VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÁI SƠN
ĐẶC SẮC TRUYỆN DÀI NGUYỄN NHẬT ÁNH
(Qua Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Cho tôi xin một vé
đi tuổi thơ, Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THỊ HƯƠNG THỦY
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình nào. Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình.
TÊN TÁC GIẢ
Nguyễn Thái Sơn
2.2. Những suy tư cho “những ai từng là trẻ em”
35
2.3. Tạo dựng một thế giới loài vật sống động, ngộ nghĩnh
44
Chương 3. NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ MẶT NGHỆ THUẬT
55
3.1. Cốt truyện và tình huống
56
3.2. Người kể chuyện
61
3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu
68
KẾT LUẬN
76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ánh có thể được coi là một hiện tượng đặc biệt với một sức hấp dẫn không nhỏ.
Vậy đâu là nét đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh khiến cho tác
phẩm của ông được quan tâm đến như vậy? Đặc biệt là khi đặt trong bối cảnh văn
học cũng như văn hóa đọc đang bị canh tranh khốc liệt với nhiều loại hình giải trí
khác, khi văn học thiếu nhi đương đại chưa có những đột phá thu hút được sự chú ý
của độc giả?
1.2. Nguyễn Nhật Ánh là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào. Điều này được
thể hiện khá rõ qua số lượng các tác phẩm của ông. Sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh
có thể loại truyện ngắn và đặc biệt là các truyện dài. Hơn nữa Nguyễn Nhật Ánh
chủ yếu sáng tác cho thiếu nhi, cho tuổi học trò. Chúng ta ai cũng hiểu rằng viết về
thiếu nhi không phải là điều dễ dàng. Bản thân nhà văn phải có khả năng hóa thân,
trẻ hóa tâm hồn để có thể phản ánh thế giới trẻ thơ trong trẻo như chính đôi mắt trẻ
1
thơ đang nhìn vậy. Bên cạnh đó, những đòi hỏi về ngôn ngữ, hình ảnh, cốt truyện
khi viết về thiếu nhi cũng rất khác. Phải chăng vì thế mà mảng văn học thiếu nhi
không nở rộ như các mảng văn học khác. Chọn một con đường khó đi gắn bó với nó
cả đời, Nguyễn Nhật Ánh đã có những thành công riêng, đóng góp không nhỏ vào
đời sống văn học đương đại nước nhà. Có thể khẳng định ông là một trong những
nhà văn viết cho thiếu nhi thành công nhất trong giai đoạn văn học hiện nay.
Trong truyện viết về thiếu nhi có thể thấy có hai loại: một là truyện dành dành
cho thiếu nhi, hai là truyện lấy thế giới trẻ thơ để viết cho người lớn. Cái hay của
Nguyễn Nhật Ánh có lẽ là truyện của ông đi được giữa hai lằn ranh này. Vậy điều gì
làm nên sự độc đáo đó? Tại sao bạn đọc của Nguyễn Nhật Ánh không chỉ là các em
thiếu nhi, các em ở lứa tuổi học trò mà còn là chính mỗi người lớn chúng ta? Điều
gì giúp ông duy trì được sức hấp dẫn ấy qua rất nhiều tác phẩm cùng chủ đề? Trả lời
được những câu hỏi trên có lẽ chúng ta đã khám phá ra những nét đặc sắc nhất trong
tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh cũng như đưa mỗi chúng ta trở về với những kí ức
Nhóm thứ hai là các bài viết mang tính chuyên sâu hơn về Nguyễn Nhật Ánh.
Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh có thể là các công trình chuyên
biệt, cũng có thể là các bài viết đánh giá chung về văn học thiếu nhi sau 1975, trong
đó truyện Nguyễn Nhật Ánh như một đối tượng tiêu biểu được nhắc đến. Các bài
viết này có thể kể đến công trình Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975: Diện mạo và
quá trình phát triển của Lã Thị Bắc Lý; Bách khoa toàn thư văn học thiếu nhi Việt
Nam của Vân Thanh và Nguyên An, … không chỉ nhắc tới Nguyễn Nhật Ánh như
một ví dụ mà có lẽ nó còn là ví dụ tiêu biểu và điển hình bậc nhất. Tuy các công
trình này không lấy riêng tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh làm đối tượng chuyên
biệt nhưng đã phần nào giới thiệu được những đặc trưng cơ bản trong một số sáng
tác của Nguyễn Nhật Ánh. Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên
ngành như Tạp chí Nghiên cứu văn học, Văn nghệ, Văn nghệ trẻ… nghiên cứu về
các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh. Có thể kể đến các bài viết như Nguyễn Nhật
Ánh - nhà văn thân quý của tuổi thơ của Vân Thanh trên Tạp chí Văn học số 6 năm
1998, Kính Vạn Hoa – phép lạ giữa ngày thường in trên Tuần báo Văn nghệ số 23
của Vân Hồng năm 1996, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Thị Thanh
3
Xuân trên Tuần báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh số 273 (ra ngày 26/12/1996),
Nguyễn Nhật Ánh – người bạn thân mến của độc giả trẻ của Vũ Ân Thy đăng trên
báo Sài Gòn giải phóng (1997)… Ở nhóm các bài viết này, dù là nghiên cứu về một
tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh hay tìm hiểu về nhiều tác phẩm của ông, chúng ta
cũng nhận thấy các công trình đã phần nào chỉ ra những đặc trưng trong sáng tác
của Nguyễn Nhật Ánh. Các công trình đều ghi nhận những đóng góp của Nguyễn
Nhật Ánh cho văn học thiếu nhi.
Gần đây có hai cuốn sách về Nguyễn Nhật Ánh được bạn đọc chú ý. Cuốn thứ
nhất là cuốn Nguyễn Nhật Ánh – hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ (Lê Minh Quốc
biên soạn) ra đời vào năm 2013, đây là cuốn sách đầu tiên giới thiệu khá đầy đủ các
3.2. Nhiệm vụ: Khảo sát các tác phẩm, làm rõ các phương diện đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật trong các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Những đặc điểm nổi bật, những đặc sắc về mặt
nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Tập trung vào ba tác phẩm chính: Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Cho tôi
xin một vé đi tuổi thơ, Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng.
- Ngoài ra còn khảo sát thêm các tác phẩm khác của Nguyễn Nhật Ánh, các
tác phẩm viết cho thiếu nhi của các tác giả khác để so sánh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình và phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được dùng trong việc phân tích các luận
chứng, từ đó có những đánh giá và kết luận khách quan, khoa học.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm chỉ ra những nét chung và nét độc đáo
riêng của Nguyễn Nhật Ánh so với các nhà văn khác cùng viết cho thiếu nhi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đề tài thể hiện các phương diện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật qua ba tác
phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, qua đó khẳng định vị trí của Nguyễn Nhật Ánh ở
mảng truyện viết cho thiếu nhi (chủ yếu là truyện dài).
- Đề tài sẽ góp phần nhận diện tác giả Nguyễn Nhật Ánh trong toàn bộ hành
trình sáng tác đầy sáng tạo và phong phú của ông.
5
- Đề tài cũng góp phần lý giải những xu hướng của truyện dài đương đại viết
cho trẻ thơ nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận
nói đến các nhà văn tiêu biểu của văn học thiếu nhi sau 1975, người ta không thể
không nhắc đến ông, vì phần lớn số lượng tác phẩm của ông thuộc nhóm văn học
này. Đây là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam hiện đại. Do đó, chúng
tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về nhà văn cũng như hành trình sáng tác của ông. Từ đó
có thể hiểu sâu hơn những vấn đề trong tác phẩm của nhà văn.
