Tóm tắt Công tác tổ chức và hoạt động thông tin - thư viện tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thương mại - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------

NGUYỄN NGỌC THANH

CẠNH TRANH QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ
Ở BIỂN ĐÔNG DƢỚI GÓC NHÌN
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội - 2016

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------

NGUYỄN NGỌC THANH

CẠNH TRANH QUYỀN LỰC TRUNG - MỸ
Ở BIỂN ĐÔNG DƢỚI GÓC NHÌN
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ


CNHT

Chủ nghĩa Hiện thực

DOC

Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea
(Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông)

EEZ

Exclusive Economic Zone
(Vùng đặc quyền kinh tế)

QHQT

Quan hệ Quốc tế

UNCLOS

United Nations Convention on Law of the Sea
(Công ƣớc Liên hợp quốc về Luật Biển)

2

Footer Page 3 of 126.


Header Page 4 of 126.



Header Page 5 of 126.

2.2.2. Những động thái của Mỹ ở biển Đông ........................................... 48
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .............................................................................. 68
CHƢƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ CẠNH TRANH QUYỀN LỰC
TRUNG - MỸ Ở BIỂN ĐÔNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM
ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ ...................................... 69
3.1. Tác động của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông ... 69
3.1.1. Tác động tới tình hình quốc tế ........................................................... 69
3.1.2. Tác động tới tình hình khu vực .......................................................... 73
3.1.3. Tác động tới Việt Nam ....................................................................... 75
3.2. Khuyến nghị cho Việt Nam về đối sách giải quyết tranh chấp lãnh
thổ trên biển ................................................................................................ 76
3.2.2. Tự lực, tự làm mình mạnh lên. ........................................................... 79
3.2.3. “Cân bằng động” giữa Trung Quốc và Mỹ ....................................... 81
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 .............................................................................. 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89

4

Footer Page 5 of 126.


Header Page 6 of 126.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


cầu thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nƣớc,
dƣới nhiều góc nhìn, cơ sở lý luận khác nhau. Là một học viên cao học khoa
Quốc tế học, trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đƣợc trang bị
những kiến thức hữu ích về nghiên cứu quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế,
các vấn đề toàn cầu… tác giả mong muốn lý giải nguyên nhân và những tác
động của cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông dựa trên lý luận về
Chủ nghĩa Hiện thực- một trong những lý thuyết quan hệ quốc tế nền tảng.
Ý nghĩa khoa học: Việc sử dụng những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện
thực về quốc gia, quyền lực và xung đột trong phân tích sự cạnh tranh quyền
lực Trung Mỹ ở biển Đông cho thấy rằng các quan điểm của Chủ nghĩa Hiện
thực vẫn tỏ ra phù hợp trong việc lý giải cạnh tranh, xung đột trong quan hệ
quốc tế. Ngoài ra, qua việc phân tích nguyên nhân cạnh tranh quyền lực
Trung- Mỹ và những tác động, luận văn cũng muốn làm rõ hơn việc áp dụng
phƣơng pháp phân tích hệ thống và cấu trúc trong nghiên cứu quan hệ quốc
tế.
Ý nghĩa thực tiễn: Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực biển
Đông và là một trong những bên có liên quan trực tiếp tới những tranh chấp
trên biển Đông vì vậy việc nghiên cứu đánh giá nguyên nhân và phân tích
tác động của cạnh tranh quyền lực giữa hai cƣờng quốc là Trung Quốc và
Mỹ ở khu vực biển Đông sẽ giúp Việt Nam có thêm nhận thức đa chiều về
tình hình khu vực. Đồng thời những khuyến nghị về ứng phó của Việt Nam
với những tranh chấp trên biển Đông đối với các bên liên quan dựa trên góc
nhìn của Chủ nghĩa hiện thực đóng góp chiều nhận thức đa dạng trong việc
hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trƣớc tình hình khu vực và
thế giới, nhất là trong vấn đề biển Đông.

6

Footer Page 7 of 126.

7

Footer Page 8 of 126.


