biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng anh tại trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật thương mại - Pdf 18

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự hội nhập quốc tế đang là xu thế của
thời đại và trong bối cảnh đổi mới, mở cửa hướng ra thế giới, làm bạn với các
nước trên thế giới, chúng ta đã nhận thấy những bất cập trong chương trình
giảng dạy tiếng Anh trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và trước nhu cầu
mở rộng giao lưu vượt ra khỏi phạm vi quốc gia của đông đảo nhân dân.
Để hòa nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ
đứng thực sự trong thế giới đang ngày càng toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ,
chúng ta không thể không xem xét một cách nghiêm túc thực trạng chương
trình dạy ngoại ngữ, cụ thể là chương trình dạy tiếng Anh trong hệ thống giáo
dục quốc dân trong những năm qua để đưa ra những phương án khả thi đáp
ứng được những yêu cầu của đất nước.Trong xu thế hội nhập quốc tế, tiếng
Anh trở thành một phương tiện vô cùng quan trọng mà chúng ta không thể
không biết. Nhưng chúng ta đã đáp ứng đòi hỏi đó như thế nào và cách nào
khiến tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai đối với sinh viên khi ra trường?
Theo dự báo của các nhà phân tích, vào cuối thập kỷ này, 1/3 dân số thế
giới sẽ tham gia vào việc học tiếng Anh. Nhu cầu học tiếng Anh mang tính
khu vực và toàn cầu này cho thấy nhu cầu giao tiếp bằng tiếng Anh ngày càng
tăng đối với việc phát triển kinh tế và xã hội ở tầm cỡ quốc gia cũng như đối
với mỗi cá nhân trong xã hội.
Muốn nâng cao chất lượng đào tạo cần phải tác động đến các yếu tố của
quá trình dạy - học, bên cạnh hai yếu tố mục đích và nội dung, “phương pháp
dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học’’. Qúa trình
dạy - học sẽ không thể đạt hiệu quả như mong muốn nếu nội dung và mục
đích của nó không gắn kết với PPD-H phù hợp, vì thế quản lý quá trình HĐD-
H nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một vấn đề thời sự được nhiều nhà
khoa học, nhà QLGD, Đảng và nhà nước quan tâm và là đòi hỏi cấp thiết hiện
1
nay. Trong những năm gần đây, xu thế xã hội phát triển mạnh mẽ về nhiều
mặt đã đặt nhiệm vụ của GD nói chung và GDĐH-CĐ nói riêng trước đòi hỏi

độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số
lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung
cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin
trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa
văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại là một trong những trường
hàng đầu của Bộ Thương mại trước đây nay là Bộ Công Thương. Trường đã có 50
năm xây dựng và trưởng thành đã từng đào tạo hàng chục ngàn cán bộ nhân viên
cho ngành, lại có kinh nghiệm 12 năm đào tạo cao đẳng, định hướng phát triển lên
Đại học sau năm 2010, sứ mạng của trường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao. Sứ mạng của Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Thương mại không chỉ là
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ và tham gia hợp tác quốc tế, nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành, của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với bối cảnh như vậy thì yêu cầu
đặt ra cho nhà trường là làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh,
giúp học sinh- sinh viên có đựoc vốn tiếng Anh tốt để phục vụ cho công việc sau
này. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Công thương, nhà
trường phải đổi mới hoàn thiện ở rất nhiều lĩnh vực, một trong lĩnh vực đó là
chương trình đào tạo môn tiếng Anh cho các bậc học nhằm nâng cao chất lượng
dạy- học tiếng Anh tại trường.
Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và
giảng viên luận bàn về biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động dạy và học môn tiếng Anh. Một số luận văn mà tôi tham khảo đã đề cập
đến khía cạnh này như: biện pháp quản lý chương trình đào tạo hệ Cao đẳng
3
tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội (Lê Quốc Thành); Biện pháp quản lý
chương trình đào tạo ở trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
(Lê thị Phương Thoa) Cho đến nay, chưa có một luận văn nào nghiên cứu về
biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học môn tiếng

6. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động day- học Tiếng Anh tại trường
Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thương mại và đề ra những biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác này trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết, các văn kiện của Đảng và Nhà nước,
ngành giáo dục và đào tạo, tham khảo. phân tích các tài liệu khoa học; sách ;
báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý hoạt động dạy
và học môn tiếng Anh trong một cơ sở giáo dục.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học môn tiếng Anh tại
trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Thương mại.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động dạy và học môn tiếng Anh tại trường Cao đẳng Kinh tế- kỹ thuật
Thương mại.
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY- HỌC MÔN TIẾNG ANH TRONG MỘT CƠ SỞ GIÁO DỤC
1.1. Quá trình dạy và học
1.1.1. Bản chất quá trình dạy và học

thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh.
Học là quá trình tự giác tích cực tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học,
dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên.
2) Chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của học. Với ý này học
sinh phải nắm vững nghĩa, đào sâu ý hàm chứa trong khái niệm, nghĩa càng
sâu ý càng phong phú. Chiếm lĩnh khái niệm còn có thể hiểu là tái tạo khái
niệm cho bản thân, thao tác với nó, sử dụng nó như công cụ phương pháp để
chiếm lĩnh những khái niệm khác hoặc để mở rộng, đào sâu thêm tính khái
niệm đó ở trình độ lý thuyết cao hơn. Tư duy khái niệm là trình độ tư duy lý
thuyết – đây chính là một trong những mục đích quan trọng của sự phát triển
năng lực tri thức cho học sinh thông qua học tập.
Chiếm lĩnh khái niệm, biến nó từ kho tàng văn hóa xã hội thành học vấn
riêng của bản thân, học sinh sẽ hình thành cho mình một thái độ mới trong
việc đánh giá các giá trị tinh thần và vật chất của thế giới khách quan, một sản
phẩm đạo đức mới. Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm mà thành công,
nó sẽ dẫn tới đồng thời ba mục đích bộ phận: Trí dục (nắm vững khái niệm) ,
phát triển ( tư duy khái niệm) và giáo dục( thái độ đạo đức). Ba mục đích bộ
phận này gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau,
sinh thành ra nhau và tạo ra một hệ toàn vẹn mục đích bộ ba.
7
“ Khai trí tiến đức” điều mà cổ nhân đã dạy. “ Đến một trình độ cao, tri
thức với tư tưởng, đức dục với trí dục là một. Trí dục phải dẫn đến đạo đức,
đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết” ( Phạm Văn Đồng).
3) Về mặt cấu trúc chức năng, học có hai chức năng thống nhất với
nhau: Lĩnh hội( tiếp thu thông tin dạy của thầy) và tự điều khiển quá trình
chiếm lĩnh khái niệm của mình( tự giác tích cực tự lực)
4) Nội dung học là gì?
a. Nội dung của học chính là nội dung của khái niệm khoa học. Khái
niệm khoa học – đó là kiến thức về những dấu hiệu, thuộc tính, những mối
quan hệ bản chất và chung của đối tượng mà nó phản ánh, nhờ sự khái quát

học thuyết ). Cuối cùng khi đã nắm vững cơ chế vận hành của đối tượng, học
sinh bước sang giai đoạn vận dụng- cải tiến đối tượng. Đó là quy luật của
nhận t ức khoa học, mà cũng là phương pháp nhận thức khoa học.
Vậy, phương pháp học là phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm
lĩnh khái niệm khoa học phản ánh đối tượng của nhận thức, biến các hiểu biết
của nhân loại thành học vấn của bản thân. Đó là phương pháp mô tả, giải
thích và vận dụng khái niệm khoa học.
6) Học tốt là sự thống nhất của cả mục đích, nội dung lẫn phương pháp
của học. Đó là sự điều khiển tối ưu quá trình chiếm lĩnh khoa học trên cơ sở
của sự bị điều khiển.
1.1.1.2. Dạy là gì?
- Dạy là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm
khoa học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách.
- Dạy học có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học nhằm vào việc
chiếm lĩnh khái niệm khoa học, thì dạy học lại có mục đích là điều khiển sự
học tập.
9
- Dạy học có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập
vào nhau, sinh thành ra nhau(để tiện ta gọi là “chức năng kép”), đó là truyền
đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học.
1.1.1.3. Bản chất toàn vẹn của quá trình dạy học
1) Nói quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn như thế có nghĩa là
các thành tố của nó luôn tương tác với nhau theo một quy luật riêng, thâm
nhập vào nhau, qui định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng:
a) Giữa dạy với học.
b) Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy.
c) Giữa lĩnh hội với tự điều khiển trong học.
Khái niệm khoa học là điểm xuất phát của dạy, lại là điểm kết thúc của học.
2) Quá trình dạy học là hoạt động cộng đồng hợp tác giữa chủ thể: thầy-
cá thể trò,trò – trò trong nhóm, thầy- nhóm trò v.v

