Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một số dân tộc nói các ngôn ngữ ba na nam - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THU HUYỀN

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ Ở MỘT SỐ DÂN TỘC
NÓI CÁC NGÔN NGỮ BA-NA NAM

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số

: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐOÀN VĂN PHÚC

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ này do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS. Đoàn Văn Phúc. Để hoàn thành luận văn này, ngoài các tài liệu tham
khảo đã liệt kê, tôi cam đoan không sao chép các công trình hoặc nghiên cứu của
người khác.
Hà nội, ngày 21 tháng 2 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thu Huyền


3.2. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ ........................................................................... 43
3.3. Tình hình sử dụng ngôn ngữ dân tộc khác ...................................................... 54
3.4. Nghiên cứu trường hợp ............................................................................... 55
KẾT LUẬN…………………………………… .......................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 70


Danh mục các chữ viết tắt
1. CĐ

: cao đẳng

2. DT

: dân tộc

3. ĐH

: đại học

4. Na

: nam

5. Nu

: nữ

6. SL


14. TV

: tiếng Việt


Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Tình trạng hôn nhân của hai dân tộc Cơ-ho và Xtiêng ............................................ 21
Bảng 2.2: Tình trạng hôn nhân của các cộng đồng dân tộc Cơ-ho ........................................... 22
Bảng 2.3: Tình trạng hôn nhân của các cộng đồng dân tộc Xtiêng .......................................... 23
Bảng 2.4: Nghề nghiệp của hai dân tộc Cơ-ho và Xtiêng ........................................................ 24
Bảng 2.5: Nghề nghiệp của các cộng đồng dân tộc Cơ-ho ....................................................... 25
Bảng 2.6: Nghề nghiệp của các cộng đồng dân tộc Xtiêng ...................................................... 26
Bảng 3.1: Thông tin về TLV của người Chil ............................................................................ 57
Bảng 3.2: Năng lực sử dụng ngôn ngữ của người Chil ............................................................ 58
Bảng 3.3: Năng lực sử dụng tiếng các vùng khác của người Chil ............................................ 60
Bảng 3.4: Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Chil trong phạm vi giao tiếp quy thức ...... 61
Bảng 3.5: Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Chil trong phạm vi giao tiếp phi quy thức 63

Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tình trạng hôn nhân đồng tộc của hai dân tộc Cơ-ho và Xtiêng ......................... 22
Biểu đồ 2.2: Tình trạng hôn nhân đồng tộc của các cộng đồng dân tộc Cơ-ho ........................ 23
Biểu đồ 2.3: Tình trạng hôn nhân đồng tộc của các cộng đồng dân tộc Xtiêng ....................... 24
Biểu đồ 2.4: Nghề nghiệp của hai dân tộc Cơ-ho và Xtiêng .................................................... 25
Biểu đồ 2.5: Nghề nghiệp của các cộng đồng dân tộc Cơ-ho ................................................... 26
Biểu đồ 2.6: Nghề nghiệp của các cộng đồng dân tộc Xtiêng .................................................. 27


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

tổng kết đầy đủ về tình hình sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thuộc các ngữ hệ ở
Việt Nam, trong đó có các ngôn ngữ nhóm Ba-na Nam. Một số năm gần đây, trong
những công trình nghiên cứu (thuộc hệ đề tài các cấp), Phòng nghiên cứu ngôn ngữ
các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã tiến hành điều tra tình hình sử dụng ngôn ngữ
của cư dân nhiều dân tộc thiểu số, trong đó có việc sử dụng ngôn ngữ của một số
nhóm, tiểu chi, chi thuộc ngữ hệ Nam Á. Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ sở tư liệu
của Phòng nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số thuộc Viện Ngôn ngữ học, chúng
tôi thực hiện đề tài Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một số dân tộc nói các ngôn
ngữ Ba-na Nam để bước đầu tiến hành tổng kết đánh giá tình hình sử dụng ngôn
ngữ của một số dân tộc Cơ-ho, Xtiêng. Thông qua nghiên cứu này, đề tài sẽ đem
đến bức tranh đầy đủ hơn về tình hình sử dụng ngôn ngữ của cư dân các dân tộc này
để góp phần phát triển tiếng Việt ở vùng dân tộc, cũng như góp phần bảo tồn và
phát huy vai trò các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về vấn đề tình hình sử dụng ngôn
ngữ của cư dân các dân tộc thiểu số vẫn còn rất hạn chế. Hầu hết các đề tài nghiên
cứu thường mới chỉ quan tâm đến tình hình sử dụng ngôn ngữ riêng rẽ ở một số các
dân tộc hay một số nhóm dân tộc hoặc nhóm địa phương. Có thể kể đến một số
công trình, bài viết của một số tác giả hay nhóm tác giả về vấn đề này. Đó là các
Chương trình, dự án, đề tài/nhiệm vụ cấp Nhà nước, Bộ do Viện Ngôn ngữ học thực
hiện: Tiếng Dao ở Việt Nam (2000, Hoàng Văn Ma chủ nhiệm), Bảo tồn và phát
huy tiếng nói, chữ viết Chăm trong tình hình mới, (2007) và Khảo sát, nghiên cứu
vai trò của tiếng nói và chữ viết Chăm trong đời sống xã hội của người Chăm hiện
nay (2010) do Nguyễn Văn Khang làm chủ nhiệm, đề tài Các ngôn ngữ Nam Á ở
Việt Nam (2010) do Tạ Văn Thông làm chủ nhiệm. Hoặc một số đề tài khác do Viện
Ngôn ngữ học thực hiện trong thời gian gần đây: Chính sách ngôn ngữ của nhà

