BÀI HỌC KINH NGHIỆM “XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG- CĂN CỨ ĐỊA
VỮNG MẠNH ” ĐƯỢC TỔNG KẾT QUA HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ- GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC.
Dưới ngọn cờ của Đảng, quân và dân ta đã anh dũng đấu tranh kết
thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm nên thiên anh
hùng ca vĩ đại nhất trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta, đưa Tổ quốc ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự do và chủ
nghĩa xã hội. Thắng lợi của tổng tiến công và nổi dậy mùa xân năm 1975
là một mốc son lịch sử đánh dấu cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước
lâu dài, đầy gian khổ hy sinh của nhân dân ta đã toàn thắng. Thắng lợi đó
đã đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng cộng sản Việt Nam trong
lãnh đạo chỉ đạo chiến tranh giải phóng dân tộc. Thắng lợi của sự nghiệp
chống mỹ cứu nước của nhân dân ta là thành quả vĩ đại nhất trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc đưa nước ta sang một kỷ nguyên mới hoà bình
thống nhất cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong hai cuộc trường chinh của dân tộc ta chống xâm lược dưới sự
lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Đảng ta đã đúc rút ra nhiều bài học
kinh nghiệm trong đó có bài học vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa chiến
đấu vừa xây dựng căn cứ địa. Bài học đó chẳng những có giá trị trong lịch sử
mà còn có giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc việt nam xã hội
chủ nghĩa, trong sự nghiệp đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Vừa kháng chiến vừa kiến quốc vừa chiến đấu vừa xây dựng thực
chất là nói về vai trò to lớn của hậu phương, nhân tố thường xuyên quyết
định thắng lợi của cuộc chiến tranh. bởi nước ta là một nước nhỏ bé, trải qua
hàng ngàn năm bắc thuộc, kinh tế thuần nông là chủ yếu lại phải đối đầu với
tên đế quốc có tiềm lực quân sự mạnh hơn ta rất nhiều lần để có sức mạnh về
mọi mặt để chiến thắng mọi kẻ thù thì phải vừa kháng chiến vừa kiến quốc
vừa chiến đấu vừa xây dựng căn cứ địa vững mạnh là một yêu cầu khách
quan.
yếu tố quyết định là giải quyết “chổ đứng chân” để phát huy tiềm lực phục
vụ cho cuộc chiến lâu dài do đó đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “
căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng phục vụ trong vòng vây của
địch, cách mạng dựa vào đó để tích luỹ và phát triển lực lượng của mình về
mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, kinh tế, quân sự,
văn hoá lấy đó là nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh
bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước- căn cứ địa cách mạng là
chổ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chổ dựa để xây dựng và phát
triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang cách mạng. Trên ý
nghĩa đó, nó là hậu phương của chiến tranh cách mạng” 3. Trên thực tiễn cuộc
kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc mỹ đòi hỏi chúng ta vừa kháng
chiến vừa kiến quốc vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, trên cơ sở thực
tế của chiến trường thì thực dân pháp gấp bội phần có 50 triệu dân là nước đế
quốc có nhiều thuộc địa lớn thứ 2 trên thế giới lúc bấy giờ. Có đội quân xâm
lược nhà nghề lão luyện, dày dặn kinh nghiệm trong việc đánh chiếm thuộc
địa, chúng có trang bị vũ khí tối tân còn ta chưa sản xuất được một tấc thép
nào. Chúng được đế quốc Anh lúc đầu, sau đó là đế quốc Mỹ giúp đỡ và có
khả năng huy động một số nhân vật lực lớn của các nước thuộc địa. Chính vì
vậy, để tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi đòi hỏi Đảng
ta phải đánh giá đúng so sánh lực lượng ta và địch, khả năng ta và địch để có
chủ chương, đường lối kháng chiến đúng đắn nhằm tạo nên sức mạnh tổng
hợp đánh bại kẻ thù xâm lược. Trên cơ sở đánh giá khả năng của ta và địch,
Đảng ta đã đề ra chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chiến đấu,
vừa xây dựng lực lượng. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II
của Đảng khẳng định: “Trong chiến tranh giải phóng trường kỳ, vấn đề xây
dựng căn cứ địa là một vấn đề chiến lược quan trọng ngang hàng vưói vấn đề
Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945- 1975) Nxb qđ trang 9
3
1,2
5
2
3
ĐCSVN, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2002, tr. 95.