7
1.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Nhật Ánh
Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 07/5/1955, quê ở Bình Quế, Thăng Bình, Quảng
Nam. Có thể nói mảnh đất Quảng Nam với các đặc trưng văn hóa riêng đã in sâu
vào tâm hồn nhà văn, để rồi đi vào các sáng tác của ông một cách tự nhiên và sâu
lắng. Một tuổi thơ với miền kí ức xa xăm nhưng không thể phai mờ dần trở lại trong
các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh. Nếu như không có quê hương với xóm làng và
tuổi thơ nhiều trải nghiệm chắc thật khó để Nguyễn Nhật Ánh có thể viết được
những trang sách hay đến thế về tuổi thơ nơi những miền quê nghèo dân dã. Theo
những chia sẻ của ông, ông chỉ sống ở ngôi làng Đo Đo, Bình Quế khoảng 8 năm
nhưng nó đã trở thành một miền kí ức rực rỡ và tươi đẹp nhất: “Tôi xa quê hương,
gia đình từ rất sớm – do đó nỗi nhớ xứ sở trong tôi bao giờ cũng vẹn nguyên và rực
rỡ. Như một người đánh mất tuổi thơ sớm nên khi cầm bút viết về tuổi thơ mới lớn
là biết bao kỉ niệm ùa về, xúc cảm cứ tràn vào trang viết”. Một lần khác Nguyễn
Nhật Ánh viết: “Tôi là nhà văn. Nên tôi thỏa nỗi nhớ quê của mình theo cách của
người hành nghề con chữ. Những kỉ niệm những vùng đất những gương mặt bạn bè
ấu thơ thi nhau hiện lên trong hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. Đến bây giờ
tôi vẫn băn khoăn tự hỏi: có phải đó là nguyên nhân sâu xa khiến tôi trở thành nhà
văn chuyên viết cho tuổi thơ – một thế giới lung linh mà một kẻ tha hương không
nguôi nhớ đến và tìm mọi cách tái tạo trong những trang viết của mình” [47].
Dường như quê hương và tuổi thơ chính là chất xúc tác đầu tiên, là cơ duyên
đưa Nguyễn Nhật Ánh trở thành một nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi. Khi viết,
giúp cho con người sáng tác của tôi có một niềm tin và cái nhìn trong trẻo với cuộc
sống. Nếu không có thời gian đi Thanh niên xung phong thì không hẳn tôi đã có
những trang viết tươi tắn như bây giờ” [47, tr. 18]. Có lẽ với Nguyễn Nhật Ánh
những thử thách chính là cơ hội để nhà văn vươn lên. Ông luôn tìm thấy niềm tin và
hướng đi đúng đắn cho bản thân, luôn hướng tới những điều tốt đẹp, luôn tự đấu
tranh để thanh lọc tâm hồn mình.
Những năm 80, Nguyễn Nhật Ánh về làm công việc dạy học. Quãng thời gian
đứng trên bục giảng của ông không nhiều nhưng là khoảng thời gian nhà văn được
tiếp xúc với các em thiếu nhi, được gắn bó với tuổi học trò. Nếu chỉ có kỉ niệm tuổi
thơ của bản thân thôi có lẽ chưa đủ để ông hiểu biết sâu sắc, am hiểu tường tận đến
thế tâm lý lứa tuổi, để viết những trang văn về học trò một cách trong trẻo và chân
9
thực đến thế. Chính những năm tháng dạy học rồi chuyển qua làm công tác Đoàn
ông đã quan sát, lắng nghe và thấu hiểu hơn lứa tuổi tươi đẹp nhất mà cũng ẩm
ương nhất đấy. Những trang viết của nhà văn trong thời gian này vừa có tính giáo
dục cao lại vừa nhẹ nhàng, hồn nhiên, mang tính hướng thiện.
