Tài liệu LUẬN VĂN: BàI học kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kì đổi mới - Pdf 10



LUẬN VĂN:

BàI học kinh nghiệm xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong thời kì đổi mới
A. phần mở đầu :

giới thiệu đề tài
Trong khi nền kinh tế, chính trị xã hội đất nước không ổn định thì đặt ra yêu cầu
nhà nước phảI có chính sách đổi mới cho phù hợp với đIều kiện thực tiễn xã hội.
Nước Nga sau khi thoát khỏi chiến tranh tình hình đất nước rất bất ổn. Lê-nin, người
lãnh đạo tối cao của nhà nước Xô-Viết đã đề ra chính sách kinh tế mới nhằm giảI
quyết tình hình khó khăn của đất nước. Bởi vì kinh tế cộng sản thời chiến không thể
duy trì trong cả thời bình. Phương thức phân phối sản phẩm theo chủ nghĩa bình quân
không thể tiếp tục duy trì, nó không kích thích được sự phát triển của đất nước. Để

kinh tế mới đã để lại bàI học kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kì đổi
mới. Tuy ý nghĩa thời sự của chính sách kinh tế mới không còn nhưng bàI học về
phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội còn đó. B. nội dung:

CHƯƠNG 1:NHững vấn đề cơ bản về chính sách kinh tế mới của LêNin
I. hoàn cảnh ra đời của chinh sách kinh tế mới
* Điều kiện ra đời
Cuối năm 1920, nội chiến kết thúc, nước Nga chuyển sang thời kỳ kiến thiết trong hoà
bình. Do đó, chính sách “Kinh tế cộng sản thời chiến” đã làm xong vai trò lịch sử bất
đắc dĩ của nó, giờ đây không cho phép nó đi xa hơn nữa, vì nông dân nhiều nơi đã tỏ
ra bất mãn với chính sách kinh tế cộng sản thời chiến (thể hiện rõ ở cuộc bạo loạn
Cron-Xtat gần Lêningrát); khối liên minh công nông có nguy cơ tan vỡ. Cho nên phải
cần thiết phải trở lại thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội do Lênin đề ra năm
1918, phải trở lại những quan hệ kinh tế khách quan giữa công nghiệp và nông nghiệp,
giữa thành thị và nông thôn.
1. Tình hinh kinh tế trước thời kỳ đổi mới
a. Về nông nghiệp:
Những thành phần kinh tế chủ yếu của kinh tế Xô Viết vẫn như cũ. Nông dân
“nghèo ” (vô sản và nửa vô sản ), trong rất nhiều trường hợp đã cảI biến thành tầng lớp
trung nông. Điều đó làm cho “thành phần tiểu tư hữu, tiểu tư sản được tăng cường
thêm”. Một mặt khác cuộc nội chiến 1918-1920 đã làm tình trạng suy đồi của xứ sở
càng thêm trầm trọng ghê gớm, đã làm chậm trễ việc phục hồi các lực lượng sản xuất
nhất là nó đã hút hết máu mủ của giai cấp vô sản. thêm vào đó nạn mất mùa 1920, nạn
thiếu cỏ cho gia súc, bệnh dịch súc vật, càng kìm hãm thêm việc phục hồi ngành vận
tải và công nghiệp. Tình hình chính trị năn 1921 đã đưa đến chỗ buộc phải dùng những
biện pháp tức thời, biện pháp đặc biệt nhất để cải thiện đời sống nông dân và phục hồi
lực lượng sản xuất của họ trong hoàn canh nước Nga bị tàn phá trong chiến tranh, nền