Như vậy, chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chiến đấu vừa
xây dựng lực lượng của Đảng là một chủ trương đúng đắn được xuất phát trên
cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, từ thực tiễn so sánh lực lượng giữa ta và
địch. Đây chính là cơ sở để Đảng ta chỉ đạo thực hiện chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ giành thắng lợi.
Sau Cách mạng Tháng 8 / 1945 thành công, Việt Nam trở thành một
quốc gia độc lập, nhưng nước Việt Nam mới đã phải đương đầu với những
thách thức cực kỳ to lớn: Nạn đói, kinh tế kiệt quệ, thù trong giặc ngoài thi
nhau chống phá, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Để tiếp tục
thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ta phải vừa kháng
chiến, vừa kiến quốc. Kháng chiến để đảm bảo thành quả cách mạng, giữ
vững nền độc lập, tự do vừa giành được. Muốn kháng chiến thắng lợi phải
xây dựng căn cứ địa - hậu phương vững mạnh. Trong hoàn cảnh ta phải tiến
hành một cuộc kháng chiến không cân sức với địch thì điều đó hơn bao giờ
hết phải kiến quốc, xây dựng chế độ mới về mọi mặt, thực sự đưa lại quyền
lợi cho nhân dân, là phát huy thành quả của cách mạng đồng thời cũng là tạo
dựng căn cứ địa - hậu phương làm cơ sở để giành thắng lợi cho kháng chiến.
Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc là con đường đấu tranh giữ vững chính
quyền từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tạo nên sức mạnh để
vượt qua mọi thách thức lớn đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược
của đế quốc và tay sai. Nó phải ánh quy luật của cách mạng Việt Nam sau
Cách mạng Tháng Tám là xây dựng chế độ mới phải gắn liền với bảo vệ chế
dân chủ cộng hoà là Nhà nước của dân do dân và vì dân là Nhà nước dân chủ
đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta.
Khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc ta đã có chính quyền hợp
pháp, hợp pháp trong cả nước ở tất cả các cấp ta kháng chiến với tư cách là
một quốc gia độc lập có chính quyền, có quân đội, đồng thời kiến thiết nước
nhà dưới sự quản lý điều hành tập trung, thống nhất của Chính phủ từ Trung
ương đến cơ sở. Chính quyền đó ngày càng lớn mạnh được nhân dân tín
nhiệm không chỉ ở vùng tự do, căn cứ và hậu phương kháng chiến mà cả ở
những vùng địch còn tạm chiếm. Uy tín của Nhà nước Việt Nam độc lập, Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã có vị thế trên trường quốc tế ngày càng
tăng, vị thế của cuộc kháng chiến Việt Nam của cách mạng Việt Nam được
khẳng định mạnh mẽ.
Đi đôi với giữ vững quyền lãnh đạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Trung ương Đảng đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng lực lượng chính
trị và chính sức mạnh chính trị này là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định
thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa. Sau khi giành chính quyền Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã vạch rõ: Nước lấy dân làm gốc. Trong cuộc kháng chiến, kiến
quốc lực lượng chính là ở nơi dân công tác tuyên truyền, giáo dục vận động
quần chúng càng được đẩy mạnh và mở rộng ở tất cả các giới, các ngành, các
địa phương, lấy sức mạnh quần chúng làm hậu thuẫn cho Chính quyền Nhà
nước, làm cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và triển khai cuộc
kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ.