Header Page 9 of 126.

điểm, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả giàu kinh nghiệm
cả ở trong và ngoài nƣớc.
Các bài tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông: Hợp tác vì
an ninh và phát triển ở khu vực (International Workshop "The South China
Sea: Cooperation for Regional Security and Development") – Hội thảo quốc
tế đầu tiên về biển Đông tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam ngày 26-27/11 2009.
Hội thảo đã đƣa ra nhiều ý kiến đóng góp quan trọng về nhiều khía cạnh xung
quanh vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông nhƣ những diễn biến gần đây
ở Biển Đông, những mục tiêu nhằm đối phó với những xung đột, một số hoạt
động cụ thể của các bên liên quan tới Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc và
ASEAN.
Cuốn sách “Biển Đông: Địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động
của các bên liên quan” do tác giả Đặng Đình Quý- Nguyễn Minh Ngọc đồng
chủ biên, Nhà xuất bản Thế giới với những phân tích về vị thế điạ chính trị
chiến lƣợc của Biển Đông, lợi ích và chính sách của các bên liên quan trên
biển Đông và những đánh giá về biển Đông trong mỗi quan hệ Trung QuốcASEAN- Mỹ.
Bài viết Chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ
năm 2007 đến nay của tác giả Đỗ Thanh Hải - Nguyễn Thùy Linh đăng trên
tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (84), năm 2011, tr.75-106 đã trình bày khái
quát những hành động của Trung Quốc từ năm 2007 cho đến giữa năm 2010,
những sự thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với vấn đề Biển
Đông, phản ứng của các bên trong tranh chấp và cục diện an ninh mới ở Biển
Đông.

Carlyle Thayer đề cập tới những diễn biến trong năm 2009 ở Biển Đông và hệ
lụy với lợi ích của Mỹ ở Biển Đông. Theo tác giả, trong giai đoạn năm 2009,
Mỹ có nhiều thay đổi mạnh mẽ trong thái độ và hành động tại Biển Đông
nhằm phản ứng lại sự bành trƣớng quân sự của Trung Quốc ở đây, đe dọa tới
các lợi ích quốc gia của Mỹ. Sự nổi lên của Trung Quốc đòi hỏi Mỹ phải can
dự nhiều hơn vào vấn đề Biển Đông.

9

Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

Nhìn chung, các tác phẩm đều tập trung giới thiệu về lịch sử hình
thành và phân tích hệ thống các luận điểm của Chủ nghĩa Hiện thực; phân tích
về lợi ích của Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông cũng nhƣ những tuyên bố và
hành động của hai bên trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Tuy
nhiên các nghiên cứu thƣờng chỉ đi sâu phân tích quan điểm của riêng Mỹ
hoặc Trung Quốc hoặc so sánh, đối chiếu một cách đơn thuần để thấy đƣợc
những điểm tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt trong quan điểm của hai nƣớc lớn
có lợi ích liên quan trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Trên cơ sở các
nghiên cứu đi trƣớc, luận văn kế thừa những luận điểm lý luận về Chủ nghĩa
hiện thực và cũng lấy đó làm cơ sở nền tảng phân tích nguyên nhân cạnh
tranh quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ ở biển Đông cùng với những động
thái kèm theo làm minh chứng, từ đó đánh giá tác động của cạnh tranh quyền
lực Trung- Mỹ ở biển Đông đến tình hình thế giới, khu vực Đông Nam Á và
riêng cho Việt Nam. Đồng thời luận văn dành một phần đƣa ra những khuyến
nghị cho Việt Nam trong cách hành xử liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ
quyền trên biển với Trung Quốc và một số bên liên quan.

