Khảo sát các động từ tình thái trong Tiếng Việt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


BÙI TRỌNG NGOÃN

KHẢO SÁT CÁC ĐỘNG TỪ
TÌNH THÁI
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục những từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Khái niệm tình thái 7
1.2 Khái niệm ĐTTT và ĐTTT trong tiếng Việt 17
1.3 Các cách phân loại ĐTTT tiếng Việt theo hướng ngữ nghĩa 30
Chương 2: BÌNH DIỆN KẾT HỌC CỦA ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI
TIẾNG VIỆT 36
2.1 Ngữ đoạn vị từ và những thuộc tính ngữ nghĩa- ngữ pháp của
động từ trong ngữ đoạn vị từ 36
2.2 Trung tâm của ngữ đoạn động từ có ĐTTT 38
2.3 Cấu trúc tham tố của ngữ đoạn ĐTTT 39
2.4 Thành tố phụ trước của ngữ đoạn ĐTTT 40
2.5 Thành tố phụ sau của ngữ đoạn ĐTTT 76
2.6 Vai trò của ĐTTT đối với sự đề bạt chủ ngữ 98
2.7 Tổng kết chương 99
Chương III: BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC CỦA ĐTTT TIẾNG VIỆT 103
3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp động từ tình thái nhận thức 103
3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp động từ tình thái đạo nghĩa 146
3.3 Tổng kết chương 159
Chương IV: BÌNH DIỆN DỤNG HỌC CỦA ĐTTT TIẾNG VIỆT 163
4.1 Một số vấn đề chung 163
4.2 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp tái hiện 166
4.3 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp điều khiển 169
4.4 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp biểu cảm 187
4.5 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp cam kết 192

nghiên cứu chuyên sâu về tình thái (J. Lyons, F.R. Palmer, T. Givón) trong
từng ngôn ngữ cụ thể hay xuyên ngôn ngữ. Trong những phương tiện ngôn
ngữ đánh dấu tình thái thì các động từ tình thái (ĐTTT) (modal verbs) chiếm
một vị trí rất quan trọng, như nhận định của Louis Goosens, một trong những
cộng sự của nhà ngữ pháp chức năng Hà Lan S. Dik: "Tình thái, trong tất cả
các phương diện của nó, là một thành tố nội dung của ngôn ngữ và các ĐTTT
là phương thức quan trọng để biểu thị các đặc trưng khác nhau của tình thái
trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới" (Goosens: "Tình thái và các động từ

2
tình thái: Một số vấn đề đặt ra đối với ngữ pháp chức năng", in trong A.M.
Bolkesteine, 1985, trang 203).
Ở Việt Nam, các công trình dành cho tình thái rất ít, riêng về các
ĐTTT thì dường như chúng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Chỉ
có lẻ tẻ một số bài báo sơ bộ khảo sát các động từ được, bị, phải đề cập đến
các ĐTTT như một trong những phương tiện biểu thị tình thái (Hoàng Tuệ,
[111]), một vài luận án khảo sát sâu một nhóm ĐTTT hoặc trong các chuyên
luận ngữ pháp, khi bàn đến các tiền giả định và hàm ý, một số ví dụ về các
ĐTTT được nêu ra minh họa (Cao Xuân Hạo, [45], [47]). Trong chuyên luận
"Động từ trong tiếng Việt", Nguyễn Kim Thản cũng chỉ mới phác qua vài
trang về nhóm ĐTTT và tiêu chí phân loại cũng như các đặc trưng ngữ nghĩa
chỉ được nêu hết sức sơ sài [89, tr.165-169]. Có thể thấy, những vấn đề sau
đây hoàn toàn chưa được nghiên cứu đúng với tầm quan trọng của chúng:
a) Xác định các ĐTTT với tư cách là một tiểu lớp động từ (ĐT) cơ hữu
của tiếng Việt.
b) Vai trò của các ĐTTT với tư cách là một loại phương tiện biểu thị
các nội dung tình thái của câu (tình thái khách quan/ tình thái chủ quan/ tình
thái nhận thức/ tình thái đạo nghĩa ).
c) Tổ chức của các đoản ngữ có ĐTTT làm trung tâm cùng sự lí giải tổ
chức đó về phương diện ngữ nghĩa.

từ khiên động (bắt, khiến, sai, nhờ ). Các ĐTTT, cũng như các ĐT khác, có
ngữ trị riêng của mình.

