì tiếng Việt, với tư cách
là một thứ tiếng đơn lập, lại có các phương tiện đặc trưng khác mà
cảm của người nói. Trọng âm tiếng Việt không chỉ được thể hiện bằng
lực, mà còn bằng cao độ và trường độ.
Phát ngôn “Giỏi nhỉ!” với từ “giỏi” được phát âm nhấn mạnh và kéo
dài hơn từ kia có lẽ biểu đạt ý nghĩa “không giỏi” với thái độ mỉa mai.
Trong tiếng Việt, từ láy và từ tượng thanh cũng có thể tình thái
hóa phát ngôn. Cần phải thừa nhận là trong tiếng Việt, số lượng các từ
và ngữ láy phong phú hơn nhiều trong tiếng Pháp, nó tạo nên một kho
tàng từ vựng tiếng Việt. Đào Thản, nhà từ vựng học Việt ngữ, trong
nghiên cứu của ông, đã liệt kê 2600 từ láy trong đó có 170 danh từ,
420 động từ và hơn 2000 tính từ. Các từ ngữ tình thái là phương tiện
biểu đạt tình thái vô cùng hiệu quả trong tiếng Việt:
1
/>205
- Tượng hình: “lổm ngổm”, “lồm cồm”, “chổng chơ”, “nhốn nháo”
- Tượng thanh: “rúc rích”, “róc rách”, “líu lo”, “chí chóe”, “chiêm
chiếp”
- Khơi gợi trạng thái tình thần hoặc tình cảm: “bâng khuâng”, “tần
ngần”, “da diết”, “rạo rực”
Ví dụ khác với hậu tố “âp” diễn đạt một sự lặp lại, một sự xuất
hiện lặp lại nhưng không ổn định: “bập bùng”, “lấp ló”
Các từ láy khiến hình ảnh được miêu tả sống động hơn nhiều lần.
Hơn nữa, nó mang tính chất trữ tình khá rõ nét, do đó hay được dùng
trong văn học.
Cùng với các sắc thái thơ ca, các từ láy thường dùng để biểu đạt
thái độ chắc chắn của người nói. Ví dụ:
[15]Tôi chợt nhận ra chiếc mũ “xanh xanh” lẩn trong màu lá biếc.
[16]Một chiếc ví da nhỏ, màu “đo đỏ” bị bỏ rơi ngay trên bàn.
So với từ “xanh”, “đỏ”, thì “xanh xanh”, “đo đỏ” tạo cảm giác
người nói ít chắc chắn về màu sắc nói tới, ít khẳng định hơn.
Từ tượng thanh không những khiến vật được miêu tả thêm sinh
[24] Thân phận đàn bà khốn khổ.
[25] Tạp chí Phụ nữ, Người phụ nữ hiện đại ngày nay,
Ta thấy từ “đàn bà” thường được dùng với nghĩa tiêu cực, trong
khi từ “phụ nữ” lại được sử dụng theo nghĩa trân trọng hơn. Do đó, ta
không thể thay thế từ nọ cho từ kia mà không làm thay đổi nghĩa của
câu. Ví dụ ngữ “Tạp chí Đàn bà” sẽ khiến ta rất buồn cười.
1.2.2.2. Động từ
Động từ tiếng Việt không biến hình, do đó khả năng kết hợp của
nó khá phức tạp. Ta có thể sắp xếp các trạng từ thời gian như “đã”,
“đang”, “sẽ”, “vừa” , trạng từ phủ định như “không”, “chưa” đằng
trước các trạng từ thời gian như “rồi”, trạng từ tình thái như “được”,
“mất”, “phải” Hơn nữa, các từ tình thái không đơn nghĩa. Động từ
có thể đứng một mình hoặc động từ kết hợp với các động từ khác hoặc
từ tình thái trở thành thành nhóm động từ. Ta phân biệt động từ
trong tiếng Việt ra hai nhóm: động từ tình thái và động từ hành thái.
+ Động từ tình thái
Vì phức tạp nên động từ tình thái tạo nên một tiểu loại động từ thu
hút sự quan tâm của các nhà ngữ học trên thế giới và trong các ngôn
ngữ khác nhau. Động từ tình thái có thể biểu đạt nghĩa tình thái và
đứng trước động từ hành thái với điều kiện động từ tình thái và hành
thái có cùng chủ ngữ. Trong tiếng Việt, động từ tình thái đứng trước
tính từ và quan hệ từ.
Động từ tình thái vừa là phương tiện từ vựng, vừa là phương tiện
ngữ pháp biểu đạt tình thái. Trong phần này, ta sắp xếp các động từ
tình thái tiếng Việt vào các phương tiện từ vựng (bởi lẽ tiếng Việt là
tiếng đơn lập, mỗi từ đều thuộc một loại từ nào đó). Sự phân biệt các
phương tiện ngữ pháp và từ vựng biểu đạt tình thái trong tiếng Việt
không cứng nhắc như trong các ngôn ngữ biến hình. Ví dụ:
Động từ tình thái “phải”
Động từ tình thái “phải” mang ý nghĩa bắt buộc về tinh thần. Cần
Thế nhưng trong ví dụ:
[31] Lan muốn đi chơi.
Chủ ngữ câu là người. Như vậy, ta có hai cách diễn giải phát
ngôn: Trường hợp thứ nhất, phát ngôn phản ánh mong muốn của
người nói đối với việc “Lan đi chơi”. Ta gọi đó là tình thái của câu.
