Tư tưởng hồ chí minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ và sự vận dụng tư tưởng đó ở thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHI HÙNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC
CỦA CÁN BỘ VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHI HÙNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC
CỦA CÁN BỘ VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết Học
Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐÌNH HÒA



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của mình, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại
của sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc phát huy tính tích cực, vai trò chủ thể,
tự giác sáng tạo của đội ngũ cán bộ là vấn đề then chốt của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thời kỳ mà đất
nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới, với những thời cơ, vận hội lớn
đan xen cùng những thách thức, nguy cơ rất nghiệt ngã, như “tình trạng suy
thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội chủ nghĩa cá nhân và tệ quan
liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra
nghiêm trọng”[22, tr.65]; “Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách
nhiệm ở một số bộ phận công chức, nhất là ở cơ quan trực tiếp giải quyết
công việc của dân và doanh nghiệp, chậm được khắc phục” [22, tr.64]; tình
trạng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, yếu
kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong gương mẫu, vừa
không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ” [22, tr.66];… Đó là những biểu hiện
theo chiều hướng tiêu cực mà Đại hội X (năm 2006) Đảng ta đã chỉ ra. Tuy
nhiên, những biểu hiện đó hiện nay không hề giảm mà đến Đại hội XII (2016)
Đảng ta vẫn còn nhấn mạnh: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn
nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp… Tình trạng suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên chưa bị đẩy lùi”[227, tr.185]. Thêm vào đó là những biểu hiện xa
rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các
thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện “âm mưu diễn biến hòa bình”; “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp cả trong Đảng,
1



Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ và sự vận dụng tư tưởng
đó ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” để làm đề tài luận văn thạc sỹ
chuyên ngành triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khóa họp thứ 24 của Tổ chức khoa học, văn hóa và giáo dục của
Liên hiệp quốc (UNESCO) quyết định tôn vinh Hồ Chí Minh danh hiệu cao
quý: “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất” năm 1990,
đặc biệt từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt
Nam (tháng 6 - 1991) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động”[27, tr.127] thì việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được triển khai
sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, với nhiều tác phẩm, công trình, đề tài khoa học
nghiên cứu công phu theo nhiều hướng khác nhau được công bố. Trong phạm
vi những nội dung có liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát thành các
hướng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức,
tác phong của cán bộ nói chung. Có các công trình tiêu biểu đã công bố như:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, đề tài KX-02-08 thuộc chương trình
khoa học và công nghệ cấp Nhà nước – Tư tưởng Hồ Chí Minh (KX-02) do
PGS, PTS. Nguyễn Văn Truy (chủ nhiệm), Hà Nội, 1994. Trong công trình
này, các tác giả đã phân tích khá sâu về nguồn gốc, đặc điểm và nội dung tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh;
Cuốn sách “Từ Các Mác đến Hồ Chí Minh một dòng chảy văn hóa”
của tác giả Trần Đình Huỳnh (chủ biên), Nxb. Hà Nội, 2003. Cuốn sách đã
tập hợp các bài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều bình diện, hệ
thống theo trình tự thời gian, sự phát triển tư tưởng qua hoạt động thực tiễn
thành dòng chảy xuyên suốt từ Marx đến Hồ Chí Minh. Tiêu biểu trong số đó
3



trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX.02, do Đại tướng Võ Nguyên
Giáp (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2015. Trong công trình này, các tác
giả đã trình bày một cách có căn cứ khoa học, toàn diện những vấn đề lý luận
cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, làm rõ
và có những đóng góp mới về quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ
Chí Minh. Đặc biệt các tác giả đã phân tích một cách hệ thống những luận
điểm sáng tạo lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về tư tưởng nhân văn, đạo đức,
văn hoá Hồ Chí Minh;
Cuốn sách “Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ” của Bảo tàng Hồ Chí
Minh, Nxb.Thanh niên. Cuốn sách đã phân tích làm rõ nguồn gốc và sự khác
biệt cơ bản giữa đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nêu lên
những chuẩn mực và nguyên tắc xây dựng đạo đức mới, trong đó có đạo đức
của người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhằm đáp
ứng nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu sự vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức, tác phong của cán bộ ở phạm vi một đối tượng, một địa phương,
một ngành, tiêu biểu có các công trình: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào
giáo dục đạo đức cho sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của
ThS.Phạm Tấn Xuân Tước, PGS, TS. Huỳnh Thị Gấm, Nxb. Lý luận chính
trị, 2008. Trong công trình này, các tác giả đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên ở thành phố Hồ Chí
Minh. Chỉ rõ thực trạng đạo đức của sinh viên trong các trường ở thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay. Nêu lên sự cần thiết phải giáo dục tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh cho sinh viên, để đảm bảo tính toàn diện và cân đối giữa tài
năng và đạo đức trong họ trước sự chuyển mình của đất nước;
Trong cuốn sách: “Văn hóa Hồ Chí Minh” của các tác giả Nguyễn Hữu
Đảng, Lê Ngọc Y, Trần Thị Hồng Thúy, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
5



