Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng việt - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


BÙI TRỌNG NGOÃN

KHẢO SÁT CÁC ĐỘNG TỪ
TÌNH THÁI
TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2004


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



BÙI TRỌNG NGOÃN

KHẢO SÁT CÁC ĐỘNG TỪ
TÌNH THÁI
TRONG TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 5.04.08

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:


:

A không chấp nhận được

- (ĐT)

:

động từ

- (ĐTTT)

:

động từ tình thái

- (HVTL)

:

hành vi tại lời

- (HY)

:

hàm ý

- (TGĐ)


Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm tình thái

1
7

7

1.2 Khái niệm ĐTTT và ĐTTT trong tiếng Việt

17

1.3 Các cách phân loại ĐTTT tiếng Việt theo hướng ngữ nghĩa

30

Chương 2 : BÌNH DIỆN KẾT HỌC CỦA ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI
TIẾNG VIỆT

36

2.1 Ngữ đoạn vị từ và những thuộc tính ngữ nghĩa- ngữ pháp của
động từ trong ngữ đoạn vị từ

36

2.2 Trung tâm của ngữ đoạn động từ có ĐTTT

38


146

3.3 Tổng kết chương

159

Chương IV: BÌNH DIỆN DỤNG HỌC CỦA ĐTTT TIẾNG VIỆT

163

4.1 Một số vấn đề chung

163

4.2 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp tái hiện

166


4.3 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp điều khiển

169

4.4 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp biểu cảm

187

4.5 ĐTTT trong những phát ngôn có HVTL thuộc lớp cam kết


bình diện làm nên nghĩa của câu. Khái niệm ngữ nghĩa của câu được mở rộng,
không chỉ bó hẹp ở nghĩa miêu tả (representative) mà còn là nghĩa tình thái
(modality), không chỉ quan tâm đến hiển ngôn mà còn cố gắng làm sáng tỏ các
cơ chế làm nảy sinh hàm ý, không chỉ quan tâm đến phát ngôn trần thuật với
giá trị chân nguỵ của nó mà còn quan tâm cả những phát ngôn có hiệu lực tại
lời khác...
Trong bối cảnh như vậy, các xu hướng ngữ pháp thiên về hình thức đã
bộc lộ một số nhược điểm không thể bỏ qua, đặc biệt ở năng lực giải thích của
chúng. Ngữ pháp chức năng, với tư cách là một khuynh hướng ngữ pháp thiên
về ngữ nghĩa, được hình thành đã phần nào khắc phục các nhược điểm của ngữ
pháp hình thức. Một trong những trọng tâm mà ngữ pháp chức năng hiện đang
theo đuổi là nghiên cứu tình thái của câu. Đã có những công trình nghiên cứu
chuyên sâu về tình thái (J. Lyons, F.R. Palmer, T. Givón) trong từng ngôn ngữ
cụ thể hay xuyên ngôn ngữ. Trong những phương tiện ngôn ngữ đánh dấu tình
thái thì các động từ tình thái (ĐTTT) (modal verbs) chiếm một vị trí rất quan
trọng, như nhận định của Louis Goosens, một trong những cộng sự của nhà ngữ
pháp chức năng Hà Lan S. Dik: "Tình thái, trong tất cả các phương diện của nó,
là một thành tố nội dung của ngôn ngữ và các ĐTTT là phương thức quan trọng
để biểu thị các đặc trưng khác nhau của tình thái trong hầu hết các ngôn ngữ
trên thế giới" (Goosens: "Tình thái và các động từ tình thái: Một số vấn đề đặt
ra đối với ngữ pháp chức năng", in trong A.M. Bolkesteine, 1985, trang 203).
Ở Việt Nam, các công trình dành cho tình thái rất ít, riêng về các ĐTTT
thì dường như chúng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Chỉ có lẻ tẻ
một số bài báo sơ bộ khảo sát các động từ được, bị, phải đề cập đến các ĐTTT
như một trong những phương tiện biểu thị tình thái (Hoàng Tuệ, [111]), một vài