lớn vào trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của mỗi giảng
viên. Bởi lẽ, giảng viên giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình dạy học, là
chủ thể tác động vào mọi nhân tố của quá trình dạy học, chi phối các nhân tố,
nhằm phát huy sức mạnh của các nhân tố khác. Giảng viên chính là người xây
dựng và thực thi mục đích, kế hoạch dạy học; tổ chức cho người học thực
hiện hoạt động học tập dưới mọi hình thức, trong thời gian và không gian
khác nhau; hướng dẫn thực hành, giải quyết những vấn đề thực tiễn, hình
thành các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản, cần thiết. Các công trình nghiên cứu đã
chỉ ra rằng: Cho dù mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy học,
các điều kiện có tốt đến mấy nhưng người dạy yếu kém về chuyên môn, suy
thoái về nhân cách thì chất lượng đào tạo không thể nâng lên được, không đáp
ứng được nhu cầu, nguyện vọng của người học. Ngược lại, nếu đội ngũ giảng
viên có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có trình độ chuyên môn cao thì
ngay trong những điều kiện giảng dạy khó khăn, thiếu thốn, họ vẫn có thể
11
khắc phục khó khăn, sáng tạo vươn lên để đạt được những hiệu quả cao nhất
trong sự nghiệp của mình. Mặt khác, cũng cần phải hiểu vai trò chủ thể của
giảng viên không phải là truyền đạt cho học viên bao nhiêu kiến thức, mà là
người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động của người học làm cho việc
học tập trở thành một hoạt động có ý thức, hướng tới trang bị cho học viên
khả năng tự thu thập kiến thức, tự tìm kiếm phương pháp giải quyết vấn đề
một cách sáng tạo.
1.1.1.5. Người học
Học viên với vai trò là người học, người tiếp nhận thông tin từ phía
người dạy, quyết định chất lượng của hoạt động đào tạo. Thật vậy, mục đích
của hoạt động đào tạo trong nhà trường nói chung là nhằm biến những kiến
thức chung của xã hội, của nhân loại thành nhận thức, hiểu biết, trí tuệ của
người học, hình thành thái độ tích cực, kỹ năng thực hành, tạo ra sự phát triển
trí tuệ, nhân cách toàn diện cho họ.
Mục đích của hoạt động đào tạo chỉ có thể đạt được khi mà bản thân

ngừng của quá trình dạy học.
Như vậy, có thể khẳng định mối quan hệ phối hợp tích cực giữa người
dạy và người học là nhân tố vô cùng quan trọng, quyết định chất đào tạo trong
nhà trường.
1.2. Chất lượng của dạy và học
Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục trên
thế giới, hầu hết các nước đều ra sức tìm mọi biện pháp để nâng cao chất
lượng dạy và học. Với mong muốn là làm sao để người dạy truyền đạt được
kến thức một cách dễ dàng, người học nắm bắt và vận dụng được kiến thức
đó trong thời gian ngắn nhất vào thực tế sản xuất, nghiên cứu một cách có
hiệu quả, và do vậy càng lúc càng đặt ra những yêu cầu gay gắt trong việc
nâng cao chất lượng giảng dạy và cách đánh giá người học như thế nào là
13
khách quan, công bằng, là động lực thúc đẩy để người học thấy đó là động
lực, mục tiêu phấn đấu. Chất lượng dạy và học phải nằm trong một tiến trình
làm biến đổi người học trong đó việc học của sinh viên phải được quan tâm
sâu sát và trợ giúp từ các khâu giảng dạy, đánh giá cũng như tất cả những yếu
tố khác trong trường (cơ sở vật chất, môi truờng, tác phong làm việc đối với
sinh viên, …). Việc giảng dạy phải làm sao thật sự kích thích khả năng ham
hiểu biết, tìm tòi sáng tạo để làm thỏa mãn bản thân sinh viên về những điều
chưa biết. Cách đánh giá không phải để kết thúc môn học hay chỉ để quyết
định sinh viên đậu rớt một môn học mà nên là một kênh nhận xét để sinh viên
hiểu năng lực và kiến thức của mình ở môn đó đã đạt đến mức nào, có nên
tiếp tục các khóa học có liên quan không hay nên học lại và nếu học lại thì
cần bổ sung nhưng khoảng trống tri thức nào. Tương tự các yếu tố khác trong
trường tạo tiền đề để việc học tập của sinh viên được diễn ra thuận lợi và đạt
hiệu quả cao nhất.
Ở đây chúng tôi xin đề cập đến hai quan niệm chính về về chất lượng
dạy và học. Mặc dù khó có thể đưa ra được một định nghĩa về chất lượng dạy
và học vì chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối, động, đa chiều và