dân”, “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”, “không sợ thiếu
chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên”, v.v.. tác
giả đã phân tích khá sâu sắc từ những điều căn bản nhất trong di sản Hồ Chí
Minh đến thực tiễn cuộc sống hôm nay. Cách phân tích của tác giả toát lên di
sản Hồ Chí Minh là sinh khí của một học thuyết, vì tư tưởng của Người đang
trả lời đúng nhiều câu hỏi của cuộc sống đặt ra và luôn hướng tới tương lai.
Tác giả dành một chương viết về Hồ Chí Minh - người khởi xướng sự nghiệp
đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh với khẳng
định: “Tìm về Hồ Chí Minh - cội nguồn của đổi mới hôm nay”. Đặc biệt tác
giả đã phân tích những tư tưởng sáng tạo và đổi mới của Hồ Chí Minh, trong
sáng tạo có đổi mới, trong đổi mới có sáng tạo, mà sáng tạo, đổi mới lớn nhất
là khắc sâu quan điểm “có dân là có tất cả, mất lòng tin của dân là mất tất cả”;
Công trình “Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo phường trong giai đoạn hiện nay” do TS. Nguyễn Duy Hùng
(chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, đã tổng kết thực tiễn, phân
tích làm rõ những căn cứ, cơ sở lý luận của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường nói riêng. Trên cơ sở
khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các phường thuộc địa bàn Thủ đô
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng từ năm 2000 đến
nay, tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá cũng như đề xuất một số giải
pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng, hệ thống chính trị ở loại hình
phường phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới;
Cuốn sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá - Luận cứ và giải pháp”,
do TS. Lê Phương Thảo (chủ biên), Nxb. Lý luận chính trị. Hà Nội, 2005.
Công trình này là tập hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học
7



Nhìn chung, tất cả các ấn phẩm, các công trình, bài viết nêu trên đã đề
cập sâu sắc đến các góc độ khác nhau của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức,
tác phong làm việc của cán bộ. Vì vậy, đây thực sự là những tư liệu quan
trọng, có giá trị để tác giả làm cơ sở đi sâu tìm hiểu, làm rõ tư tưởng Hồ Chí
Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ. Kế thừa những thành quả của các
công trình nghiên cứu trên, trong luận văn này tác giả trình bày một cách có
hệ thống nguồn gốc, nội dung và đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa
đổi lối làm việc của cán bộ, góp phần làm sáng tỏ sự vận dụng tư tưởng của
Người trong việc sửa đổi lối làm việc của cán bộ, mà cụ thể là cán bộ ở thành
phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Luận văn làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm
việc của cán bộ và sự vận dụng tư tưởng đó của cán bộ ở thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải giải quyết những nhiệm
vụ sau:
Một là, phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc;
Hai là, phân tích thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
sửa đổi lối làm việc của cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh;
Ba là, đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về
sửa đổi lối làm việc của cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là tư tưởng Hồ Chí
Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ và việc vận dụng tư tưởng đó của cán
bộ ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
9



Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ:
Nội dung và ý nghĩa.
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc
của cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.