2


3


Giang (2011), Nguyễn Thị Huệ (2011), Phan Lương Hùng (2010),...
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Cho đến nay, trên thế giới dường như rất hiếm có một công trình nghiên cứu
nào về tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một số dân tộc sử dụng các ngôn ngữ nhóm
Ba-na Nam ở Việt Nam.
Hầu hết các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung vào các vấn đề như: chính sách
về giáo dục tiếng mẹ đẻ/giáo dục song ngữ của quốc gia, giáo dục tiếng mẹ đẻ/xóa
mù song ngữ cho các cộng đồng thiểu số, phát triển hệ thống chữ viết ngôn ngữ
thiểu số, huy động cộng đồng và xác định nhu cầu học tập,..
Có thể kể đến một số công trình, bài viết của một số tác giả hay nhóm tác giả
về vấn đề này. Đó là các Chương trình, dự án: Giáo dục bằng ngôn ngữ bản địa:
Chính sách và Kinh nghiệm thực tế ở Đông Nam Á của Kosonen (2005, K), Sự biến
mất của tiếng nói: Sự tuyệt chủng của các ngôn ngữ trên thế giới (2000, nxb ĐH
Oxford ) của Nettle, D.&Romaine, S hay công trình Chính sách ngôn ngữ (2004,
nxb ĐH Cambridge) của Spolsky, B; công trình Kế hoạch hóa ngôn ngữ và sự thay
đổi xã hội (1989, nxb ĐH Cambridge) của Cooper, R.L; công trình Cái chết của
ngôn ngữ (2002, Nxb ĐH Cambridge) của Crystal, công trình Nghiên cứu "Ngôn
ngữ trong chính sách giáo dục và thực tiễn ở Việt Nam" cho NICEF Hà Nội của
Kosonen, K.(2004) chưa xuất bản,..
Ngoài các công trình nêu trên, có thể thấy một số bài viết của các tác giả về
những vấn đề này: bài viết của Malone, D.L.(2003) về Biên soạn tài liệu chương
trình cho giáo dục những ngôn ngữ đang gặp nguy hiểm: Bài học từ thực tế đăng
trên Tạp chí giáo dục song ngữ và song ngữ quốc tế 6(5), trang 332-348; bài viết
của Vawda, A.Y.&Patrinos, H.A. (1999) về Biên soạn các tài liệu giáo dục bằng
ngôn ngữ bản địa đăng trên tạp chí Phát triển giáo dục quốc tế 19 (4-5) trang 287299, bài viết của Webb, V. (1999) về Hiện tượng đa ngữ ở Cộng hòa Dân chủ Nam
Phi: Sự đánh giá quá cao của chính sách ngôn ngữ đăng trên Tạp chí Phát triển

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một số dân tộc
nói các ngôn ngữ Ba-na Nam thuộc tiểu chi Ba-na ở Việt Nam thông qua tình hình
sử dụng ngôn ngữ của họ trong các phạm vi, môi trường giao tiếp trên tư liệu điều
tra xã hội học về khả năng hiểu, sử dụng ngôn ngữ của các cư dân này.