Công tác đào tạo cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt
quan tâm “kháng chiến, kiến quốc cần có nhân tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu
gọi nhân dân ta phát hiện người có tài, có đức, đồng thời Đảng và Chính phủ
đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phải gấp rút đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để đáp ứng
kịp thời yêu cầu của đất nước về mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao,
văn hoá, giáo dục v.v...Chính sách cán bộ đúng đắn và nghiêm minh của
huy động hết sức người, sức của ngày một nhiều hơn nông dân đã cung cấp
sức người, sức của cho kháng chiến. Phải giải phóng nông dân khỏi ách
phong kiến, phải bồi dưỡng cho nông dân thì mới động viên đầy đủ lực lượng
lớn đó, dốc vào kháng chiến để giành thắng lợi”4.
Về công nghiệp, sau khi giành chính quyền, ta đã thành lập các xưởng
quân giới ở các địa phương, lúc đầu là sản phẩm vũ khí thô sơ, để phục vụ vũ
trang toàn dân. Về sau trong quá trình chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, hàng
vạn tấm máy móc, nguyên liệu, vật liệu từ thành thị đã được chuyển lên chiến
khu. Các cơ sở công nghiệp quốc phòng quy mô lớn đã ra đời và đi vào sản
xuất, đảm bảo được một phần vũ khí, đạn dược cơ bản cho chiến trường. Từ
sức sáng tạo của kỹ sư và công nhân Việt Nam, ta đã tiến lên sản xuất được
một số loại vũ khí có hoả lực mạnh, có tầm bắn xa, có sức phá hoại, sát
thương lớn. Cùng với công nghiệp quốc phòng, các cơ sở công nghiệp sẵn có
trong vùng căn cứ kháng chiến như khai thác than, khoáng sản cũng được
phục hồi; đồng thời ta xây dựng được một số cơ sở công nghiệp mới phục vụ
cho cả quốc phòng và dân sinh như sản xuất thuốc chữa bệnh, cơ khí,
v.v...phát triển một số xí nghiệp nhẹ quy mô nhỏ, một số xưởng tiểu công
nghiệp và thủ công nghiệp đáp ứng yêu cầu của nhân dân và bộ đội trong
vùng tự do như vải, đường muối, giấy, dầu ăn, nông cụ.
Từ năm 1948, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi
dua Ái quốc được phát động mạnh mẽ, sôi nổi trong cả nước, đã trở thành
một động lực quan trọng thúc đẩy mọi mặt hoạt động kháng chiến. Nội dung
thi đua là hướng mọi năng lực, mọi cố gắng của nhân dân, bộ đội, ở tiền tuyến
cũng như ở hậu phương vào mục đích đẩy cuộc kháng chiến chuyển sang giai
đoạn mới. Ở khắp các Mặt trận và trong vùng sau lưng địch, việc thi đua giết
giặc lập công, phá tề từ gian được đẩy mạnh. Ở căn cứ - hậu phương, các mặt
4
ĐCSVN, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tập 14, tr. 377
Việc xây dựng, củng cố, phát triển căn cứ địa Việt Bắc được Chủ tịch Hồ
Chí Minh và thường vụ Trung ương Đảng đặc biệt quan tâm. Ngay sau Cách
mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến trước thực
dân Pháp sẽ quay trở lại xâm lược nước ta. Vì thế, trước khi về thủ đô, Người
đòi đặt việc tiếp tục xây dựng, tăng cường căn cứ địa Việt Bắc thành một
nhiệm vụ quan trọng để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Do điều kiện địa hình nước ta, căn cứ địa có thể thiết lập ở rừng núi mà
cùng có thể xây dựng ở đồng bằng, vì ở đây thay vì rừng núi, ta có sẵn rừng
người. Địa hình hiểm trở là một yếu tố cực kỳ quan trọng, song chỗ dựa vững
chắc nhất suy cho cùng là lòng dân. Không có lòng yêu nước sâu sắc của nhân
dân, không có tinh thần giác ngộ sâu sắc về cách mạng của đông đảo của quần
chúng thì căn cứ địa nào, dù rừng núi hiểm trở vẫn có thể bị địch bao vây,
đánh thọc sâu, chia cắt. Cho nên, xây dựng căn cứ địa - hậu phương là một
công tác toàn diện, nhiều mặt kết hợp với nhau, có nhân dân, có quân đội
tham gia dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhất thiết phải trải qua chiến đấu lâu
dài, vừa đánh vừa xây dựng thì mới tạo được căn cứ địa - hậu phương ngày
càng rộng rãi, vững chắc.