Từ năm 1986 đến nay, Nguyễn Nhật Ánh làm phóng viên nhật báo Sài Gòn
Giải Phóng ngoài ra ông còn là một bình luận viên thể thao xuất sắc. Trong cương
vị một nhà báo, ông nhanh chóng khẳng định được khả năng của mình. Bên cạnh đó
ông vẫn tiếp tục viết văn thậm chí viết nhiều và số lượng ấn bản đạt tới kỉ lục. Công
việc của một nhà báo tuy bận rộn và có cường độ lao động cao nhưng bù lại lại giúp
cho ông có thể đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều con người với nhiều góc nhìn trải nghiệm
mới. Vì vậy nó đã hỗ trợ cho việc viết văn của ông tốt hơn, đưa nhà văn tới gần đời
sống hằng ngày hơn.
Nguyễn Nhật Ánh luôn khẳng định mình có cái tạng phù hợp với văn học
thiếu nhi. Dường như trong ông luôn có sẵn “đứa trẻ con” nào đó, bất kể tuổi tác
thật sự của ông. Ông là một người vui tươi, dí dỏm, thích đùa luôn có nét tinh
nhan đề Nguyễn Nhật Ánh: Trong tôi luôn có một đứa trẻ. Lời chia sẻ cho thấy sự
chân thành và tâm huyết. Nguyễn Nhật Ánh thừa nhận mình may mắn có được cơ
duyên với lứa tuổi học trò, với văn học thiếu nhi. Và với Nguyễn Nhật Ánh, ông
luôn biết ơn vì điều đó. Đó chính là thái độ trân trọng với nghề, là tấm lòng của một
nghệ sĩ thực thụ dành cho nghề của mình. Ông không che giấu tình yêu dành cho
nghề viết văn, niềm hạnh phúc được viết của mình: “Nếu bây giờ tôi kiếm được rất
nhiều tiền mà không bằng nghề mình yêu thích, có lẽ tôi không cảm thấy hạnh phúc
thực sự” [47, tr. 14]. Cũng bởi với Nguyễn Nhật Ánh nghề là đam mê chứ không
chỉ là phương tiện mưu sinh, thế nên sống bằng nghề là một hạnh phúc, được sống
bằng nghề đó là một niềm vui mà không dễ gì đánh đổi được. Sự đam mê và tình
yêu dành cho nghề đã biến nhà văn thành người “không có Chủ nhật”, “người mê
công việc” như bạn bè ông thường gọi. Nguyễn Nhật Ánh suy nghĩ về nghề rất
nghiêm túc. Ông luôn khẳng định yêu nghề là tiêu chí đầu tiên của một người làm
nghề. Nhưng đặc biệt hơn với văn chương người ta không nên mưu cầu danh lợi mà
trước hết phải viết như một sự thôi thúc từ bên trong nội tâm mình. Có thế tác phẩm
mới có giá trị: “tiền bạc đối với một nhà văn nếu có chỉ là cái đến sau. Nếu để kiếm
tiền, không ai chọn nghề viết văn. Khi ngồi vào bàn viết, nhà văn chỉ tìm kiếm một
11
thứ duy nhất: những ý tưởng. Tôi rất thích một câu không biết của ai: lợi và danh đi
trước sáng tác là một tai họa, đi song hành với sáng tác là một cản trở còn đến sau
sáng tác là hợp quy luật” [47, tr. 17]. Nghĩa là nhà văn hãy cứ cống hiến đi, cứ như
con tằm rút ruột nhả tơ đi, anh sẽ được trả công xứng đáng. Còn nếu cầm bút đã vì
những toan tính thì thường lại ít khi đạt được thành công. Chính quan điểm nghiêm
túc và đúng đắn này đã giúp ông ghi được tên tuổi của mình trong lòng bạn đọc, gặt
hái được những thành công nhất định.
Nguyễn Nhật Ánh khi cầm bút rất chú trọng tới độc giả. Ông cho rằng đó là
đối tượng quan trọng nhất trong quá trình sáng tác của mình. Ông luôn tâm niệm
trong không khí ồn ào, náo nhiệt lẫn yên tĩnh. Thậm chí tôi có thể gác việc viết lách
sang một bên để trả nợ một bài báo hoặc giải quyết một công việc gấp rút nào đó.
