MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, giáo dục - đào tạo có vai trò rất quan trọng đối
với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại, là nền tảng trong sự nghiệp phát
triển quốc gia. Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, nó được xem là
chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước, góp phần
đưa đất nước hội nhập với các nước phát triển.
Trong thời gian qua, giáo dục nước ta đã có những bước phát triển mới,
đạt được một số thành tựu đáng kể. Tuy nhiên nền giáo dục - đào tạo nước ta
phải đối mặt với nhiều khó khăn và tồn tại, nhiều thời cơ và cũng nhiều thách
thức đang chờ đón. Câu hỏi được đặt ra: Vậy khó khăn và tồn tại nào? Có
những thời cơ và thách thức ra sao? Trước vấn đề đó thì quan điểm chỉ đạo
nào được đưa ra, mục tiêu phát triển giáo dục nào được hướng tới và những
giải pháp nào được đề ra để khắc phục những khó khăn, tồn tại, tận dụng thời
cơ và thành công trước những thách thức đó?
Nhằm làm sáng tỏ, hiểu sâu sắc hơn, nắm vững hơn về vấn đề trên và
cùng với sự tâm huyết của bản thân về lĩnh vực giáo dục - đào tạo nước nhà
hiện nay nên bản thân chọn đề tài “ Quản lỷ Nhà nước về giáo dục - đào tạo”
làm tiểu luận kết thúc môn “Quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực trọng yểu
B.
NỘI BUNG
ĩ. MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
e
s
1.Một số khái niêm;
Là động lực quan trọng để phát triển xã hội: Bởi không có tri thức, hiểu biết về xã
hội, tự nhiên và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực trưởc những
thế lực và sức mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình. Giáo dục - đào tạo
còn góp phần tạo ra giá trị xã hội mới. Nguồn lực phát triến kinh tế - xã hội ở mỗi quốc
gia, dân tộc từ tài nguyên, sức lao động cơ bắp là chính chuyển sang nguồn lực con
người có tri thức là cơ bản nhất.
Góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia , dân tộc: Điều này thể hiện ở
việc xâv dựng đội ngũ lao động có trĩnh độ cao làm giàu cửa cải vật chất cho xã hội
đồng thời có bản lĩnh ehính trị vững vàng, đủ sức đề kháng chống lại các cuộc” xâm
lăng văn hóa” trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.
Là nhân tố quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc: Giáo
dục — đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia; phát huy năng lực nội sinh” đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời gian công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước; bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn, tay nghề cao, góp phần quan trọng phát triển khoa học - công nghệ là yếu
tố quyết định cua kinh tế tri thức.
2.
2. /Vai trò của quản ỉỷ nhà nước về giáo dục — đào tạo
Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo có những vai trò quan trọng. Nó
đóng vai trò định hướng nền giáo dục - đào tạo nước nhà phát triển phù hợp xu
thế khách quan và “ đi tắt đón đầu” văn minh nhân loại. Ngoài ra quản lý nhà nước về
giáo dục - đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển lực lượng sản
xuất, trong đó tập trung phát triển nhân tố con người.
3..
Nội dung chủ yêu của quản lý nhà nước vê giáo dục - đào tạo
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố
cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
1.
1.1.
Nguyên tắc quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo
Nguyên tắc kết hợp quản ỉỷ theo ngành và quản lý theo lãnh thổ: Mọi cơ
sở giáo dục đều: Thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo theo sự chỉ đạo
ngành dọc, đóng trên một địa bàn cụ thể
Vì vậy phải tuân thủ sự quản lý của ngành và quản lý hành chính của địa phương
theọ quy định phân cấp của nhà nước. Mọi hoạt động quản lý không thể tách rời sự chỉ
đạo theo ngành dọc và theo lãnh thổ ỉà một nguyên tắc quan trọng trong quản lý nhà
nước nói chung và quản lý về ẹiáo dục - đào tạo nói riêng.
1.2.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản ỉỷ nhà nước về giáo dục và đào
tạo
Là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị - xã hội ở nước ta. Là một nguyên
tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
+ Ở góc độ vĩ mô, nguyên tắc yêu cầu: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống
giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung... quy chế thi cử và hệ thống văn
bằng (Điều 14, Luật giáo dục) Phân cấp rõ ràng về quản lý giáo dục cho địa phương.
Tạo điều kiện để cơ sở phát huy chủ động và sáng tạo.
+ Đối với cơ sở: Phải tuân thủ hành lang pháp ỉý về giáo dục - đào tạo, phát huy
quyền làm chủ của tập thể sư phạm, đề cao trách nhiệm cá nhân, chế độ thủ trưởng.
Nắm vững tư tưởng Dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá nhà trường và các văn bản
hội học tập cho mọi người, bước đầu xây dựng xã hội học tập
Tỷ lệ HS trong độ tuổi đi học tăng nhanh( 2001- 2010): Trong đó, mẫu giáo 5 tuổi
tăng từ 72% lên 98%, tiểu học tăng từ 94% lên 97 %,trung học cơ sở tăng từ 70% lên
85%, trang học phổ thông tăng từ 33% lên 50%, quy mô đào tạo nghề tăng 3,08 lần,
trung học chuyên nghiệp tăng 2,69 lần; cao đẳng và đại học tăng 2,32 lần, tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo đạt 43%, bước đầu đáp ứng thị trường lao động.