Trong chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ của ta, khái niệm về
hậu phương đã được mở rộng. Đó không chỉ là khu vực phía sau trận tuyến
của ta mà là một hệ thống căn cứ địa - hậu phương với các độ khác nhau. Căn
cứ địa - hậu phương của cả nước, căn cứ địa - hậu phương của từng vùng,
từng hướng chiến lược, của từng chiến trường, căn cứ địa - hậu phương của
từng khu, liên khu, chiến khu, căn cứ địa - hậu phương của liên tỉnh, tỉnh,
thành phố, huyện, liên huyện thậm chí của xã; không chỉ là vùng tự do, giải
phóng mà còn gồm cả chỗ đứng chân của lực lượng cách mạng và ba thứ
quân của ta ở trong vùng sau lưng địch. Chiến tranh lâu dài, thì tiền tuyến của
ta càng mở rộng về phía sau lưng địch, hậu phương của địch ngày càng thu
hẹp và nhiều vùng dần dần sẽ tiến thành hậu phương của ta. Đó là nét sáng
lực lượng cho cả nước làm hậu thuẩn đấu tranh cho cuộc đấu tranh giải phóng
Miền nam, tạo điều kiện để chi viện ngày càng lớn cho miền nam,và cùng với
miền nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng. Xây dựng miền bắc xã hội chủ
nghĩa là “ xây dựng căn cứ địa cách mạng cho cả nước”
Đảng ta xác định xây dựng miền bắc là căn cứ địa cho cả nước đây là
quyết tâm đúng đắn là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng căn cứ địa cách
mạng xây dựng hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống mỹ xâm
lược.Do đó Miền bắc phải nhanh chóng ổn định chính trị- xã hội nhất là
những vùng bị tạm chiếm nhiều năm, nhanh chóng thực hiện cải cách ruộng
đất, đem lại thiết thực cho nông dân lao động tuy nhiên còn mắc phải một số
sai lầm, nhưng đã khắc phục sữa chửa đã cúng cố niềm tin của quần chúng
nhân dân với đảng, miền bắc từng bước khôi phục kinh tế do chiến tranh để
lại, xây dựng kinh tế miền bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát
triển của cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.Việc xây
dựng quân đội cũng cố quốc phòng có bước tiến mới đặc biệt quân thường
trực rút gọn được huấn luyện sát với thực tế chiến trường lực lượng dự bị và
lực lượng dân quân được tự vệ được xây dựng rộng rãi, kế hoạch phòng thủ
miền bắc được triển khai việc chi viện cho miền nam được đẩy mạnh. Hồ
Chủ Tịchđã từng đánh giá trong mười năm qua, miền bắc nước ta đã tiến
hành những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc đất nước xã hội con
người đều đổi mới . nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương khoá III
(1965) đánh giá : Miền bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng
việt nam trong cả nước, với chế độ ưu việt với lực lượng ngày càng lớn
mạnh. Đó là cơ sở vững chắc để đảng ta cũng cố và nâng cao quyết tâm
chống mỹ xâm lược.
Kết hợp xây dựng hậu phương trong cả nước với xây dựng hậu phương
tại chổ trên các chiến trường miền nam được đẩy mạnh trong hình thái chiến
tranh xen kẻ, cài răng lược ở miền nam các căn cứ địa là bộ phận nòng cốt của
dài của chiến trường, bố trí các đường chiến lược, đường bộ đường sông bí
mật vào các vùng địch kiểm soát hàng nghìn km. Như vậy đảng và nhà nước
ta đã xác định đúng chiến lược “ chuẩn bị hậu phương cho tuyền tuyến” do
đó khi tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975 ta có mạng lưới giao
thông đường bộ đường sông nối từ hậu phương đến chiến trường tiếp giáp
với địch trên các hướng tác chiến, chiến dịch. Do đó, đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc cơ động lực lượng, binh khi kỷ thuật chuẩn bị cho chiến dịch
đánh tập trung hiệp đồng binh chủng lớn.