một số hàm ý cho Việt Nam trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển dựa
trên những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về quốc gia và lợi ích quốc
gia.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ diễn ra trên
nhiều lĩnh vực và trong khoảng thời gian khá dài, đây cũng là một chủ đề
phức tạp, nhạy cảm, mang tính thời sự và đƣợc khai thác dƣới nhiều góc nhìn.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn Thạc sỹ Quan hệ quốc tế, tác giả tập
trung nghiên cứu về nguyên nhân và quá trình cạnh tranh quyền lực TrungMỹ ở biển Đông dựa trên những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về quốc
gia và quyền lực.
Phạm vi nghiên cứu: Những cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ đã xuất
hiện từ khá lâu, tuy nhiên luận văn trong phạm vi nghiên cứu tập trung vào
giai đoạn từ khoảng năm 2007 khi Trung Quốc dần trỗi dậy và có tầm ảnh
hƣởng lớn trong khu vực, gây những nguy cơ tiềm ẩn khiến Mỹ chuyển

11

Footer Page 12 of 126.


Header Page 13 of 126.

hƣớng quan tâm trở lại khu vực châu Á, mà nhất là biển Đông cho đến trƣớc
khi diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11/2016.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, tác giả
đã sử dụng tổng hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu trong đó nổi bật nhất là
các phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu và nghiên cứu
lịch sử trong viện dẫn quá trình cạnh tranh Trung- Mỹ, phƣơng pháp phân tích
hệ thống và cấu trúc, phƣơng pháp phân tích chính sách và lợi ích trong phân

Chƣơng 3: Tác động của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển
Đông và khuyến nghị cho Việt Nam đối với vấn đề tranh chấp lãnh thổ.
Đánh giá sự ảnh hƣởng của sự cạnh tranh quyền lực Trung- Mỹ ở biển
Đông tới tình hình thế giới, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Bên cạnh đó,
sử dụng những quan điểm của Chủ nghĩa Hiện thực để đƣa ra một vài khuyến
nghị cho Việt Nam trong việc đối phó với vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

13

Footer Page 14 of 126.


Header Page 15 of 126.

CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VỀ
CẠNH TRANH QUYỀN LỰC VÀ KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG.
1.1.Một số quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh quyền
lực
1.1.1. Cơ sở của chủ nghĩa hiện thực
Lịch sử quan hệ quốc tế thế kỉ XX phải kể đến sự gia tăng phức tạp, đa
chiều trong mối quan hệ giữa các quốc gia, đòi hỏi sự linh hoạt trong việc
hoạch định chính sách cũng nhƣ chiến lƣợc đối ngoại phù hợp với những biến
chuyển của tình hình thế giới; do đó, đã xuất hiện hàng loạt các lý thuyết khác
nhau về quan hệ quốc tế ở các nƣớc Phƣơng Tây và Mỹ nhằm lý giải động
thái giữa các quốc gia. Một trong những lý thuyết đó là Chủ nghĩa hiện thực
về quan hệ quốc tế (Realism for International Relations).
Chủ nghĩa hiện thực đƣợc khẳng định nhƣ một trƣờng phái lý luận về
QHQT kể từ sau chiến tranh thế giới II và chiếm ƣu thế trong giới học giả và
chính khách phƣơng Tây, trƣớc hết là ở Mỹ. Nhà triết học và thần học R.
Niebuhr đƣợc coi là cha tinh thần trực tiếp của Chủ nghĩa hiện thực. Ông cho

là: Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành
quốc gia. Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia. Lãnh thổ quốc gia
đƣợc xác định là một phần của trái đất và đƣợc coi là cơ sở vật chất cho sự
tồn tại và phát triển của quốc gia. Lãnh thổ quốc gia là ranh giới để xác định
chủ quyền quốc gia đối với dân cƣ của mình. Vấn đề kích thƣớc lãnh thổ rộng
hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều không có ý nghĩa quyết định đến
sự tồn tại hay mất đi của danh nghĩa quốc gia. Thứ hai, có cộng đồng dân cƣ
ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cƣ của một quốc gia là tất cả những ngƣời sinh
sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp luật của nhà nƣớc
đó. Theo nghĩa hẹp, dân cƣ dùng để chỉ tất cả những ngƣời có quốc tịch của
quốc gia đó. Mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa nhà nƣớc với cộng đồng dân
cƣ của quốc gia chủ yếu thông qua chế định quốc tịch. Thứ ba, có chính phủ
với tƣ cách là ngƣời đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế. Chính phủ
này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nƣớc trên
phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối,

15

Footer Page 16 of 126.