luận án khảo sát sâu một nhóm ĐTTT hoặc trong các chuyên luận ngữ pháp,
khi bàn đến các tiền giả định và hàm ý, một số ví dụ về các ĐTTT được nêu ra
minh họa (Cao Xuân Hạo, [45], [47]). Trong chuyên luận "Động từ trong tiếng

bạt chủ ngữ.
2.5. Mối quan hệ tương liên giữa câu có vị ngữ là ĐTTTvới các kiểu
hành vi tại lời mà câu đó có thể thực hiện.
Vấn đề này nằm trong một khung miêu tả rộng hơn đó là sự chế định, tác
động qua lại giữa nội dung mệnh đề và khung tình thái của câu. Qua việc khảo
sát lực ngôn trung của các phát ngôn chứa ĐTTT, luận án hy vọng sẽ góp phần
làm sáng tỏ một vài khía cạnh của vấn đề.
3. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Có thể xem đề tài chúng tôi là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu một cách có
hệ thống toàn bộ tiểu loại ĐTTT tiếng Việt, đồng thời chỉ ra các đặc điểm ngữ
pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của lớp từ này trong sự so sánh với các tiểu loại ĐT
khác của tiếng Việt.
3.1. Về phương diện lý luận, luận án góp phần nghiên cứu bản chất và
đặc trưng của lớp ĐTTT tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và
dụng học. Từ đó, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò của các ĐTTT với
tư cách là một loại phương tiện biểu thị các nội dung tình thái của câu, vai trò
của động từ tình thái trong tổ chức cấu trúc của câu... Nói cách khác, luận án
góp phần dựng lên một bức tranh toàn cảnh về lớp ĐTTT tiếng Việt.
3.2. Về phương diện thực tiễn, kết quả của luận án sẽ góp thêm những tư
liệu xác đáng cho việc biên soạn một số giáo trình, tài liệu về ngôn ngữ Việt có
liên quan đến phạm vi đề tài; phần nào có ích cho các công trình nghiên cứu
đối chiếu lớp ĐTTT tiếng Việt với ĐTTT của các ngôn ngữ khác. Luận án có
thể xây dựng thành một chuyên đề riêng để giảng dạy cho sinh viên khoa Ngữ
văn. Luận án cũng có thể bổ sung những tri thức cần thiết cho người Việt Nam
cũng như người nước ngoài học tiếng Việt, giúp họ có thể sử dụng đạt hiệu quả
cao lớp từ này.
4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu:
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án ưu tiên dùng phương pháp quy nạp, từ những quan sát tư liệu
mà đề xuất và lý giải vấn đề. Trong quá trình thu thập và xử lý tư liệu, một số


PHẦN TIẾNG VIỆT
1. Chu Thuỷ An (2001), "Phân tích đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của động
từ trong mối liên hệ với chức năng cấu tạo câu cầu khiến", Ngôn ngữ (2), Hà
Nội.
2. Nguyễn Thị Ảnh (2000), "Tiếng Việt có thái bị động không?", Ngôn ngữ
(5), Hà Nội.
3. Diệp Quang Ban (1981), "Bàn về vấn đề khởi ngữ (hay chủ đề) trong tiếng
Việt", In trong Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên): Một số vấn đề về ngôn ngữ học
Việt Nam, Nxb ĐH & THCN, Hà Nội.
4. Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo câu đơn tiếng Việt, ĐHSP I, Hà Nội.
5. Diệp Quang Ban (1994), "Một khuynh hướng phân tích câu từ các mặt sử
dụng, ý nghĩa, cú pháp", Ngôn ngữ (4), Hà Nội.
6. Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, Nxb GD, Hà Nội.
7. Diệp Quang Ban - Nguyễn Thị Thuận (2000), "Lại bàn về vấn đề câu bị
động trong tiếng Việt", Ngôn ngữ (7), Hà Nội.
8. Ban Tu Thư Khai Trí (1971), Tự điển Việt Nam, Khai Trí, Sài Gòn.
9. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb
KHXH, Hà Nội.
10. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản
ngữ, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội.
11. Nguyễn Tài Cẩn (1978), "Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ
“được”, “bị”, “phải”, Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
12. Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983), Giáo


trình ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội.
13. Chafe W.L (1998), Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Nxb GD, Hà Nội.
14. Đỗ Hữu Châu (1979), "Cách xử lý những hiện tượng trung gian trong
ngôn ngữ học", Ngôn ngữ (1), Hà Nội.