Đã xóa được các xã trắng về Giáo dục Mầm non, trường tiểu học có ở tất cả các
xã, trường THCS đã có ở tất cả các xã hoặc liên xã, trường THPT có ở tất cả các huyện.
Các tỉnh, huyện có đồng bào dân tộc thiểu số đã có trường phổ thông dân tộc nội trú,
phổ thông dân tộc bán trú. Mạng lưới GDTX phát triển mạnh. Cơ sở đào tạo nghề,
THCN được thành lập ở hầu hết địa bàn đông dân cư, các vúng , các đô thị, kể cả những
vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng song Cửu Long.
Công tác xóa mù chữ được duy trì, từng bước phát triển, cả nước đã hoàn thành
mục tiêu phổ cập GDTH năm 2000. Phổ cập giáo dục THCS năm 2010, GDMN cho trẻ
5 tuổi và phổ cập GDTH đúng độ tuổi, một số địa phương đang thực hiện phổ cập giáo
dục trung học.
Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ, trình độ hiểu
biết, năng lực tiếp cận tri thức của học sinh, sinh viên bước đầu được nâng cao một
bước. Phát triển giáo dục - đào tạo đã chuyển hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
phát triển kinh tế xâ hội, khoa học và công nghệ, từng bước đáp ứng nhu cầu của thị
trường lao động
Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện hơn, đặc biệt là
người dân tộc thiểu số, các COĨ 1 em gia đình nghèo, trẻ em gái và các đối tượng
bị thiệt thòi được quan tâm.
Công tác quản lý giáo dục: Có bước chuyển biến tích cực khắc phục các tiêu cực
trong ngành, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và án bộ quản lý giáo dục, đổi mới cơ chế tài
quán triệt đầy đủ đường lối của Đảng về giáo dục và chưa quan tâm đúng mức trong
việc chỉ đạo và tổ chức chiến lược.
Tư duy về giáo dục còn chậm đổi mới. Bệnh thành tích vẫn còn chi phối trong
dạy học và thi cử.
Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền
chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội.
Số lượng các cơ sở đào tạo, quy mô tăng nhưng các điều kiện đảm bảo chất ■
lượng chưa tương xứng.
Chất lượng giáo dục: Còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời
kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực, trên thế
giới, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất
lượng; năng lực nghề nghiệp của học sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu
cầu của công việc, có biểu hiện lệch lạc về hành vi, lối sống trong một bộ phận học sinh,
sinh viên.
Quản ỉý giáo dục: Nhiều bất cập, bao cấp, ôm đồm, sự vụ, chồng chéo, phân tán;
trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn
quản lý về nhân sự và tài chính. Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu
đồng bộ, chậm sửa đổi, bổ sung. Sự phối hợp giữa ngành giáo dục và các bộ, ngành, địa
phương chưa chặt chẽ. Chính sách huy động và phân bổ
nguồn lực tài chính cho giáo dục chưa hợp lý; hiệu quả sử dụng chưa cao. Đầu tư
của Nhà nước cho giáo dục chưa tập trung cao cho những mục tiêu ưu tiên; phần chi cho
hoạt động chuyên môn còn thấp. Quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở aiáo dục
chưa được quy định đầy đủ, sát thực
Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ
giáo dục trong thời kỳ mới: Đội ngũ thừa, thiếu cục bộ, không đồng bộ về cơ cấu'
chuyên môn. Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau đại học trong giáo dục đại học còn thấp. Một
bộ phận nhỏ nhà giáo và cán bộ quản lý nhà nước có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm
huyết với nghề, vi phạm đạo đức và lối sống. Năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán
được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ
vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững
chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Chiến lược cũng đã xác định rõ một
trong ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt
chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Sự phát
triến của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng
thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.
2.2.' Thời cơ và thách thức '
2.'2.1. Thời cơ
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu,
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để
phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm vừa
qua và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh
tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân
lực trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ bản để ngành giáo dục cùng các bộ, ngành,
địa phương phát triển giáo dục.
Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền
thông sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung, phương pháp và
hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, tiến tới một nền giáo dục điện tử
đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân người học.
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu
tạo cơ hội thuận lợi để tiếp cận với các xu thể mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục
hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục.
\ 2.2.2o Thách thức
Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Khoảng cách
ậ.Giảo dục mầm non
Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm
201:5; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ
tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy
dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống dưới 10%.
b)
Giáo dục phổ thông
Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, đặc biệt chất lượng giáo dục văn
hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học.
Đen năm 2020, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99%, trung học cơ sở là
95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương
đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.
c)
Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học; điều chỉnh cơ cấư
ngành nghề và trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực
cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy
độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ
luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng
với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh
trong khu vực và thế giới.