Header Page 17 of 126.

khống chế bởi quốc gia khác. Thứ tƣ, có khả năng độc lập tham gia vào các
quan hệ pháp luật quốc tế: "khả năng" này có đƣợc xuất phát từ chủ quyền
quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại của mình [37]. Quốc gia là nhất
thể, bao trùm con ngƣời, các tổ chức quốc tế hay công ty xuyên quốc gia đều
bị quốc gia chi phối. Quốc gia có lý trí, luôn cân nhắc lợi ích quốc gia trong
mọi động thái trên trƣờng quốc tế [30]. Lợi ích quốc gia là nền tảng cho chiến
lƣợc quốc gia, nó có thể là điểm bắt đầu cũng là điểm kết thúc của chiến lƣợc

minh đó và không đƣợc giao phó nhiệm vụ bảo vệ mình cho các tổ chức quốc
tế hoặc luật pháp quốc tế. Trong bối cảnh tất cả các quốc gia đều mong muốn
tối đa hóa về quyền lực thì sự ổn định quốc tế là kết quả của việc duy trì một
sự cân bằng quyền lực thông qua các hệ thống liên minh lỏng lẻo [18].
Hệ thống quốc tế: Đây là bổ sung quan trọng nhất của Chủ nghĩa hiện
thực mới" (Neo - Realism) hay còn gọi là “Chủ nghĩa hiện thực cấu trúc” vào
cuối những năm 70. Theo quan điểm của CNHT cổ điển, quan hệ quốc tế là
mối quan hệ giữa hai nƣớc, bao gồm mong muốn, ý chí, lợi ích của chính hai
nƣớc đó. Tới CNHT mới, quan hệ quốc tế không chỉ đƣợc quan niệm là mối
quan hệ giữa hai nƣớc, bao gồm mong muốn, ý chí, lợi ích của chính hai nƣớc
đó mà còn đặt trong mối quan hệ của hai nƣớc trong hệ thống quốc tế mà hai
nƣớc cùng tham gia. Hệ thống quốc tế là một chỉnh thể gồm các phần tử có
quan hệ chặt chẽ với nhau, sự thay đổi của một phần tử này sẽ dẫn đến sự
thay đổi của phần tử khác, nhƣ vậy nguyên tắc hình thành hệ thống quốc tế là
dựa trên sự tƣơng tác chặt chẽ.
1.1.2. Các luận điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh quyền lực
Quan điểm của các cơ sở trên trở thành nền tảng cho hệ thống các luận
điểm của lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực, trong đó bao gồm một số luận
điểm cơ bản về quốc gia, quyền lực và xung đột. Trong phạm vi bài nghiên
cứu, để lý giải sự cạnh trang quyền lực Trung- Mỹ ở biển Đông, tác giả sử
dụng một số luận điểm liên quan đến cạnh tranh quyền lực nhƣ sau:
Quyền lực theo nghĩa hẹp là khả năng ép ngƣời khác làm việc gì, còn theo
nghĩa rộng trong quan hệ quốc tế, quyền lực là khả năng của quốc gia nhằm
đạt đƣợc điều mình muốn. Quyền lực chi phối nhiều hiện tƣợng trong quan hệ
quốc tế. Quan hệ quốc tế là cuộc đấu tranh vì quyền lực.

17

Footer Page 18 of 126.


18

Footer Page 19 of 126.