5


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Cư dân sử dụng các ngôn ngữ tiểu chi Ba-na ở Việt Nam có nhiều, song
trong tình hình tư liệu (hiện có và tương đối đầy đủ) nên ở đề tài này, chúng tôi đi
sâu nghiên cứu tình hình sử dụng ngôn ngữ của một số dân tộc: Cơ-ho, Xtiêng,
thông qua thực trạng sử dụng ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt, tiếng các dân tộc
thiểu số khác ở địa bàn định cư) của họ trong các phạm vi, môi trường, bối cảnh
giao tiếp khác nhau của đời sống xã hội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở coi "ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất của con người" và ngôn ngữ là một trong những biểu hiện của các
mối liên hệ xã hội giữa người với người. Ngôn ngữ gắn liền với các hoạt động giao
tiếp của con người trong xã hội và bị quy định bởi những điều kiện cụ thể của một
thời kì lịch sử xã hội nhất định.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ tính chất, đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài này,
Phương pháp nghiên cứu tiếp cận đề tài mà chúng tôi áp dụng là cách tiếp cận từ góc
nhìn của ngôn ngữ học xã hội. Còn phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp
miêu tả với các thủ pháp luận giải bên trong (phân loại, hệ thống hóa tư liệu, xác định
đơn vị miêu tả) và các thủ pháp luận giải bên ngoài (thống kê, so sánh, tâm lí tộc
người) để làm rõ tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một số dân tộc nói các ngôn ngữ Bana Nam thuộc tiểu chi Ba-na. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác.

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở phạm vi giao tiếp quy thức
Chương 3: Tình hình sử dụng ngôn ngữ ở phạm vi giao tiếp phi quy thức
Phụ lục

7


Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm năng lực ngôn ngữ và cộng đồng ngôn ngữ
Khái niệm năng lực nói chung là một khái niệm đã được quan tâm nghiên cứu
từ nhiều thế kỉ nay. Khái niệm năng lực (competence) này cũng gắn với khái niệm về
sự thực hiện (performance). Theo Chomsky, năng lực ở một người nói bản ngữ lý
tưởng là hàm chỉ những kiến thức hiển ngôn hay hàm ẩn của người này về hệ thống
ngôn ngữ [46, tr.5].
Năng lực ngôn ngữ là khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ của các cá nhân
trong cộng đồng ở các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Theo Nguyễn Thiện Giáp, cộng
đồng ngôn ngữ là ''nhóm người sử dụng cùng một ngôn ngữ hay một phương ngữ để
giao tiếp với nhau... Cộng đồng ngôn ngữ có ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát
triển của ngôn ngữ" [Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục 2016, tr.132].
Dựa vào năng lực sử dụng và việc sử dụng ngôn ngữ của các cá nhân trong
cộng đồng mà ta có cộng đồng đơn ngữ, cộng đồng song ngữ, cộng đồng đa ngữ.
Cộng đồng đơn ngữ là cộng đồng mà các cá nhân trong cộng đồng chỉ có thể
sử dụng một ngôn ngữ để giao tiếp. Cộng đồng song ngữ là cộng đồng mà các cá
nhân trong cộng đồng có thể sử dụng hai ngôn ngữ để giao tiếp. Theo Phan Ngọc và
Phạm Đức Dương (1983) hiện tượng song ngữ có thể hiểu là "hiện tượng một người
có tiếng mẹ đẻ là A, nhờ biết ít nhiều về ngôn ngữ B mà có thể giao tiếp với một tộc

1.1.3. Thái độ ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ là một vấn đề rất quan trọng và có ý nghĩa trong việc lựa
chọn ngôn ngữ để sử dụng ở các dân tộc thiểu số. Nó liên quan mật thiết đến việc
bảo tồn, duy trì phát triển tiếng mẹ đẻ hay sự tiêu vong của ngôn ngữ mẹ đẻ ở các
dân tộc thiểu số nước ta. Theo tác giả Nguyễn Văn Khang, thái độ ngôn ngữ có thể
được hiểu là "sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng hành vi của một cộng đồng hay
cá nhân đối với một ngôn ngữ hoặc một hiện tượng ngôn ngữ nào đó" [15, tr.85].
Có nhiều cách phân loại thái độ ngôn ngữ, song người ta thường phân chia thái
độ ngôn ngữ thường ba loại lớn: thái độ trung thành đối với ngôn ngữ; thái độ tự ti về
ngôn ngữ và thái độ kì thị đối với ngôn ngữ.
Thái độ trung thành đối với ngôn ngữ thể hiện qua việc tiếp nhận, sử dụng ngôn
ngữ của dân tộc mình mặc dù đã thoát khỏi cộng đồng mình, và thái độ phản cảm với
những người cùng dân tộc mình nhưng không còn nói tiếng của địa phương mình nữa.