4
Sau khi được xác định, các ĐTTT được phân ra thành các tiểu nhóm,
tiếp tục dựa vào các tiêu chí ngữ nghĩa như tiền giả định và hàm ý tình thái.
2.2. Phân tích các ĐTTT tiếng Việt theo các nội dung tình thái mà
chúng biểu thị: tình thái khách quan hay tình thái chủ quan, tình thái nhận
thức hay tình thái đạo nghĩa cùng các hàm ý tình thái đi kèm.
2.3. Tổ chức của đoản ngữ có ĐTTT làm trung tâm. Luận án sẽ tập
trung vào các vấn đề:
a) Các bổ ngữ của ĐTTT. Như đã biết, ĐTTT bao giờ cũng đòi hỏi một
ĐT khác làm bổ ngữ đi kèm. Các ĐT làm bổ ngữ này được ngữ pháp chức
năng phân thành các tiểu loại theo các tiêu chí chủ ý, động, có kết
thúc, trải nghiệm
b) Các tác tử tình thái (chẳng hạn, các hư từ về thời, thể) có thể tham
gia vào ngữ đoạn ĐTTT.
2.4. Vai trò của vị ngữ là ĐTTT trong cấu trúc của câu.
Luận án tập trung khảo sát sự chế định của vị ngữ ĐTTT đối với việc
đề bạt chủ ngữ.
2.5. Mối quan hệ tương liên giữa câu có vị ngữ là ĐTTTvới các kiểu
hành vi tại lời mà câu đó có thể thực hiện.
Vấn đề này nằm trong một khung miêu tả rộng hơn đó là sự chế định,
tác động qua lại giữa nội dung mệnh đề và khung tình thái của câu. Qua việc
khảo sát lực ngôn trung của các phát ngôn chứa ĐTTT, luận án hy vọng sẽ
góp phần làm sáng tỏ một vài khía cạnh của vấn đề.
3. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Có thể xem đề tài chúng tôi là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu một cách

5

Luận án thu thập tư liệu thuộc về tiếng Việt hiện đại. Cụ thể, tư liệu
trong luận án được thu thập từ các nguồn:
- Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên - Nxb Giáo dục, 1997.
- Những tác phẩm văn học Việt Nam và những bản dịch các tác phẩm
văn học nước ngoài, những văn bản báo chí tiếng Việt.
- Những cuộc giao tiếp hội thoại được quan sát, ghi chép trực tiếp hàng
ngày cũng được dùng trong luận án này.
5. Bố cục của luận án:
Luận án gồm 214 trang, trong đó phần chính văn là 200 trang. Ngoài
phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương I: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài.
Chương II: Bình diện kết học của động từ tình thái tiếng Việt.
Chương III: Bình diện nghĩa học của động từ tình thái tiếng Việt.
Chương IV: Bình diện dụng học của động từ tình thái tiếng Việt.

7

Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. KHÁI NIỆM TÌNH THÁI:
Khái niệm tình thái (modality, modalité) thường được các nhà ngôn
ngữ học dùng để chỉ những mối quan hệ của nội dung thông tin miêu tả trong
phát ngôn với hiện thực cũng như những quan điểm, thái độ, đánh giá của
người nói đối với nội dung miêu tả trong câu nói, với người nghe và với hoàn
cảnh giao tiếp. Như thế, nói một cách sơ lược nhất, phạm trù tình thái bao
gồm hai bình diện là mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và
nội dung phát ngôn với thực tế.