Header Page 20 of 126.

quốc gia này với quốc gia kia. Hợp tác chỉ là tƣơng đối còn xung đột là tuyệt
đối bởi lợi ích quốc gia vốn không thể hòa hợp.
1.2.Khái quát về biển Đông
1.2.1. Giới thiệu chung về biển Đông
Trên phƣơng diện vị trí địa lý, "Biển Đông" là không gian biển ở Đông
Nam châu Á, đƣợc bao quanh bởi các nƣớc Philippines ở phía Đông; Việt
Nam, một phần Campuchia và Thái Lan ở phía Tây; Malaysia, Singapore,
Brunei, Indonesia ở phía Nam và Trung Quốc ở phía Bắc. Biển Đông đƣợc
các nhà địa lý phƣơng Tây gọi theo truyền thống là biển "Nam Trung Hoa"
(South China Sea) hay ngƣời Trung Quốc gọi là "Nam Hải", còn ngƣời Việt
Nam gọi là "Biển Đông". Nhƣ vậy, thực chất thuật ngữ "Biển Nam Trung
Hoa", "Nam Hải" hay "Biển Đông" là chỉ những cách gọi khác nhau, đều ám
chỉ tới một không gian biển đồng nhất. Trong luận văn của mình, với tƣ cách
là một công dân Việt Nam, đứng từ góc nhìn của Việt Nam, tác giả sử dụng
thuật ngữ "Biển Đông" để gọi tên vùng biển là cửa ngõ của Việt Nam ra Thái
Bình Dƣơng, đồng thời cũng là hàm ý lấy Việt Nam làm vị trí chuẩn trong
định vị vị trí của vùng biển chiến lƣợc này.
Biển Đông là biển nửa kín ven lục địa, thuộc Thái Bình Dƣơng với vị trí
địa lý từ vĩ độ 3° lên đến vĩ độ 26° Bắc và từ kinh độ 100° đến kinh độ 121°
Đông [23], có diện tích 3,447 triệu km2, chiều dài khoảng 1900 hải lý, chiều
rộng khoảng 600 hải lý tính từ Singapore và eo biển Malacca ở phía Nam cho
tới eo biển Đài Loan (giữa Đài Loan và Trung Quốc) ở phía Đông Bắc. Biển
nằm trong vùng Ấn Độ-Tây Thái Bình Dƣơng (Indo-West Pacific), nằm trên

Đông Á đi Australia và New Zealand, Nam Thái Bình Dƣơng; tuyến Tây Bắc
Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây đƣợc coi là tuyến đƣờng vận tải quốc
tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Đây là tuyến đƣờng thiết yếu vận chuyển
dầu và các nguồn tài nguyên thƣơng mại từ Trung Cận Đông và Đông Nam Á
tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lƣợng vận tải thƣơng mại
của thế giới thực hiện bằng đƣờng biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng
biển Đông [35].
Mặt khác, Biển Đông chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan
trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nƣớc xung quanh, đặc biệt

20

Footer Page 21 of 126.


Header Page 22 of 126.

là nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản), phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản).
Theo tài liệu của Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP) cho thấy
Biển Đông đƣợc coi là một trong những nơi có nguồn tài nguyên hải sản
thƣơng mại dồi dào và quan trọng nhất trên thế giới [16]; cụ thể, Biển Đông là
vùng biển với đa dạng sinh học với khoảng 11000 loài sinh vật cƣ trú, trong
đó có 6000 loài động vật đáy biển, 2400 loài cá, trong đó có 130 loài cá kinh
tế, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du,
225 loài tôm biển [11]. Biển Đông có tổng khối lƣợng hải sản hàng năm là
trên 8 triệu tấn, chiếm khoảng 10% tổng lƣợng hải sản đánh bắt của thế giới
[16]. Trong khu vực có các nƣớc đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng
đầu thế giới nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines,
trong đó Trung Quốc là nƣớc đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu
tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tấn/năm), cả