11


Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC CỦA CÁN
BỘ: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA
1.1. Một số khái niệm cơ bản: cán bộ, sửa đổi lối
làm việc
1.1.1. Khái niệm cán bộ
Trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý (chủ biên), thuật
ngữ “cán bộ” được giải thích là “người làm việc cơ quan nhà nước; người có
chức vụ trong cơ quan nhà nước, phân biệt với nhân viên”[79, tr.102].
Luật Cán bộ - Công chức giải thích: “Cán bộ là công dân Việt Nam,
được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[68, tr 2].
Trong giai đoạn hiện nay, khái niệm “cán bộ” thường dùng để chỉ
“những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn
thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công”[35, tr.14]. Hoặc
“Những người lãnh đạo, quản lý hoặc nhà chuyên môn, nhà khoa học hay
công chức, viên chức làm việc hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách Nhà nước
hoặc các nguồn khác được hình thành từ bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt

Cán bộ là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện và gắn liền với sự phát triển
của xã hội loài người. Trình độ tổ chức của xã hội dẫn đến sự xuất hiện của
cán bộ, qui định và đòi hỏi người cán bộ phải đáp ứng những yêu cầu của nó.
Cán bộ là chủ thể hoạch định mục tiêu, chiến lược phát triển xã hội đồng thời
giữ vai trò lãnh đạo, quản lý, điều hành các tổ chức xã hội thực hiện những
mục tiêu đó. Bởi lẽ, trong xã hội có giai cấp, cán bộ luôn bị chi phối bởi một
13


lập trường tư tưởng, một mục tiêu giai cấp nhất định, không có cán bộ nào
đứng ngoài giai cấp, hành động ngoài mục tiêu của giai cấp cầm quyền.
Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
của Đảng Cộng sản Việt Nam, cán bộ là vấn đề liên quan tới vận mệnh của
Đảng, của đất nước, của chế độ, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng. V.I.Lênin đã chỉ rõ "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành
được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có khả năng tổ chức và
lãnh đạo phong trào”[37, tr.473]. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi "Cán bộ là cái
gốc của mọi công việc”[55, tr.487], muôn việc thành công hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém”[55, tr.487]. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, để phát huy mạnh mẽ ảnh hưởng của mình vào trong quần chúng, giáo
dục giác ngộ động viên và tập hợp đông đảo quần chúng cách mạng thành lực
lượng hùng hậu, thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của mình, Đảng ta
phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và của cả hệ thống chính trị.
Xây dựng và phát triển một đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
luôn là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước ta từ khi thành lập đến nay.
1.1.2. Sửa đổi lối làm việc
Về khái niệm sửa đổi lối làm việc. Thuật ngữ “sửa đổi” trong cuốn Từ
điển Tiếng Việt do Vĩnh Tịnh biên soạn đã định nghĩa: “Sửa đổi là thay đổi

việc đạt hiệu quả cao, cán bộ cần phải thường xuyên thay đổi cung cách, quy
trình làm việc cũ, bằng cung cách quy trình làm việc mới cho phù hợp với yêu
cầu của thời đại, làm tròn sứ mệnh là người đầy tớ của nhân dân.
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối
làm việc
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ
15


được thể hiện trong nhiều tác phẩm: “Đường cách mệnh” (năm 1927), “Đời
sống mới” (1947), “Tự phê bình và phê bình” (1955), “Đạo đức cách mạng”
(1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969),
“Di chúc” (1969),… Tuy nhiên, có thể nói, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về sửa đổi lối làm việc của cán bộ thể hiện nổi bật nhất trong tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc” (1947). Trong phạm vi luận văn này, khi bàn về nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ, chúng tôi chỉ phân
tích những nội dung cơ bản nhất trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Hồ Chí Minh viết vào tháng 101947. Tác phẩm được xác định như một văn kiện có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn sâu sắc, nhằm xây dựng và củng cố Đảng thành một đảng Mác - Lênin
chân chính, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đến thắng lợi
vẻ vang. Ngay sau khi cách mạng thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời, trước những nhiệm vụ lớn của cách mạng và của đất nước, Người
đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Về mục đích, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm nâng cao trình độ
lý luận, nâng cao tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo
đức, tác phong công tác của người cán bộ cách mạng, nâng cao năng lực lãnh
đạo nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của cách mạng. Trong tác phẩm “Sửa đổi
lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán “chủ nghĩa cá nhân” vì đó là
một thứ “vi trùng rất độc” nó sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh
tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa

vô sản và các lực lượng tiến bộ trong thời đại mới. Đánh giá chủ nghĩa Mác
-Lênin trong số các học thuyết, các trào lưu tư tưởng về cách mạng đang lan
truyền trên thế giới cũng như ở Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ
XX, Hồ Chí Minh khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều,
nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ
17