Tuy vậy khi ngồi vào bàn sáng tác tôi hoàn toàn sống trong thế giới của riêng
mình” [47, tr. 9].
Như vậy, có thể thấy Nguyễn Nhật Ánh có một quan niệm sáng tác đúng đắn.
Và suốt hành trình sáng tác của mình, ông đã nỗ lực giữ vững quan điểm sáng tác
ấy. Có lẽ chính sự nghiêm túc, bền bỉ đó đã đưa nhà văn đến được thành công của
ngày hôm nay.
1.2. Hành trình sáng tác văn chương của Nguyễn Nhật Ánh
Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu sáng tác từ khá sớm, khoảng những năm nhà văn 13
tuổi ông đã có những tác phẩm đầu tay. Được biết đến với các bút danh như Anh Bồ
Câu với chuyên mục gỡ rối tơ lòng cho tuổi mới lớn, Chu Đình Ngạn khi bình luận
thể thao, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,… nhưng có lẽ cái tên Nguyễn Nhật
Ánh là cái tên để lại dấu ấn trong lòng độc giả hơn cả. Tính tới thời điểm này, trong
mảng văn học thiếu nhi hiện đại khó có tác giả nào có thể vượt qua được Nguyễn
Nhật Ánh về số lượng đầu sách, số lượng bản in các tác phẩm văn học thiếu nhi
cũng như các giải thưởng.
Trước khi viết văn, Nguyễn Nhật Ánh được biết đến như một nhà thơ, trong
đó có bài thơ nổi tiếng của ông đã được phổ nhạc là bài Thành phố tình yêu và nỗi
nhớ. Tính đến nay ông đã có 5 tập thơ được xuất bản là: Thành phố tháng 4 (in cùng
Lê Thị Kim), Đầu xuân ra sông giặt áo, Thơ tình Nguyễn Nhật Ánh, Tứ tuyệt cho
nàng và Lễ hội của đêm đen. Ngoài thơ, ông đã từng thử sức viết ở các thể loại khác
nhau. Ông từng viết theo đơn đặt hàng của Nxb Kim Đồng về đề tài thanh niên
13
xung phong. Nhưng cuối cùng tác phẩm của ông không được in vì không thực sự có
chất lượng.
Chỉ khi đến với mảng văn học thiếu nhi với tác phẩm đầu tiên được xuất bản
- Những cô em gái (truyện dài, 2000)
- Ngôi trường mọi khi (truyện dài, 2001)
- Tôi là Bêtô (truyện, 2007)
- Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (truyện, 2008)
- Đảo mộng mơ (truyện dài, 2009)
- Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (truyện dài, 2010)
- Lá nằm trong lá (truyện dài, 2011)
- Có hai con mèo nằm trên cửa sổ (truyện dài, 2012)
- Sương khói quê nhà (tạp văn, 2012)
- Ngồi khóc trên cây (truyện dài, 2013)
- Chúc một ngày tốt lành (truyện dài, 2014)
- Bảy bước tới mùa hè (truyện dài, 2015)
- Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (truyện dài, 2016)
- Ngày xưa có một chuyện tình (truyện dài, 2016)
Ngoài ra còn có 2 tập truyện dài kỳ là tập Kính vạn hoa (54 tập, trong đó có 45
tập được in trong khoảng từ năm 1995 – 2002) và tập Chuyện xứ Lang Biang (4 tập
in trong khoảng 2004 – 2006), cuốn tạp văn Người Quảng đi ăn mì Quảng (2012),
Thương nhớ Trà Long (2014), bộ truyện tranh cho thiếu nhi Bim và những chuyện
kì thú (1998). Có thể nói với 5 tập thơ, trên 30 tập truyện và truyện dài, 2 cuốn tạp
văn và 3 bộ truyện lớn, ông đã có một gia tài tác phẩm lớn thể hiện sức sáng tạo,
khả năng lao động và sự chăm chỉ, cần mẫn trên mỗi trang sách của mình.