10


Thái độ kì thị về ngôn ngữ là thái độ phân biệt đối xử do thành kiến. Kì thị
ngôn ngữ đồng nghĩa với việc đề cao, coi trọng ngôn ngữ khác.
Thái độ tự ti về ngôn ngữ là thái độ xuất hiện ở việc tiếp xúc giữa ngôn ngữ
của dân tộc có số lượng người sử dụng tương đối ít, lịch sử tương đối ngắn, lưu
truyền không sâu rộng với ngôn ngữ có số lượng người sử dụng tương đối đông,
lịch sử lâu dài, được lưu truyền sâu rộng.
1.1.4. Khái niệm giao tiếp quy thức và giao tiếp phi quy thức
Giao tiếp luôn luôn tồn tại trong bất kì xã hội nào. Giao tiếp là tiếp xúc và
trao đổi tâm tư, tình cảm với nhau để duy trì các mối quan hệ trong xã hội. Hoạt
động giao tiếp của con người có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện khác nhau.
Trong đó, phương tiện quan trọng nhất và chủ yếu nhất là ngôn ngữ. Tuy nhiên, đối
với các dân tộc thiểu số thì việc lựa chọn ngôn ngữ nào trong giao tiếp để đạt được
mục đích, hiệu quả nhất cũng là một điều hết sức thú vị. Bởi lẽ, đồng bào các dân

hay các nơi công cộng như ở chợ, bến xe,...
- Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp. Nhân vật
giao tiếp gồm người phát ngôn (người nói) và người tiếp nhận phát ngôn (người
nghe). Hai vai này có thể hoán đổi cho nhau trong cuộc giao tiếp.
Theo [2] trong hoạt động giao tiếp, mối quan hệ giữa những người tham gia
giao tiếp cũng chi phối lớn tới ngôn ngữ được sử dụng. Mối quan hệ giữa những
người tham gia giao tiếp gồm: quan hệ xã hội, quan hệ họ hàng ruột thịt, quan hệ
tình cảm. Thông thường, tiếng nói của những người có cương vị cao hơn sẽ thể hiện
quyền lực mạnh hơn. Ngược lại, tiếng nói của những người có quyền lực thấp sẽ thể
hiện sự lễ phép, nhún nhường. Những người quen biết, thân thiết thì có thể nói năng
tự nhiên, thoải mái; giữa những người xa lạ, giao tiếp mang tính lịch sự, xã giao thì
nói năng cần ý tứ, tránh thất thố, tự nhiên thái quá,...
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khái quát về cảnh huống ngôn ngữ - tộc người ở Việt Nam
1.2.1.1. Khái niệm về cảnh huống ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ-tộc người ở Việt Nam đã được quan tâm từ khá sớm
nên đến nay đã có rất nhiều cách định nghĩa về "cảnh huống ngôn ngữ". Các định
nghĩa về cảnh huống ngôn ngữ cũng chưa thực sự đạt đến sự đồng nhất của nhiều

12


nhà khoa học.
Tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng: Cảnh huống ngôn ngữ là "toàn bộ các ngôn
ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có các quan hệ tương hỗ về
mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về mặt chức năng trong một
vùng địa lí hoặc một thể thống nhất về chính trị-hành chính nhất định" [28, tr.126].
Tác giả Nguyễn Văn Lợi quan niệm: "cảnh huống ngôn ngữ là toàn bộ các
hình thức tồn tại (bao gồm cả các phong cách) của một ngôn ngữ, hay toàn bộ các