vị thế khác khác so với trước đây. Tuy nhiên một điều đáng lo ngại rằng rất
nhiều giáo viên không chỉ giáo viên ngoại ngữ cho rằng “Học sinh nào chẳng
như học sinh nào”. Và cũng có không ít người cho rằng việc giảng dạy ngoại
ngữ cũng không quá phức tạp. Vì vậy việc nhìn nhận lại vai trò của người học
và người dạy trong một lớp học ngoại ngữ là cần thiết để đáp ứng mục tiêu
nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thời kỳ hội nhập.
Về phía người học.
Những đặc điểm dưới đây là đặc trưng tiêu biểu mà một người học ngoại
ngữ cần. Mặc dù không ai có tất cả những đặc tính đó.
15
- Có thái độ tích cực đối với ngôn ngữ mà họ đang muốn học, và với cả
người nói ngôn ngữ đó.
- Có động cơ cá nhân mạnh mẽ để học ngôn ngữ đó.
- Tự tin rằng họ sẽ thành công trong việc nắm bắt ngôn ngữ.
- Luôn chuẩn bị tinh thần sẵn sàng với việc có thể mắc lỗi và rút kinh
nghiệm từ những lỗi mắc phải
- Học tất cả những gì liên quan đến ngôn ngữ
- Sắp xếp thời gian thích hợp cho việc thực hành ngôn ngữ
- Chủ động tìm mọi cách để được thực hành nói về những thứ mà họ
không biết phải diễn đạt như thế nào cho chính xác bằng thứ ngôn ngữ mà họ
đang học
- Nhập vai trong các tình huống để thực hành ngôn ngữ và chủ động sử
dụng ngôn ngữ đó càng nhiều nhất có thể.
- Tư duy trực tiếp từ ngôn ngữ đang học hơn là chuyển dịch từ ngôn ngữ
mẹ đẻ sang
- Có những kế hoạch cụ thể cho việc học và ghi nhớ những điều cần nhớ
về ngôn ngữ và có quyết tâm để thực hiện những kế hoạch đó.
Những đặc trưng trên của một người học tiếng Anh giúp ích cho giáo
viên rất nhiều trong quá trình tiếp cận người học.
Về phía giáo viên.

tham gia vào các hoạt động của lớp học. Nếu giáo viên đem lại cho họ cảm
giác rằng mọi người trong lớp bao gồm cả giáo viên đang đứng về cùng một
phe với họ thì nỗi sợ hãi khi mắc lỗi sẽ không còn và những điều học được từ
những lần mắc lỗi đó sẽ khó quên.
- Tạo động cơ: Một vài người học có những động cơ bên ngoài. Điều đó
có thể là một hỗ trợ lớn cho việc học nhưng tất cả thành viên trong lớp đều
phải được khuyến khích để tham gia vào các hoạt động chung của lớp. Giáo
17
viên sẽ nhìn thấy ngay kết quả khi người học được kích thích hoạt động bằng
các bài tập thú vị, khi họ hoàn thành tốt các bài tập đó và đặc biệt là khi họ
thấy mối liên hệ của các hoạt động ở lớp học với cuộc sống ngoài đời thực.
- Chỉ dẫn. Sinh viên đến lớp để được học những điều mới và được hướng
dẫn cách để làm sao tiếp nhận được các điều mới mẻ đó.
- Làm mẫu. Người học cần được chỉ cho thấy những điều mới và giáo
viên là người làm mẫu cho họ thấy những điều đó được thực hiện như thế
nào.
- Trợ giúp: Người học cần sự giúp đỡ từ phía giáo viên để khám phá
những điều mới và cũng để thực hành những kỹ năng mới.
- Cung cấp thông tin: Người học cần thêm những thông tin hỗ trợ cho
vấn đề đang nghiên cứu, giáo viên sẽ là người đem lại những thông tin sát
thực nhất với vấn đề mà người học đang quan tâm.
- Phản hồi: Người học cần biết họ đã và đang tiến gần đến mục tiêu tới
mức nào. Liệu câu họ nói đã rõ nghĩa chưa? Động từ mà họ sử dụng đã chính
xác chưa? Câu văn mà họ viết đã giống với chuẩn mực của người bản ngữ
chưa? Tất cả những điều đó cần nhận được sự phản hồi từ chính giáo viên
trong mỗi buổi học
- Khuyến khích: Giáo viên phải nhận thức rõ ràng rằng mỗi lời động viên
khuyến khích của mình có thể là một động lực kích thích người học tiếp tục
khám phá, tiếp tục chinh phục những mục tiêu học tập phía trước. Người học
cần phải được cảm thấy rằng ngôn ngữ đang phát triển bên trong họ, thậm chí