nghĩa Lênin. Vậy, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là thế nào? Hồ Chí Minh đã
giải thích một cách dung dị, cô đọng và dễ hiểu là “học tập cái tinh thần xử trí
mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”; là học tập phương
pháp, nắm vững lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không phải là học
một cách máy móc, giáo điều. Người luôn nhắc nhở chúng ta rằng “chủ nghĩa
Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh
thánh”[57, tr.247] Học chủ nghĩa Mác-Lênin để nắm bắt được quy luật vận
động và phát triển của xã hội, để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh
thực tế nước ta. Học chủ nghĩa Mác-Lênin để trung thành, bảo vệ nó và không
ngừng nâng cao, hoàn thiện nó.
Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” – cuốn sách viết ra để huấn
luyện lớp cán bộ đầu tiên của Đảng ta, Hồ Chí Minh đã coi lý luận là “trí
khôn” của Đảng, Người viết “không có lý luận lúng túng như nhắm mắt mà
đi”. Không chỉ có thế, theo người, lý luận còn giúp đảng viên cán bộ biết
sống với đồng bào đồng chí sao cho có tình, có nghĩa. Đã có lần người lưu
ý: Nếu thuộc bao nhiêu sách Mác – Lênin mà sống với nhau không có tình
có nghĩa thì cũng coi như không hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin. Có thể thấy
Hồ Chí Minh coi lý luận là “trí khôn”, là “tâm hồn” và “tình cảm” của mọi
cán bộ đảng viên. Chính vì vậy mà nó được coi là kim chỉ nam “chỉ
phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”. Nhưng thế nào là lý
luận tiền tiến, lý luận cách mạng? Theo Người, lý luận không phải là một
mớ giáo điều, là dập khuôn máy móc, là lý thuyết suông mà “lý luận là đem

đến tầm quan trọng và sự cần thiết phải nghiên cứu, xem xét những “tài liệu
thiết thực” khác, đó là “những kinh nghiệm do người học mang đến, kinh
nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại”. Người đánh giá “những
kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý…”. [57,
tr.49]. Bởi lý luận không phải là một cái gì đó đối lập với kinh nghiệm, mà
19


ngược lại, lý luận chẳng qua là “sự tổng kết những kinh nghiệm của loài
người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong
quá trình lịch sử”[57, tr.499].
Như vậy, để sửa đổi lối làm việc của cán bộ trước tiên mỗi cán bộ phải
học tập nâng cao trình độ, đặc biệt là trình độ lý luận - một thứ lý luận vừa
khoa học, vừa cách mạng như Hồ Chí Minh đã nói và đã làm. Bởi lẽ cán bộ
“vì kém lý luận cho nên gặp mọi việc không biết xem xét rõ, cân nhắc cho
đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý
mình nghĩ thế nào làm thế ấy kết quả thường thất bại”? Lý luận chỉ đạo cho
hoạt động. Trên cơ sở lý luận đúng mà “đặt khẩu hiệu, đặt chương trình làm
việc, chương trình tranh đấu, tuyên truyền…” và xác định “cách tổ chức và
cách làm việc”.
1.2.2. Sửa chữa khuyết điểm (phê bình), khắc phục bệnh quan liêu,
chủ quan, hẹp hòi, ba hoa
Khi đề cập đến hiệu quả hoạt động của toàn Đảng, của bộ máy Nhà
nước, Hồ Chí Minh rất coi trọng sự nỗ lực, tu dưỡng của từng cán bộ, đảng
viên. Bởi sự nỗ lực, tu dưỡng của từng cán bộ, đảng viên nó quyết định sự
chuyển biến của toàn Đảng, của bộ máy Nhà nước. Hồ Chí Minh đã nhiều lần
nói: “Đảng là gì? Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên là do mỗi chúng ta lớn
lên”[61, tr.463]. Mỗi một cán bộ, đảng viên mạnh là làm cho bộ máy quản lý
và chi bộ mạnh, cơ quan và Đảng bộ mạnh, bộ máy Nhà nước và toàn Đảng
mạnh. Ngược lại mỗi khuyết điểm của từng cán bộ, đảng viên đều có ảnh

điểm, sửa chữa khuyến điểm, để tư tưởng và hành động được đúng hơn, và tốt
hơn, để làm việc có hiệu quả hơn.
Đi đôi với sửa chữa khuyết điểm (phê bình), theo Hồ Chí Minh, cán bộ
cần phải khắc phục bệnh quan liêu, bệnh chủ quan, loại bỏ thói ba hoa. Quan
liêu, chủ quan là không đi sát với công việc thực tế, xa lánh, xem thường quần
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status