thứ tiếng ở khu vực đó, quan hệ về cấu trúc và cội nguồn của mỗi ngôn ngữ, tính chất
cân bằng về chức năng của các ngôn ngữ, tính chất cân đối - phi cân đối về chức năng
của các thứ tiếng, đặc điểm của ngôn ngữ nổi trội trong phạm vi quốc gia. Nhóm định
giá gồm các tiêu chí liên quan đến sự đánh giá của người bản ngữ hay người nói ngôn
ngữ khác về tính hữu ích, giá trị văn hóa của các ngôn ngữ.
Tác giả Nguyễn Văn Khang [15, tr.60] cho rằng có ba tiêu chí tổng hợp về
cảnh huống ngôn ngữ là: tiêu chí về lượng, tiêu chí về chất, tiêu chí về thái độ. Cũng
theo tác giả, tiêu chí về lượng gồm các thông số: số ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ..,
số lượng người sử dụng từng ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ...Tiêu chí về chất bao gồm
các thông số: các ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ có phải là ngôn ngữ thực sự hay chỉ
là biến thể của ngôn ngữ và ngược lại; quan hệ giữa các ngôn ngữ, biến thể về cấu
trúc - cội nguồn; ... Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ thể hiện ở thái độ đối với ngôn ngữ
hay biến thể ngôn ngữ của cộng đồng mình hay cộng đồng khác.
1.2.1.2. Vài nét về đặc điểm cảnh huống các ngôn ngữ ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Theo các tài liệu chính
thức, Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống và sử dụng các ngôn ngữ thuộc 5 ngữ
hệ khác nhau là: Nam Á, Tai - Ka Đai, Nam Đảo, Hmông - Dao, Hán - Tạng.
Với việc sử dụng các hệ ngôn ngữ đa dạng như vậy, Việt Nam thực sự là thiên
đường nghiên cứu cho các nhà ngôn ngữ học. Tuy có sự đa dạng về nguồn gốc nhưng
xét về mặt loại hình thì tất cả các ngôn ngữ ở Việt Nam đều thuộc loại hình ngôn ngữ
đơn lập. Nhìn trên đại thể, bức tranh ngôn ngữ của nước ta rất phong phú (với khoảng
trên dưới 100 ngôn ngữ khác nhau). Đây là kết quả của một quá trình hình thành và
biến đổi của các ngôn ngữ theo hai hướng: phân li và quy tụ. Phân li là quá trình từ
một ngôn ngữ gốc chia tách ra thành các phương ngữ hay các ngôn ngữ mới. Quy tụ
là quá trình xích lại gần nhau của các phương ngữ hay ngôn ngữ do tiếp xúc lâu dài.

14


Theo kết quả điều tra dân số 01/4/2009, dân tộc Kinh có 73.594.427 người

Dân tộc Mạ cũng gồm nhiều nhóm địa phương như: Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ
Krung, Mạ Ngăn,... Người Mạ cư trú chủ yếu ở các huyện: Bảo Lâm, Đạ Tẻ, Đạ
Hoai. Đến nay, chưa thấy một công trình nào nghiên cứu về tiếng Mạ được công
bố1. Do vậy tiếng Mạ có thể cũng bao gồm nhiều phương ngữ khác nhau.
Dân tộc Chơ-ro cư trú tập trung ở tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình
Thuận. Tại Đồng Nai, người Chơ-ro sống tập trung ở Long Khánh, Xuân Lộc, Định
Quán. Tại Bà Rịa – Vũng Tàu, người Chơ-ro sống tập trung tại hai huyện Châu Đức
và Xuyên Mộc. Còn tại Bình Thuận, người Chơ-ro sống chủ yếu tại các huyện Đức
Linh và Tánh Linh.
Mức độ nghe hiểu các phương ngữ của mỗi dân tộc cũng khác nhau. Thông
thường nam giới hay đi làm ăn xa nên khả năng nghe hiểu các phương ngữ của ngôn
ngữ mình sẽ tốt hơn phụ nữ. Trong các dân tộc này, số người biết chữ dân tộc mình
chiếm tỉ lệ rất thấp. Có dân tộc còn không biết chữ của dân tộc mình vì chữ viết tuy đã
được xây dựng nhưng lại chưa được phổ biến giảng dạy trong các trường học.
1.2.2.2. Đặc điểm xã hội - ngôn ngữ học
Khu vực cư trú của các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ nhóm Ba-na Nam nằm
tập trung chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng và một số tỉnh ở vùng Đông Nam Bộ, như:
Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu. Cư dân sử
dụng các ngôn ngữ này ở nước ta có 422.549 người, trong đó: Chơ-ro: 26.855
người; Cơ-ho: 166.112 người, Xtiêng: 85.436 người, Mạ: 41.405 người, Mnông:
102.741 người (theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/4/2009).
Từ sau năm 1975, sự phân bố các dân tộc sử dụng các ngôn ngữ nhóm Ba-na
Nam đã có sự thay đổi. Cư dân nhiều dân tộc thiểu số ở phía bắc, ven biển Trung và
Đông Nam Bộ đã di cư vào khu vực này để xây dựng kinh tế. Quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa cùng các nhân tố xã hội khác đã kéo theo sự
thay đổi đời sống của cư dân. Các dân tộc sống đan xen nhau, thậm chí sự đan xen
Năm 1981, trong chương trình hợp tác Việt Xô đã nghiên cứu, thu thập tư liệu về tiếng Mạ ở huyện Đạ
Hoai nay là các huyện Đạ Hoai, Đạ Tẻ và Cát Tiên) ở Lâm Đồng. Song các tư liệu về tiếng Mạ chưa được
công bố.
1