Nguyễn Nhật Ánh còn sở hữu những giải thưởng như: Văn học trẻ hạng A
năm 1990 với tác phẩm Chú bé rắc rối do Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh trao tặng, giải nhà văn yêu thích trong 20 năm từ 1975 – 1995 qua
cuộc bình chọn của bạn đọc do Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi
trẻ phối hợp tổ chức; Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20
nhà văn tiêu biểu giai đoạn 1975 – 1995; năm 1998 Nguyễn Nhật Ánh được trao
giải thưởng tác giả có sách bán chạy nhất do NXB Kim Đồng trao tặng, giải thưởng
Vì thế hệ trẻ cho bộ truyện Kính vạn hoa vào năm 2003 do Trung ương Đoàn Thanh
trường mọi khi, Cô gái đến từ hôm qua, Bong bóng lên trời, Bồ câu không đưa thư,
… Các tác phẩm này thường thể hiện tâm lý lứa tuổi khá chân thực. Đó là những
16
rung động đầu đời, những phức tạp của tuổi mới lớn. Nhà văn đã khéo léo thể hiện
những cảm xúc mong manh và trong trẻo, những nỗi buồn, niềm tiếc nuối man
mác,… Nhóm thứ 2 là các sáng tác dành cho lứa tuổi từ cấp 2 trở xuống. Ở nhóm
này, ông chủ yếu miêu tả các mối quan hệ bạn bè, thầy cô, các câu chuyện trường
lớp, quá trình khám phá thế giới qua đôi mắt trong trẻo hồn nhiên của tuổi thơ. Trên
những trang sách của ông, dường như ai cũng gặp lại tuổi thơ của chính mình với
những trò nghịch ngợm, những toan tính, suy nghĩ còn non nớt,… Những cuốn sách
của Nguyễn Nhật Ánh giống như một cuốn Bách khoa toàn thư về thế giới trẻ em.
Ngoài ra, ông còn có một bộ truyện viết cho tuổi nhi đồng là bộ truyện Bim và
những chuyện kì thú với nhiều chi tiết ngộ nghĩnh gợi ra những bài học giáo dục ý
nghĩa mà nhẹ nhàng.
Nguyễn Nhật Ánh khi in các tác phẩm của mình thường gọi tên nó là truyện
dài, truyện chứ không xếp nó là tiểu thuyết hay truyện ngắn. Thuật ngữ truyện dài
chưa có nhiều định nghĩa như truyện ngắn hay tiểu thuyết. Có thể hiểu truyện dài là
những tự sự có quy mô lớn hơn truyện ngắn nhưng chưa đồ sộ như tiểu thuyết.
Chúng ta nhận thấy các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh khó có thể nói đó là những
truyện ngắn vì không chỉ ở dung lượng câu chữ mà còn ở cách phản ánh hiện thực.
Truyện ngắn thường phản ánh hiện thực trong một lát cắt chứ ko phải một quá trình.
Nhưng ở truyện của Nguyễn Nhật Ánh ta thấy rõ được cả một tiến trình câu chuyện.
Do đó nó chắc chắn không phải là những truyện ngắn. Với quy mô các tác phẩm
của Nguyễn Nhật Ánh có nhiều truyện có dung lượng tương đương với các tiểu
thuyết đương đại. Song tác giả lại không định danh tác phẩm của mình là tiểu thuyết
có lẽ vì kết cấu tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh thường đơn giản hơn. Câu chuyện
có thể kéo dài theo một diễn tiến nhưng thường được chia nhỏ thành các câu chuyện
tuổi và thường có tranh minh họa. Thuật ngữ này được dùng với nhiều nghĩa đôi
khi nó loại trừ các loại truyện viễn tưởng cho tuổi mới lớn, các sách hài hước hoặc
các thể loại khác… văn học thiếu nhi có thể là những tác phẩm do trẻ em viết,
những tác phẩm viết cho trẻ em, những tác phẩm lựa chọn cho trẻ em hoặc những
tác phẩm trẻ em chọn lựa”.