phú và đa dạng của các nhân tố tình thái cũng là một nhân tố rất quan trọng để
phân biệt ngôn ngữ tự nhiên ở con người với hệ thống tín hiệu của động vật.
Sự quan tâm của giới nghiên cứu tới tính tình thái của ngôn ngữ tự
nhiên cũng dẫn đến một hệ quả là đối tượng này được xem xét một cách đa
diện và sự thừa nhận tính tình thái của ngôn ngữ tự nhiên vẫn còn là một vấn
đề cực kì phức tạp: "Hai chữ tình thái vẫn thường đi đôi với nhiều định kiến
sai lạc” [23, tr.66], “Không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và các
thành tố ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như
phạm trù tình thái" [V.Z. Panfilov, dẫn theo 38, tr.5].
Tuy nhiên, mọi người đều thừa nhận rằng tính tình thái của phát ngôn
thuộc bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa. Tình thái là một bộ phận nghĩa tất yếu
của mọi phát ngôn. Không thể có một câu nói không mang một tình thái nhất
định. (Tuy có những câu không dùng một từ nào có nghĩa tình thái như trường
hợp câu có tình thái hiện thực: “Hôm nay nghỉ học” chẳng hạn). 9

Một cách chung nhất, đưa ra một phát ngôn có nghĩa là thông tin về
một sự tình (sự thể). Trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn có hai thành phần cơ
bản tương ứng với cách gọi của Bally là modus và dictum. Trong đó dictum là
bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó. Do đó,
dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ. Modus
là bộ phận tình thái, thuộc bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc
phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được
nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn
cảnh giao tiếp. Bộ phận nghĩa tình thái tham gia vào quá trình thực tại hoá,
biến nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực. Nó
cho biết, chẳng hạn, sự tình nêu ra trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực,
khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy

cách dùng những thuật ngữ này đã bộc lộ rõ rệt những nét khác nhau trong
quan niệm của các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về tình thái của ngôn
ngữ tự nhiên. Nếu theo Fillmore [121, tr.23] thì cấu trúc nghĩa của một câu
bao gồm hai thành phần chính: thành phần mệnh đề là tâp hợp những quan hệ
có tính phi thời (tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với
thành phần còn lại là tình thái, gồm các loại ý nghĩa liên quan đến toàn bộ câu
(the sentence - as - a - whole) như phủ định, thì, thức và thể. Quan niệm này
được thể hiện trong công thức: S = M + P (trong đó S là nghĩa của câu, M là
thành phần tình thái và P là thành phần mệnh đề).
Trong một chừng mực nhất định, có thể nói cách dùng cặp thuật ngữ
của Ch. Bally: tình thái/nội dung mệnh đề được nhiều người chấp nhận hơn
cả.
Theo Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái
niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao gồm những ý nghĩa sau: 11

(1) Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói hay theo lí
thuyết hành vi ngôn ngữ là kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi,
đề nghị, cho phép, ra lệnh, bác bỏ, khuyên răn, mời mọc, cảm ơn ).
(2) Các ý nghĩa thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc
của người nói đối với nội dung được thông báo: người nói đánh giá nội dung
thông báo về mức độ quan trọng, về độ tin cậy, xem đó là điều tích cực (mong
muốn, có lợi, tốt ) hay tiêu cực (không muốn, bất lợi, xấu ), bất ngờ - ngoài
sự chờ đợi hay bình thường, về tính hiện thực hay tính khả năng
(3) Các ý nghĩa thuộc sự đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với
sự tồn tại của sự tình.
(4) Những đặc trưng liên quan đến diễn tiến của sự tình, liên quan đến
khung vị từ và mối quan hệ được nói đến trong câu với vị từ (thời, thể hay các

Trong khi lôgich học chỉ quan tâm tình thái khách quan, trình bày sự
việc như nó vốn có và loại trừ vai trò của người nói, thì trong ngôn ngữ học
tình thái chủ quan lại được coi trọng đặc biệt. Đặc điểm quan trọng nhất để
phân biệt tình thái chủ quan và tình thái khách quan là vai trò của người nói
hay tính chủ quan của người nói về sự đánh giá, mức độ cam kết của người
nói với điều được nói ra. Tức là người nói không trình bày hiện thực như nó
vốn có mà trình bày theo lăng kính chủ quan của mình và theo những ý định
riêng của mình.
Tình thái chủ quan hay tình thái ngôn ngữ được chia thành hai phạm trù
là tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa.
Tình thái nhận thức là tình thái về độ chân thực, độ cam kết đối với 13