nước, còn lại chủ yếu để hiến tế trong các nghi lễ. Ngoài trồng trọt và chăn nuôi,
người Cơ-ho còn săn bắt thú rừng, hái lượm để cải thiện cuộc sống. Nghề thủ công
phổ biến là đan lát và rèn, riêng người Chil còn có thêm nghề dệt,... Tùy theo đặc

17


điểm từng vùng, từng địa bàn cư trú và những điều kiện lịch sử khác nhau mà giữa
các nhóm Cơ-ho có những chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Đơn vị tổ chức xã hội của người Cơ-ho là Làng/bon. Đó vừa là một đơn vị tổ
chức xã hội, vừa là một đơn vị kinh tế. Làng mang đậm dấu ấn của thị tộc mẫu hệ dựa
trên cơ sở cư trú trong những căn nhà dài, kế cận nhau theo nhóm dòng họ. Đứng đầu
Làng là chủ làng (kuang bon). Chủ làng là hiện thân của truyền thống và là một yếu
tố tinh thần đưa đến sự thống nhất của cộng đồng làng trong xã hội Cơ-ho.
Trong xã hội truyền thống của người Cơ-ho tồn tại hai hình thức gia đình
theo chế độ mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Người phụ nữ đóng vai trò chủ
động trong hôn nhân, sau hôn lễ người đàn ông về ở nhà vợ. Theo xu thế phát triển,
tổ chức gia đình lớn của người Cơ-ho dần tan rã thay vào đó là gia đình nhỏ xuất
hiện và ngày càng phổ biến. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng và cư trú bên vợ
đã được xác lập và duy trì ở người Cơ-ho. Con cái lấy họ theo mẹ. Do trình độ phát
triển xã hội còn thấp, người Cơ-ho tin rằng mọi mặt của đời sống đều do các thế lực
siêu nhiên quyết định. Đến nay, các lễ nghi phong tục cổ truyền của người Cơ-ho
vẫn còn được bảo lưu. Bên cạnh đó, một bộ phận khá lớn người Cơ-ho đã theo đức
tin Kitô giáo được du nhập từ bên ngoài, bao gồm cả Công giáo (Rôma) và Tin
lành. Kinh thánh và các tài liệu truyền giáo khác đã được dịch ra tiếng Cơ-ho. Các
nhà truyền giáo đã sử dụng ngôn ngữ đó để giảng đạo.
Chữ viết của người Cơ-ho xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Bộ chữ này được
xây dựng bằng hệ chữ Latin. Mặc dù được cải tiến nhiều lần và đã từng được dùng
để dạy trong một số trường học nhưng chữ Cơ-ho chưa phổ cập. Nền văn học nghệ
thuật dân gian Cơ-ho rất phong phú.

trùm và nổi bật. Già làng và các bô lão có vai trò quan trọng đặc biệt trong làng.
Tập tục hôn nhân giữa các nhóm cũng có những điểm khác nhau. Nếu nhà
trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng nhưng thực tế phần đông phải ở rể
do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu nhà gái. Ở Vùng Bình Long, chàng rể luôn
phải về ở nhà vợ.
Người Xtiêng quan niệm "thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần
lúa, thần mặt trời, thần núi. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói
chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn,...Dân tộc Xtiêng có rất nhiều lễ cúng
lớn nhỏ khác nhau. Lễ hội đâm trâu là lớn nhất được tổ chức để mừng được mùa

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status