Có thể nói việc xây dựng mạng lưới giao thông vận tải chiến lược chuẩn
bị cho tổng tiến công là một thành công lớn của chuẩn bị tổ chức chiến
trường, do đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác hậu cần đảm bảo tác
chiến thắng lợi . Cùng với việc phát triển cũng cố mạng đường vận tải,
việc bố trí triển khai các căn cứ hậu cần phù hợp với phương án tác
chiến, đây cũng là một bộ phận của nội dung bài học xây dựng căn cứ địa
hậu phương trên các chiến trường. Trong những năn 1972- 1974 đảng ta
đã chủ trương tập kết công tác hậu cần về mọi mặt, trên cơ sở vùng giải
phóng được mở rộng các căn cứ hậu cần được hình thành, mạng đường
giao thông vận tải chiến dịch được phát triển, được triển khai thế trận hậu
cần vững chắc, sẵn sàng đảm bảo cho các lực lượng vũ trang tiến công
vào các mục tiêu chiến lược, chiến dịch khi có lệnh các lực lượng hậu
cần quân độiđã kết hợp chặt chẽ với các lực lượng hậu cần địa phương
hậu cần nhân dân tại chổ, triển khai thế trận hậu cần vững chắc phù
hợp với các hướng tiến công liên hoàn bởi mạng giao thông vận tải chiến
lược, chiến dịch thế trận đó đã được kịp thời chuyển hoá lực lượng hậu
cần đã kịp thời cơ động theo dự dự kiến góp phần vào cuộc kháng chiên
thăng lợi hoàn toàn. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống pháp và kháng
chiến chống mỹ một lần nữa chứng tỏ sức mạnh quật cường của dân tộc
Việt Nam, chứng tỏ sức sáng tạo và tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo
vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự
kế thừa truyền thống của dân tộc lên một bước mới. Những thành tựu mà
nhân dân ta đạt được trong sự nghiệp xây dựng đất nước luôn luôn gắn liền
với những thành tựu đạt được trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; mặt khác
những thành tựu trong phát triển đất nước là nhân tố bảo đảm khả năng tăng
cường sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của đất nước. Trên cơ sở quán triệt nắm chắc quan điểm cơ bản kết
hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, coi sức
mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát
triển kinh tế lấy đó làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, lấy ổn định
chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh làm điều kiện để phát triển
kinh tế xã hội. Phải nhận rõ bảo vệ Tổ quốc ngày nay là bảo vệ vững chắc độc
lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi
lĩnh vực; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và lợi ích quốc gia
dân tộc. Đó là mục tiêu, yêu cầu mới, diễn ra trên tất cả các mặt: kinh tế,
chính trị, tưởng, văn hoá, lối sống, đồng thời vẫn tồn tại khả năng đấu tranh
vũ trang ở các quy mô, các hình thức. Công cuộc đổi mới đất nước diễn ra
trong xu thế toàn cầu hoá, hợp tác hoá quốc tế, là thời cơ thuận lợi để cho ta
tận dụng phát triển. Để công cuộc đổi mới thành công, yêu cầu trước hết là
phải mở rộng hợp tác quốc tế để thu hút vốn, công nghệ cho phát triển đất nư-
ớc trong thời kỳ mới, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng
đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch đang ngày đêm
chống phá cách mạng Việt Nam. Là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng
toàn dân, chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa , Quân đội
nhân dân được Đảng ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo xây dựng. Đảng ta xác
định quan điểm chỉ đạo là: Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc,
toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Đảng, Nhà nước ta chủ