chuẩn mực chân thực của điều được nói ra là tất yếu hay không tất yếu, có thể
hay không thể.
Xét về độ chân thực, trong tình thái nhận thức có ba phạm trù là:
- Tình thái thực hữu (factive): Người nói cho rằng sự việc được nói đến
là hiện thực hay tất yếu hiện thực.
Ví dụ: + Nó đã đi.
+ Thể nào nó cũng đi.
+ Nó lấy chồng.
+ Nó nỡ bỏ chồng.
- Tình thái phản thực hữu (contre - factive): Người nói cho rằng sự việc
nói đến là phi hiện thực hay tất yếu phi hiện thực.
Ví dụ: + Nó không cho bạn cái chong chóng.
+ Hôm qua tôi đâu đến nhà cậu.
+ Giá mà ngày trước tôi thi vào đại học!
+ Nó toan chạy.

Sự khác biệt cơ bản giữa tình thái của hành động phát ngôn với tình
thái của lời phát ngôn đã được Cao Xuân Hạo nêu rõ trong “Tiếng Việt - Sơ
thảo ngữ pháp chức năng" (quyển I). Theo ông, tình thái của hành động phát
ngôn thuộc lĩnh vực dụng học, trong khi đó tình thái của lời phát ngôn (ông
gọi là tình thái tại lời) thuộc bình diện nghĩa học.
Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương 15

diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế, bao gồm sự phân biệt quen thuộc giữa
các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến vốn là những sự phân biệt được
ngữ pháp hoá, cùng với những câu có giá trị ngôn trung được đánh dấu: câu
xác nhận, câu phản bác, câu ngôn hành.
Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt hay được
yêu cầu truyền đạt (trong câu trần thuật hay câu hỏi). Nó có liên quan đến thái
độ của người nói đối với điều mình nói ra, hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở
thuyết của mệnh đề.
Tình thái của lời phát ngôn trong câu trần thuật phân ra làm hai loại:
(1) tình thái của câu và (2) tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân.
Tình thái của câu nói phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình
nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn
của tính hiện thực (trong thời gian chẳng hạn - phạm trù thì), mức độ của tính
xác thực, của tính tất yếu (khách quan hay đạo lí), tính khả năng (vật chất hay
tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc, v.v của điều được
thông báo.
Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức thể
hiện của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do phần thuyết biểu thị
(kéo dài/không kéo dài, bắt đầu/kết thúc), v.v thường được gọi là những đặc
trưng về thể.

Đối với tiếng Việt, “các phương tiện biểu hiện tính tình thái chưa được
nghiên cứu sâu và toàn diện” [75, tr.31]. Mặt khác, “trong các ngôn ngữ
không biến đổi hình thái như tiếng Việt, sự phân biệt các phương tiện từ vựng
và ngữ pháp trong việc biểu thị các nội dung tình thái không được đặt ra
nghiêm ngặt”[106, tr.221]. Có thể kể ra một số phương tiện ngôn ngữ biểu thị 17

nội dung tình thái trong tiếng Việt:
- ngữ điệu,
- cấu trúc câu,
- các từ biểu thị tính tình thái như: động từ tình thái, động từ chỉ thái
độ mệnh đề, động từ ngữ vi, quán ngữ tình thái, tiêủ từ tình thái, thán từ, phó
từ tình thái
Nếu có sự phân biệt phương tiện từ vựng và phương tiện ngữ pháp thì
ĐTTT tiếng Việt là phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái.
1.2. KHÁI NIỆM ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI VÀ ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI
TRONG
TIẾNG VIỆT:
1.2.1. Ý kiến của các nhà Việt ngữ học về ĐTTT:
Ở những mức độ khác nhau và những cách nói khác nhau, riêng về
tiếng Việt, đã có những tác giả sau đây đề cập tới động từ tình thái: Lê Biên,
Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Cao Xuân Hạo, Đinh
Thanh Huệ, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Thị Quy tiêu biểu là Nguyễn Kim
Thản, Diệp Quang Ban và Cao Xuân Hạo.
1.2.1.1. Trong Động từ trong tiếng Việt [89, tr.165-169], Nguyễn Kim
Thản đã nêu lên ba vấn đề về động từ tình thái. Theo ông, về phương diện
cú pháp, động từ tình thái có ba đặc điểm:
- Thường không dùng một mình mà hay kết hợp với các động từ khác