e. về thương nghiệp:
Kể từ khi thực hiện chính sách kinh tế Cộng sản thời chiến, thương nghiệp bị xoá bỏ
hoàn toàn. Nền kinh tế mang tính chất hiện vật cao. Trao đổi sản phẩm trên thị trường
bị cấm. Nhà nước vẫn áp dụng chế độ tem phiếu, trực tiếp phân phối bằng hiện vật cho
người tiêu dùng và theo hướng bình quân hoá. Thị trường thiếu hàng hoá, vận động
một cách chậm chạp. Tính ỳ của nền kinh tế càng tăng do sự can thiệp quá sâu của nhà
nước vào thương nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
2. Tình hình chính trị-xã hội : Tình hình kinh tế như trên đã dẫn tới tinh hình chính trị –xã hội không mấy khả quan.
Nông dân luôn có tâm trạng bất mãn do những mong đợi về cảI thiện đời sống sau
chiến tranh không được đáp ứng. Lòng tin của giai cấp nông dân đối với cách mạng
giảm dần. Giai cầp công nhân mất dần bản chất giai cấp do số công nhân thất nghiệp
tăng, điều kiện sống của họ không được đảm bảo. Nhà nước Xô-Viết vẫn còn non trẻ,
lại vừa phải lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống bọn phản động và đế quốc nên ít
nhiều vẫn còn sai sót trong lãnh đạo. Đặc biệt là sự nóng vội trong việc hoạch định
đường nối đI lên xã hội chủ nghĩa. Vai trò lãnh đạo của Đảng yếu đi do lòng tin của
nhân dân đối với Đảng Cộng sản không còn như trước nữa. Liên minh công nông có
nguy cơ tan vỡ do những mối liên hệ kết nối về kinh tế giữa hai giai cấp bị nhà nước
làm cho mờ nhạt dần. Bên cạnh đó, xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng tình
hình khủng hoảng bất ổn để gây rối loạn kinh tế như bọn đầu cơ tích trữ. Nạn trộm
cắp, lừa đảo xảy ra ở nhiều nơi khiến cuộc sống của người dân không được yên ổn. An
ninh chính trị ngày càng bất ổn định. Tình hình trên đe doạ sự tồn tại của nền chuyên
chính vô sản. Với thưc trạng đất nước như vậy khiến cho người dân không thể không
đặt ra câu hỏi là liệu chế độ chuyên chính vô sản có đưa nước Nga đạt tới sự phát triển
bền vững hay không và có thực sự đem lại dân chủ bình đẳng, tự do hạnh phúc cho đời
sống nhân dân hay không?
Nhà nước Xô Viết đã phải thực sụ đương dầu với những thử thách vô cùng gay
go phức tạp. Việc giải quyết những vấn đề đó không phải là dễ dàng. Giai cấp vô sản

rằng: Phải bắt đầu từ nông dân và nông nghiệp, phải cải thiện đời sống của người lao
động trên cơ sở xây dựng quan hệ kinh tế bình thường giữa nông nghiệp và công
nghiệp, củng cố liên minh công nông trên cơ sở kinh tế nhằm lôi cuốn những người
sản xuất nhỏ vào việc xây dựng đất nước và đi lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có một chính
sách như vậy mới tạo được tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng của Lê-nin đã đóng vai trò quyết định trong việc đưa lý luận mác-xít về thời
kỳ quá độ vào thực tiễn cuộc sống và làm phong phú thêm lý luận đó. Nhờ tư tưởng ấy
mà Đảng đã sửa chữa được những sai lầm trong thời kỳ đó.
Sau chiến tranh, khi những hy vọng trông chờ vào việc cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần không không được đáp ứng thì lòng tin giảm dần và sự bất mãn bắt đầu tăng
lên. Đó là điều kiện để bọn phản cách mạng lừa dối quần chúng, tập hợp lực lượng
hòng tấn công vào chính quyền Xô-viết non trẻ
Những sai lầm chủ quan của người cộng sản cũng là một thực tế phải giải quyết đồng
thời với việc giải quết mâu thuẫn khách quan. Trong những năm tháng cần thiết phải áp dụng “chính sách cộng sản thời chiến “ đã hình thành về quan niệm khả năng quá
độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Những chủ trương chính sách sai lầm bắt nguồn từ
quan niệm nôn nóng muốn chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội, đã làm cho thành
phần kinh tế chủ nghĩa xã hội sa sút. Lực lượng sản xuất hiện có không thể sử dụng và
mất mát, hao mòn. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chỉ là hình thức bề ngoài, xơ
cứng và khô héo dần. Nhiều chủ trương biện pháp quá đáng ra đời từ quan niệm này là
một trong những nguy cơ làm tăng khủng hoảng.
Chính sách kinh tế là cả một cơ chế nhằm phục hồi và phát triển kinh tế nước
Nga đồng thời củng cố vững chắc nền chuyên chính vô sản. Nền kinh tế có phát triển
hay không sẽ qyuết định sự ổn định bền vững của hệ thống chính trị. Chính sách kinh
tế mới được thực hiện với mục đích khắc phục tình trạng kiệt quệ của nền kinh tế nước
Nga và đưa nó vào quỹ đạo phát triển trong thời kỳ quá độ nên chủ nghĩa xã hội cũng
có nghĩa là giúp cho chế độ chính trị được ổn định. Một nền kinh tế mạnh là điều kiện
kiên quyết để đạt được một chế độ chính trị vững vàng. Khi lợi ích kinh tế của các giai