- F.W. Taylor (1856-1915) người được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý
khoa học” đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù
nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. Theo ông:
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế
nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”
19
- Henry Fayon (1841-1925) cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến
mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông khẳng định: “Khi
con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ
công việc mà họ phải hoàn thành, và những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là
mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”.
Ở nước ta cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu khái
niệm quản lý.
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể những người quản lý đến tập thể những người
lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động
quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[7, tr.9]
Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan
điểm: Quản lý là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất.
Quản lý luôn tồn tại vói tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: Chủ thể
quản lý( người quản lý, người tổ chức quản lý); đối tượng quản lý( khách thể
quản lý) – con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính, ; mục đích hay
mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu
khách quan của xã hội hoặc do sự cam kết , thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và
khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ

hoạch phù hợp với những quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng , thực hiện
21
được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học. Giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [15, tr.12].
Theo Đặng Quốc Bảo “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hành
động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [3,tr.31]
Nói chung, quản lý giáo dục (QLGD) được hiểu là sự tác động của chủ
thể quản lý đến các khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động/công tác giáo
dục. Nói một cách đầy đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục,
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực
hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Quản lý
giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy
mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.
Tóm lại: Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: Quản lý giáo dục là
quá trình vận dụng những nguyên lý,phương pháp, khái niệm của khoa học
quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt- ngành
giáo dục. Hệ thống quản lý giáo dục bao gồm các thành tố:
- Chủ thế quản lý giáo dục: Là hệ thống quản lý giáo dục các cấp từ
trung ương đến địa phương.
- Đối tượng quản lý giáo dục/ Khách thể quản lý giáo dục:
+ Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho giáo dục
+ Quá trình giáo dục.
+ Con người tham gia vào hoạt động giáo dục.
- Cơ chế không chính thức là những quy định không thành văn bản
nhưng được sử dụng nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý
được mọi thành viên trong hệ thống quản lý thừa nhận và tôn trọng.

23
Viện sĩ V.G Afanaxiep, nhà quản lý xã hội lỗi lạc của Liên Xô cũ đã
nêu lên 5 chức năng cơ bản là: Sử lý và thông qua quyết định, tổ chức, điều
chỉnh, sửa chữa, kiểm kê và kiểm tra.[11.tr. 14]
Henry Fayol(1841-1925), xuất phát từ các loại hình “ hoạt động quản
lý” là người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: Kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra.
Như vậy các quan điểm có thể không giống nhau về mặt ngôn từ, song
hoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa.
- Tổ chức.
- Chỉ đạo
- Kiểm tra
Kế hoạch hóa: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý. Nó giúp chủ
thể tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học. Kế hoạch là văn bản trong
đó xác định mục tiêu, mục đích đối với các thành tựu trong tương lai của tổ
chức và các con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục
đích đó.
Chức năng kế hoạch hóa có 3 nội dung cơ bản sau:
- Xác định, hình thành mục tiêu( phương hướng) đối với tổ chức.
- Xác định và đảm bảo(có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các
nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này.
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu
đó.
Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý tưởng trong kế họach thành hiện thực.
Tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa
các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế
hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu
quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status