1.2.2. Vai trò của biển Đông
Trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng, Biển Đông có vị trí quan trọng trong
an ninh quốc phòng. Vai trò của việc đảm bảo an ninh - quốc phòng trƣớc hết
xuất phát từ nhu cầu của những quốc gia ven biển nhằm bảo vệ nguồn tài
nguyên biển, bảo vệ môi trƣờng biển cũng nhƣ yêu cầu hợp tác chung của
nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm chống cƣớp biển hoành hành.
Những yêu cầu cũng nảy sinh với các quốc gia ngoài khu vực Đông Nam Á
nhƣ Nhật Bản và Mỹ nhằm đảm bảo yêu cầu thông thƣơng và đi lại trên biển.
Biển Đông có lợi thế hỗ trợ cho việc triển khai các lực lƣợng quân sự.
Do điều kiện địa lý tự nhiên, Biển Đông có những eo biển sâu và hẹp, cho
phép tàu ngầm đi qua các đại dƣơng ít bị phát hiện và có thể rút ngắn đƣờng
đi. Đây là địa bàn chiến lƣợc để bảo vệ đƣờng biển, ngăn chặn, giám sát khu
vực mặt biển cũng nhƣ dƣới nƣớc [15]. Trong lịch sử đã có rất nhiều những
hoạt động quân sự diễn ra trên Biển Đông của các quốc gia trong và ngoài
khu vực Đông Nam Á. Nhiều căn cứ hải quân và không quân đã đƣợc thiết
lập tại đây nhƣ căn cứ hải quân vịnh Subic của Mỹ, hải cảng quân sự Cam
Ranh của Liên Xô trƣớc đây.
Trên các tuyến đƣờng biển đóng vai trò chiến lƣợc của châu Á có hai
điểm trọng yếu: Điểm thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của

22

Footer Page 23 of 126.


Header Page 24 of 126.

Indonesia và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của
các nƣớc Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. (Ba eo biển thuộc chủ quyền
của Indonesia là Sunda, Lombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong

Header Page 25 of 126.

Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa có vị trí chiến lƣợc, có thể
dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại biển Đông và dùng cho mục
đích quân sự nhƣ đặt trạm rada, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng
chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè. Vì vậy, việc biển Đông bị một nƣớc hoặc
một nhóm nƣớc liên minh nào khống chế sẽ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến lợi
ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nƣớc khu vực, thậm chí, các nhà chiến
lƣợc phƣơng Tây cho rằng, quốc gia nào kiểm soát đƣợc quần đảo Trƣờng Sa
sẽ khống chế đƣợc cả biển Đông [11].
Nhƣ vậy, Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lƣợc quan trọng đối với
các nƣớc trong khu vực mà còn của cả châu Á - Thái Bình Dƣơng và Mỹ. Đối
với Trung Quốc, tầm quan trọng của Biển Đông hết sức to lớn trên phƣơng
diện địa chiến lƣợc là điều không phải nghi ngờ, nhất là khi Trung Quốc đã
trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và đang trên đà phát triển mạnh.
Trong lịch sử, ngƣời Trung Quốc từng cho rằng Đông Nam Á trong đó có
Biển Đông là khu vực ảnh hƣởng truyền thống của họ và cũng là hƣớng
thuận, làm ăn phát đạt. Điều này ảnh hƣởng không nhỏ đến yêu sách đòi chủ
quyền của Trung Quốc hiện nay ở Biển Đông. Đối với Mỹ, Mỹ khẳng định có
những lợi ích quốc gia liên quan mật thiết tới Biển Đông bao gồm tự do hàng
hải, kinh tế thƣơng mại và an ninh quân sự, vì vậy, Biển Đông cũng là một địa
bàn mang tính chất an ninh, quân sự đối với Mỹ. Đối với Việt Nam, biển
Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả
trong lịch sử, hiện tại và tƣơng lai. Bờ biển nƣớc ta vừa là cửa ngõ bang giao
kinh tế vừa là tuyến phòng thủ hƣớng đông của đất nƣớc. Vùng biển Việt
Nam có trên 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, với hơn 3.000 hòn đảo lớn
nhỏ, trong đó có 2.773 đảo ven bờ và hơn 200 đảo xa bờ. Đƣờng bờ biển trải
dài trên 3.260 km, tỷ lệ giữa diện tích lục địa và chiều dài bờ biển đạt 100
km2/1km; có 114 cửa sông, 12 đầm phá, có 50 vũng/vịnh ven bờ [36]. Những
đặc điểm này tạo cho Việt Nam có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế biển và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status