29. Nguyễn Đức Dân (1987), Lôgich-ngữ nghĩa-cú pháp, Nxb ĐH&THCN,
Hà Nội.
30. Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgich và tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội.
31. Nguyễn Đức Dân (1998), "Biểu thức ngữ vi", Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
32. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb GD, Hà Nội.
33. Hữu Đạt - Trần Trí Dõi - Đào Thanh Lan (1998), Cơ sở tiếng Việt, Nxb
GD, Hà Nội.
34. Lê Đông (1991), "Ngữ nghĩa-ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh
giá của các hư từ", Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
35. Lê Đông (1992), "Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hư từ: Siêu ngôn ngữ và hư từ
tiếng Việt", Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
36. Lê Đông - Hùng Việt (1995), "Nhấn mạnh như một hiện tượng ngữ dụng
và đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng của một số trợ từ nhấn mạnh trong tiếng
Việt", Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
37. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu
tiếng Việt), Luận án PTS, ĐHKHXH&NV, Hà Nội.
38. Lê Đông - Nguyễn Văn Hiệp (2001), Ngữ nghĩa - ngữ dụng các tiểu từ
tình thái trong tiếng Việt, ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN.
39. Đinh Văn Đức (1978), "Về một cách hiểu ý nghĩa từ loại trong tiếng Việt",
Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
40. Đinh Văn Đức (1981), "Mấy nhận xét về tính không đều nhau của các yếu
tố từ vựng - ngữ pháp ở thực từ tiếng Việt", in trong Giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt về mặt từ ngữ, Tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội.
41. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Nxb ĐH&THCN, Hà
Nội.


42. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH&THCN, Hà
Nội.
43. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb GD,

55. Đinh Thanh Huệ (1995), Tiếng Việt - ngữ âm, ngữ pháp, Nxb GD,
Nội.




56. Phan Khôi (1955), Việt ngữ nghiên cứu, Hà Nội.
57. Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1940), Việt Nam văn
phạm, Nxb Tân Việt, Sài Gòn.
58. Nguyễn Lai (1977), "Một vài đặc điểm của nhòm từ chỉ hướng được dùng
ở dạng động từ trong tiếng Việt hiện đại", Ngôn ngữ (3), Hà Nội.
59. Nguyễn Lai (1990), Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, Tủ sách
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
60. Lưu Vân Lăng (1970), "Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm
ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân", Ngôn ngữ (3), Hà Nội.
61. Lưu Vân Lăng chủ biên (1988), Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, Nxb
KHXH, Hà Nội.
62. Lưu Vân Lăng (1988), "Về nguyên tắc phân định từ loại tiếng Việt", In
trong Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á, Nxb KHXH, Hà Nội.
63. Lưu Vân Lăng chủ biên (1992), Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt hiện
đại, Nxb KHXH, Hà Nội.
64. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo của tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH,



Nội.
65. Hồ Lê (1991), Cú pháp tiếng Việt, Quyển 1, Nxb KHXH, Hà Nội.
66. Hồ Lê (1992), Cú pháp tiếng Việt, Quyển 2, Nxb KHXH, Hà Nội.
67. Hồ Lê (1993), Cú pháp tiếng Việt, Quyển 3, Nxb KHXH, Hà Nội.
68. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội.

86. Lê Xuân Thại (1984), “Về việc hiện thực hoá tiền giả định tổ hợp của động
từ – tính từ ( trên cứ liệu tiếng Việt )”, Ngôn ngữ (3), Hà Nội.
87. Lê Xuân Thại (1995), Câu chủ vị trong tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội.
88. Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb
KHXH, Hà Nội.
89. Nguyễn Kim Thản (1977), Động từ trong tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội.