cũng là điều khó tránh khỏi trong bối cảnh một nền kinh tế đang khủng hoảng trầm
trọng.
Tình hình thực tế trên đây buộc nhà nước Xô-Viết phải xem xét lại đường lối
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải chăng những việc làm trước đó của nhà nước là đúng
đắn, phù hợp với những lý luận về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội? Chính sách kinh tế Cộng sản thời chiến được thi hành kéo dài quá mức gây nên
những khủng hoảng là một đIều không thể tránh khỏi. Nó không phải là một giai đoạn
tất yếu trong chính sách kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mặt khác bản
thân nhà nước Xô-Viết cũng nóng vội muốn chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội
không thích ứng với tính chất và trình độ cuẩ lực lượng sản xuất thì tất yếu không thể
tranh khỏi những thiếu sót và thực tế những thiếu sót đó đã tạo ra những lỗ hổng lớn
trong quá trình phát triển kinh tế. Chính vì quan hệ sản xuất không phù hợp với tính
chất trình độ của lực lượng sản xuất nên khủng hoảng mới xảy ra. Quyền sở hữu, quản
lý và tổ chức sản xuất đều thuộc nhà nước trong khi lưc lượng sản xuất chậm phục hồi,
các cơ sở sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật bị chiến tranh tàn phá. Trước chiến tranh
nước Nga có nền đại công nghiệp phát triển mạnh nhưng trải qua chiến tranh, đại công
nghiệp mạnh đó không còn nữa. Phân phối lại mang nặng chủ nghĩa bình quân, những
kích thích về lợi ích kinh tế bị hạn chế tới mức tối thiểu trong toàn bộ nền kinh tế hầu
như chỉ tồn tạI hình thức kinh tế nhà nước. Tính năng động của cá nhân không được
phát huy. Tính xã hội hoá sản xuất lạI bị cản trở bởi nông nghiệp và công nghiệp tách rời nhau. Hinh thức sở hữu nhà nước cùng với việc tổ chức quản lý kém năng động và
phân phối mang chủ nghĩa bình quân không thể phù hợp với lực lượng sản xuất đăng
nằm trong giai đoạn chậm phục hồi do bị chiến tranh tàn phá. Nhìn chung, thì tình
trạng nước Nga bây giờ chứng tỏ một đIều là những chính sách mà nước Nga đang
thực hiện là không hợp thời, không thích ứng với đIều kiện đất nước bây giờ. Chính
sách kinh tế Cộng sản thời chiến đã giúp nước Nga đứng vững trong chiến tranh nhưng
điều đó không có nghĩa là nó sẽ tiếp tục đem lạI cho nước Nga sự phục hồi và phát
triển trong đIều kiện hoà bình. Thực tế đã chứng minh là việc kéo dài thực hiện chính

độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình thường. Và chế độ này là một trong những hình thức
của bước quáđộ từ chủ nghĩa xã hội - với những đặc thù do tình trạng tiểu nông
chiếm ưu thế trong dân chúng tạo nên – sang chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa “cộng sản quân sự ” có đIều này đặc biệt là thực tế chúng ta đã lấy ở
nông dân tất cả những lương thực của họ và có khi cả những lương thực không phải là
thừa mà là một phần cần thiết cho sự sống của họ. Như vậy là để cung cấp cho quân
đội và công nhân chúng ta phảI lấy đI một phàn nguồn sông của nông dân. Nếu không
thế chúng ta đã không thể thắng được bọn địa chủ vá tư bản trong xứ nông nghiệp tiểu
nông suy tàn này và bọn đế đế quốc bên ngoàI. Nhưng cần phải hiểu cho đúng mức độ
của thành tích ấy. Chiến tranh và tình trạng hoang tàn buộc chúng ta phảI thi hành chủ
chủ nghĩa “cộng sản quân sự ”. Nó không phải là một chính sách phù hợp với nhiêm
vụ kinh tế của giai cấp vô sản. Đó là một biện pháp tạm thời. Đối với giai cấp vô sản
đang thực hiện quyền chuyên chính của mình trong một nước tiểu nông thì một chính
sách đúng là phải tổ chức việc trao đổi những sản phẩm công nghiệp cần thiết cho
nông dân để lấy lúa mì. Chỉ có chính sách ấy mới phù hợp nhiệm vụ của giai cấp vô
sản chỉ có chính sách đó mới tăng cường được cơ sở của chủ nghĩa xã hội và dưa chủ
nghĩa xã hội lên chỗ toàn thắng. Vì vậy đặt ra yêu cầu thực hiện “thuế lương thực ” để
giảI quyết tình hình thực tế của đất nước.
Đây là bước đầu tiên quan trọng trong cơ chế kinh tế của chính sách kinh tế mới.
sở dĩ như vậy bời vì trong điều kiện nước Nga bây giờ, đại công nghiệp đã mất đi vị
thế kinh tế trước đây của nó, tiểu nông nghiệp tuy khó phat huy vai trò song không
phải là ngành tạo ra khối lượng sản phẩm lớn đáp ứng nhu cầu cấp bách của đất nước,
thương nghiệp hầu như không tồn tại chỉ có nông nghiệp là nguồn chính chủ yếu “nuôi
sống” quốc gia. Mặc dù vậy ngành nông nghiệp cũng đã bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, vì vậy để khôI phục nền kinh tế cần tiến hành khôI phục sản xuất nông nghiệp đầu tiên. có khôI phục sản xuất lương thực thì mới cảI thiện đời sống nhân dân, trong điều
kiện bây giờ lương thực là nhu cầu cấp thiết đối với nước Nga. Theo như Lênin đã
nói:”Muốn cảI thiện đời sống công nhân thì phảI có bánh mì và nhiên liệu. Đứng về