Trường hợp thứ hai người ta gọi là tình thái của cấu trúc vị ngữ,
tình thái này phản ánh mối quan hệ giữa chủ ngữ câu và khả năng,
hiện thực hay tính chắc chắn của hành động, nghĩa là giữa Lan và
mong muốn được đi chơi.
+ Động từ hành thái
Xét ví dụ: Để chỉ sự hấp thụ thức ăn qua đường miệng, trong tiếng
Việt, ta có các động từ đồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái: “ăn”,
“măm”, “xơi” :
208
[32] Măm nào!
[33] Bác xơi cơm ạ!
[34] Ăn thôi!
Thuật ngữ “măm” thường được dùng cho em bé. Nếu như trong
tình huống giao tiếp nào đó, vợ nói với chồng: “Măm măm nào!”, tức
là cô ta muốn bày tỏ sự trìu mến hay yêu thương với chồng qua lời đề
nghị ăn cơm.
1.2.2.3. Tính từ
Quan sát các ví dụ sau:
[35] Da cô ấy trắng hồng
[36] Da cô ấy trắng bệch
Tính từ “Trắng hồng” trong tiếng Việt mang nghĩa tích cực: người
nói muốn khen làn da của chủ ngữ câu. Trong khi đó, từ “trắng bệch”
lại mang nghĩa tiêu cực, chỉ làn da của người bệnh hay người chết.
Như vậy ý định nói năng và thái độ của người nói qua hai ví dụ trên
đây là hoàn toàn khác nhau.
Từ “hỡi” trong ví dụ trên rất hợp với tình huống bởi lẽ nó thể hiện
được nhiệt huyết của tác giả khi kêu gọi công chúng.
1.2.2.6. Quan hệ từ
Quan hệ từ thông thường được dùng để dẫn vào một mệnh đề. Đôi
khi quan hệ từ cũng có khả năng diễn đạt tình thái. Ví dụ:
[41] Đường trơn tại trời mưa.
Quan hệ từ “tại” được dùng khi muốn diễn tả một nguyên nhân
mang tính tiêu cực. Người nói không chỉ trình bày nội dung thông
báo, mà còn bày tỏ thái độ của mình: anh ta không thích trời mưa và
muốn phàn nàn về nội dung thông tin này.
Trong tiếng Pháp, ta cũng có từ dùng tương tự:
[42] Sophie est aimée de tous grâce à sa gentillesse
→ Sophie được mọi người mến nhờ tính tốt bụng của mình.
Quan hệ từ “nhờ” dẫn vào một nguyên nhân mang tính tích cực.
Người nói muốn diễn tả sự tốt bụng của Sophie như một thế mạnh của
cô ấy.
1.2.2.7. Số từ
Trong một số trường hợp, số từ có thể biểu đạt giá trị tình thái. Ví
dụ:
[43] Anh đã ăn bao nhiêu cái kẹo?
[43a] Hai chục cái.
[43b] Hai mươi cái.
Ở câu trả lời thứ hai, người nói diễn tả sự chắc chắn của mình về
số lượng kẹo anh ta đã ăn một cách chính xác, trong khi đó ở trường
hợp đầu tiên, từ “hai chục” cho thấy anh ta mơ hồ hơn, không nhớ
chính xác là mình đã ăn 18, 19 hay 20 cái kẹo.
1.2.2.8. Trạng từ
Trong tiếng Việt, trạng từ bao gồm hai loại:
+ Các trạng từ mang nghĩa từ vựng, có chức năng làm thay đổi
hoặc hiện thực hóa hạt nhân của ngữ động từ. Trạng từ tiếng Việt có
một thông tin.
[48] - Anh đi học à ?
- Ừ.
- “phỏng”, “hả”, “rồi hả” : hỏi tu từ, có thể mang nghĩa đe dọa.
[49] Mày ăn hết rồi hả ?
- “ư”, “chứ”: hỏi tu từ, có thể mang nghĩa ngạc nhiên hoặc tiếc
nuối.
[50] - Anh về ư ?
Các tiểu từ tình thái có thể nhấn mạnh một sự nhận định đặc biệt
từ phía người nói:
[51] A, cô Phương đến rồi! Hân hạnh quá! … (Lý Lan - TN : 46)
[52] Thích quá đi!
211
[53] Anh nên đến thăm nó mới phải!
Tất nhiên là tiểu từ còn có thể biểu đạt rất nhiều các giá trị tình
thái khác, mà hi vọng là chúng ta sẽ có dịp đi sâu nghiên cứu tiểu từ
tình thái vào một ngày gần nhất.
1.2.3. Các phương tiện ngữ pháp biểu đạt tình thái
1.2.3.1. Từ ngữ pháp
Trong tiếng Việt, ngôn ngữ đơn lập, các đặc trưng ngữ pháp
không được thể hiện qua việc biến hình dạng ngữ âm của từ, mà bằng
khả năng kết hợp từ với các từ ngữ pháp của hệ thống, ví dụ như định
tố bổ nghĩa cho hạt nhân danh từ, phụ tố bổ nghĩa cho hạt nhân động
từ …
Quan sát ví dụ:
[54] - Con ngựa
- Những con ngựa
[55] - Tôi đang làm bài tập.
- Tôi đã làm bài tập.