90. Nguyễn Kim Thản (1981), Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, NxbTổng hợp, TP.HCM.
91. Lý Toàn Thắng (1981), “Giới thiệu lý thuyết phân đoạn thực tại câu”,
Ngôn ngữ (1), Hà Nội.
92. Lý Toàn Thắng - Nguyễn Thị Nga (1982), “Tìm hiểu thêm về loại câu
“N2 - N1 -V”, Ngôn ngữ (1), Hà Nội.
93. Trần Ngọc Thêm - Hoàng Huy Lập (1991), “Thử bàn về từ và việc phân
loại từ tiếng Việt trong cách nhìn từ văn bản”, Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
94. Lê Quang Thiêm (1985), “Nhận xét về đặc điểm ngữ nghĩa của một kiểu
câu tiếng Việt”, Ngôn ngữ (4), Hà Nội.
95. Huỳnh Văn Thông (2000), “Mấy nhận xét về vị từ tình thái và ý nghĩa thể
(aspeet) trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ (8), (10), Hà Nội.
96. Nguyễn Thị Thuận (1999), “Phương diện dụng học (hành động ngôn ngữ)
của các động từ tình thái “nên”, “cần”, “phải”, Ngôn ngữ (1), Hà Nội.
97. Nguyễn Thị Thuận (1999), “Tình thái và nghĩa tình thái của động từ “nên”
trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ và đời sống (1), Hà Nội.
98. Nguyễn Thị Thuận (2001), “Thử giải thuyết tính chất “chuyển tiếp” của
động từ tình thái “phải” trong mối quan hệ với các động từ tình thái “nên”,
“cần”, và “bị”, “được”, Ngôn ngữ (7), Hà Nội.
99. Nguyễn Thị Thuận (2003), Các động từ tình thái “nên, cần, phải, bị, được”
trong câu tiếng Việt, Luận án TS, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.
100. Nguyễn Minh Thuyết (1986), “Vai trò của các từ “bị”, “được” trong câu bị
động tiếng Việt”, in trong Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ

Cambridge University Press.
127. Jakhontov (1971), Những nguyên tắc phân tích thành phần câu trong
tiếng Hán, bản tiếng Nga.

NGUỒN NGỮ LIỆU
128. Báo Tuổi trẻ (từ năm 1998 đến năm 2003).
129. Báo Thanh niên (từ năm 1998 đến năm 2003).
130. Nam Cao (1977), Nam Cao tác phẩm, tập 2, Nxb VH, Hà Nội.
131. Nguyễn Minh Châu (1999), Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb KĐ,
Hà Nội.


132. Trần Chiến (1990), Con bụi, Nxb TPM, Hà Nội.
133. Lưu Khiết Chương (1996), Truyện vui Trung Quốc (Nguyễn Sơn Liên
dịch từ tiếng Trung), Nxb PN, Hà Nội.
134. Xuân Diệu (1987), Tuyển tập Xuân Diệu, tập 2, Nxb VH, Hà Nội.
135. Nguyễn Việt Hà (1999), Cơ hội của Chúa, Nxb VH, Hà Nội.
136. Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ, Nxb Tổng hợp Phú Khánh, Nha Trang.
137. Tô Hoài (2000), Cát bụi chân ai, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
138. Nguyễn Công Hoan (1984), Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, tập 2, Nxb
VH, Hà Nội.
139. Ma Văn Kháng (2002), Côi cút giữa cảnh đời, Nxb KĐ, Hà Nội.
140. Trần Đăng Khoa (2000), Đảo chìm, Nxb TN, Hà Nội.
141. Trần Đăng Khoa (2001), Người thường gặp, Nxb TN, Hà Nội.
142. Cao Hành Kiện (2003), Linh Sơn (Trần Đĩnh dịch từ tiếng Pháp), Nxb
PN, Hà Nội.
143. Thạch Lam (1987), Gió đầu mùa, Nxb VH, Hà Nội.
144. Nhiều tác giả (1979), Trường Sơn - Thơ văn chọn lọc 1959-1979, Nxb
VH, Hà Nội.
145. Nhiều tác giả (1985), Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985, Nxb VH, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status