Đen năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số
học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học
lý, hoàn thiện và triển khai cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong
quản lý nhà nước về giáo dục theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền gắn với trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tăng quyền tự chủ
và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đi đôi với hoàn thiện cơ chế công khai,
minh bạch, đảm bảo sự giám sát của cơ quan nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội
và nhân dân.
Bảo đảm dân chủ hóa trong giáo dục. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh
giá người dạy, giáo viên và giảng viên tham gia đánh giá cán bộ quản lý, cán bộ quản lý
cấp dưới tham gia đánh giá cán bộ quản lý cấp trên, cơ sở giáo dục tham gia đánh giá cơ
quan quản ỉý nhà nước về giáo dục.
Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, xây dựng khung trình độ quốc gia
về giáo dục tương thích với các nước trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo phân
luông trong hệ thông, đặc biệt là phân luông sau trung học cơ sở, trung học phố thông và
liên thông giữa các chương trình giáo dục, cấp học và trình độ đào tạo; đa dạng hóa
phương thức học tập đáp ứng nhu cầu nhân lực, tạo cơ hội
học tập suốt đờí cho người dân.
Phân loại chất lượng giáo dục phố thông, giáo dục nghề nghiệp và đại học theo
các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn phải có lộ trình
để tiến tới đạt chuẩn; chú trọng xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến, trọng điểm, chất
ỉượng cao để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các ngành
kinh tế - xã hội.
Thực hiện quản lý theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và
quy hoạch phát triển nhân lực của từng ngành, địa phương trong từng giai đoạn phù hợp
tinh hình phát triển kinh tế “ xã hội, quốc phòng - an ninh.
Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu ra và các điều kiện
đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về khoa học giáo dục, khoa
học công nghệ và khoa học quản lý, từng bước vận dụng chuẩn của các nước tiên tiến;
công khai về chất lượng giáo dục, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính của
viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ.
Thực hiện các chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần tạo động lực cho các nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục, nhất là với giáo viên mầm non; có chính sách đặc biệt
nhằm thu hút các nhà giáo, nhà khoa học, chuyên gia có kinh nghiệm và uy tín trong và
ngoài nước tham gia phát triển giáo dục.
\ Ba tò, tái cẩu trúc hệ thống giáo dục quốc dân và mở rộng mạng lưới cơ sở
gỉáo dục
Phát triển mạng lưới các cơ sở siáo dục mầm non, nhất là ở nône thôn, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc, đảm bảo đến năm 2020 có 100% xã, phường trên toàn quốc có
trường mầm non. Đảm bảo không có tình trạng học sinh bỏ học vì trường quá xa.
Đen năm 2020 có thể tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trưng học cơ sở và
30% số học sinh trung học phổ thông vào học một ngành nghề và có thể tiếp tục học lên
trình độ cao hơn khi có điều kiện
Đen năm 2020 có 100% quận, huyện có trung tâm giáo dục thường xuyên, có
95% xã, phường có trung tâm học tập cộng đồng.
: Bốn là, đối mới chương trình và tài liệu giáo dục /Áp dụng chương trình giáo
dục phổ thông mói bắt đầu từ lớp 1 Hoàn thành việc thiết kế thêm 200 chương trình
khung trình độ cao đẳng và 300 chương trình khung trình độ trung cấp nghề
- Đến năm 2020 có các chương trình tiên tiến quốc tế được sử dụng tại ít nhất
30% số trường Đại học
r
Năm là, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá
chấtiượng giáo dục
Trên cơ sở đánh giá chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tham khảo
Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo
hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra
đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi.
Thực hiện định kỳ đánh giá quốc gia về chất iượng học tập của học sinh phổ
thông nhằm xác định mặt bằng chất lượng và làm căn cứ đề xuất chính sách nâng cao
chất lượng giáo dục của các địa phương và cả nước.
Sáu ễàf xã hội hóa giáo dục
VEhể chế hóa vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân và gia
đình trong việc giám sát và đánh giá, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo
dục, xâv dựng giáo dục lành mạnh và an toàn.
Xây dựng cơ chế học phí mới đảm bảo sự chia sẻ của nhà nước, người học, thành
phần xã hội.
Khen thưởng, tôn vinh các nhà hảo tâm, doanh nghiệp đã đóng góp xuất xắc
cho sự nghiệp giáo dục.
Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc mở các trường đại học chất lượng cao,
100% vốn nước ngoài ở Việc Nam.
Bậy là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục và gắn đào
ỵy
^
tạo với nhu câu xã hội.
0©
Hoàn thành việc xây dựng chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các
loại hình trường nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cơ bản thực hiện việc đổi mới
quá trình dạy học. Trong đó, chú trọng đến chuẩn hóa phòng học, phòng thí nghiệm,
phòng học bộ môn và trang thiết bị dạy học ớ các cấp, đặc biệt là đồ chơi an toàn cho trẻ
ó C-7
khác.
Tăng đầu tư cho giáo dục đặc biệt; có chính sách đãi ngộ đối với giáo viên giáo
dục đặc biệt và học sinh khuyết tật.
Quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo V TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.