+ đã cũng nói chưa? (-) 19

Có thể nói tác giả Nguyễn Kim Thản đã chưa thấy hết vai trò của
ĐTTT đối với tình thái của khung vị từ và của phát ngôn do đó chưa có sự
trình bày một cách thấu đáo. Điều đáng nói là, theo ông, ĐTTT chỉ được coi
là yếu tố phụ của vị ngữ. Đồng thời các đặc điểm cú pháp của ĐTTT như
Nguyễn Kim Thản trình bày chưa bao trùm hết ĐTTT mà ông đưa ra.
1.2.1.2. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [6, tr.65-68], Diệp Quang
Ban cũng đã ít nhiều bàn về ĐTTT:
- Khái niệm ĐTTT: ĐTTT là ĐT chỉ mối quan hệ của chủ thể nêu ở
chủ ngữ hoặc chủ thể nói với nội dung của từ đứng sau ĐTTT .
- Phân chia ĐTTT theo ý nghĩa:
+ Nhóm (1) chỉ sự cần thiết và khả năng: cần, nên, phải, cần phải, có
thể, không thể
+ Nhóm (2) chỉ ý chí, ý muốn: toan, định, dám, chịu, buồn, nỡ, muốn,
mong, chúc
+ Nhóm (3) chỉ sự "chịu đựng": bị, được, chịu, mắc, phải
- Về vai trò ngữ pháp, ĐTTT là ĐT không độc lập:
+ Trong điều kiện bình thường phải có một từ khác đi sau để bổ sung ý nghĩa.
+ Không có ý nghĩa từ vựng đầy đủ.
Tuy nhiên, ĐTTT lại có thể làm thành tố chính trong cụm từ vì nó có
hai khả năng:
+ đứng liền trước danh từ
+ đứng liền trước cụm chủ vị
Diệp Quang Ban đã nêu lên một cách tường minh về ĐTTT theo quan
điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa và đây là một trong những ý kiến gợi mở cho


21

hẵng Ông giải thích rằng: “ nhiều khi những từ biểu đạt tình thái được liệt
vào loại hư từ, nghĩa là những từ công cụ, không có nghĩa từ vựng, mặc dầu
nghĩa của các từ tình thái nếu không muốn dùng các từ này phải được diễn đạt
bằng cả một câu hay một tiểu cú gồm nhiều thực từ" [45, tr.52].
"Trước đây có một số tác giả dùng tiêu chuẩn "độc lập/không độc lập"
để phân biệt thực từ và hư từ và cũng để xác định từ nào là trung tâm trong
ngữ đoạn: từ nào không thể lược bỏ thì từ ấy là trung tâm. Chính vì việc dùng
tiêu chuẩn này ( ) mà hàng chục ĐT như: đã, đang, không, chưa, trót, bèn
và hàng chục danh từ như: cái, con, tấm, bức được coi là hư từ.
Vả lại tiêu chuẩn “độc lập / hạn chế” chưa bao giờ được vận dụng nhất
quán. Nếu lấy tiêu chuẩn “độc lập” làm đặc trưng của thực từ thì không và
chưa phải được coi là ĐT (tự mình làm thành một câu, một vị ngữ ) và là
trung tâm của vị ngữ. So sánh: * Chưa. Nó chưa đi.
* Không. Nó không đi.
* Có. Nó có đi.
Nếu đã lấy tiêu chuẩn không độc lập làm đặc trưng của hư từ thì những
động từ như nai (bao giờ cũng đi với lưng), è (bao giờ cũng đi với cổ) là
những hư từ; còn những danh từ như giọt, phía, lần là những hư từ? ” [23,
tr.70].
Là người mở đầu và cổ vũ cho ngữ pháp chức năng ở Việt Nam, Cao
Xuân Hạo đã đề cập đến ĐTTT ở góc độ ngữ nghĩa: các đặc trưng ngữ nghĩa
của ĐTTT và các đặc trưng đó đã chi phối ĐT đi kèm như thế nào. Các nhận
xét của ông là những gợi mở quí báu cho những ai quan tâm nghiên cứu
ĐTTT tiếng Việt.
Tuy nhiên, việc mở rộng các ĐTTT sang các phó từ chỉ thời gian (đã,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status