Trong cuốn Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam tập 1, “Văn học thiếu
nhi” được định nghĩa là:
18
“- Những tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo
dục bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu
nhi, và nhiều khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật hay một đồ
vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em mà cũng
là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi.
- Những tác phẩm được thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy
trong đó cách nghĩ cách cảm và các hành động của chính các em, hơn thế các em
còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động
viện, khích lệ những sự dẫn dắt ý nhị bổ ích… trong quá trình hoàn thiện tính cách
của mình.
Như thế văn học thiếu nhi là người bạn thông minh và mẫn cảm của thiếu
nhi” [54, tr. 6].
Từ các khái niệm, định nghĩa trên chúng tôi đi đến một số thống nhất về thuật
ngữ để làm cơ sở cho quá trình triển khai đề tài:
Thứ nhất, chúng tôi sử dụng thuật ngữ văn học thiếu nhi là chỉ chung văn học
dành cho trẻ em ở khoảng độ tuổi học sinh cuối cấp 1 đầu cấp 2 chứ không thuộc
nhóm tuổi học sinh cấp 3.
Thứ hai, chúng tôi cho rằng giữa các khái niệm có thể khác nhau nhưng đều
ghi nhận văn học thiếu nhi là văn học (chứ không phải là cận văn học), một thể loại
Dương Thu Hương với Hành trình ngày thơ ấu, Tô Hoài với Đảo hoang, Chuyện
nỏ thần, Nhà Chử… trong giai đoạn từ 1975 – 1985. Văn học giai đoạn này có lẽ
mới là giai đoạn tìm tòi, trăn trở vì thế có những dấu hiệu đổi mới có nhiều hướng
đi được thể nghiệm và tìm tòi nhưng chưa thực sự có những thành tựu kết tinh.
Giai đoạn từ 1986 đến nay, văn chương bước vào thời kỳ đổi mới. Chính quá
trình mở cửa đã khiến cho sự giao lưu tiếp xúc văn hóa diễn ra mạnh hơn. Văn học
thiếu nhi đứng trước một cuộc cạnh tranh lớn khi nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi
các nước được dịch và tràn vào thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó là sự tấn công
của truyện tranh với những ưu thế của nó đã khiến cho văn học thiếu nhi trong nước
gặp không ít những khó khăn thử thách. Không chỉ có vậy, một cuộc sống hiện đại
hơn, tiện nghi hơn, khiến cho việc đọc sách không còn là kênh giải trí độc tôn nữa.
Một thế giới số hiện đại mở ra trước mắt cuốn hút các bạn trẻ. Do đó văn học thiếu
nhi lại càng bị thu hẹp hơn đối tượng phục vụ của mình. Đứng trước những thách
20
thức đó, văn học thiếu nhi vẫn có những bước phát triển. Trước tiên đó là sự gia
tăng về đội ngũ sáng tác, bên cạnh các tên tuổi đã được khẳng định còn có sự bổ
sung của những cây bút trẻ. Chính họ đã làm nên một diện mạo mới cho văn học
thiếu nhi Việt Nam hiện đại. Có thể kể đến các tên tuổi của văn học thiếu nhi đương
đại như Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần, Trần Thiên Hương, Phạm Hổ,
Trần Hoài Dương, … Các tác phẩm của thời kỳ này có thể kể đến là các truyện dài
của Nguyễn Nhật Ánh, bộ truyện Kính vạn hoa, Chuyện xứ Lang Biang, các sáng
tác của Nguyễn Ngọc Thuần như Giăng giăng tơ nhện, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa
sổ, Một thiên nằm mộng, các tập thơ của Dương Thuấn, Vi Thùy Linh với Chu du
cùng ông nội, các tác giả trẻ như Ngô Gia Thiên An với tập Những ngôi sao lấp
lánh,…
Có thể nói, trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, văn học Việt
Nam đã có những thành tựu đáng kể với nhiều tác giả và tác phẩm có sức cạnh