được; tự sát vì những đảng nào thực hiện chính sách như thế nhất định sẽ bị “phá
sản”. Trong điều kiện hiện nay không thể xoá bỏ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và
càng không thể “chỉ có một thị trường tiêu thụ sản phẩm là nông thôn ”. Làm như vậy
sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Vậy chúng ta phải làm thế nào ?
Cải thiện đời sống của nhân dân là việc đầu tiên cần nhưng nếu chỉ dựa vào nền
nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp, thì không thể cân đối phát triển kinh tế. Thuế
lương thực được thi hành đã tạo đIều kiện cho người nông dân hăng hái tham gia sản
xuất, tạo ra ngày càng nhiều nông sản nhưng không có trao đổi hàng hoá thì chính sách
thuế lương thực sẽ tự đánh mất tác dụng kích thích lợi ích vật chất của nó. Thuế lương
thực có nghĩa là tự do bán số lương thực còn thừa (của nông dân sau khi họ đã nộp
song thuế), thì chúng ta phải cố sức hướng sự phát triển ấy của chủ nghĩa tư bản, vì sự
tự do buôn bán, tự do thương mại chính là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chính
sách kinh tế mới với nội dung mở rộng trao đổi hàng hoá giữa nông nghiệp và công
nghiệp, giữa thành thị và nông thôn đã đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của sản xuất
và tiêu dùng trong công nông nghiệp nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung. Nó
cho phép người nông dân được tự do trao đổi, buôn bán nông sản để lấy sản phẩm
công nghiệp. Nông nghiệp cần máy móc thiết bị để tiến hành sản xuất còn lương thực
cần cho đời sống của công nhân, các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp thực
phẩm cũng cần nguyên liệu để duy trì hoạt động sản xuất. Những nhu cầu đó chỉ có
thể được đáp ứng thông qua trao đổi hàng hoá giữa hai ngành. Nói chung lại, trao đổi
hàng hoá là cầu nối để gắn kết công nghiệp với nông nghiệp nhằm hỗ trợ nhau thú đẩy
quá trình phụ hồi và phát triển lực lượng sản xuất. Sản xuất nông nghiệp mang tính
chất hàng hoá sẽ mang lại lợi ích cho người nông dân nhiều hơn so với sản xuất tự
cung tự cấp. Trao đổi hàng hoá mang lại sự năng động cho công nghiệp và nông
nghiệp, hai ngành hỗ trợ nhau tự cải tiến sản xuất đẻ đáp ứng nhu cầu trao đổi. trước
đây, do yêu cầu phục vụ quân đội trong chiến tranh sản phảm làm ra đều thuộc quyền
quản lý và phân phối của nhà nước trao đổi hàng hoá bị cấm. khi bước sang thời kì
kiến thiết đất nước trong hoà bình công nghiệp và nông nghiệp không chỉ đơn thuần
sản xuất ra sản phẩm mà là sản xuất hàng hoá phải tính đến sản lượng và chất lượng
sản phẩm để việc trao đổi được chấp nhận. Mặt khác yêu cầu của công cuộc khôi phục

3. Tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của nông
nghiệp:
Muốn trao đ ổi hàng hàng hoá đ ược thực hiện thông suốt, bên cạnh việc khuyến
khích nông dân tích cực sản xuất còn phải tính đ ến việc khôi phục công nghiệp. Để có đủ hàng hoá trao đổi với nông dân thì công nghiệp phải phục hồi và phát triển. Do
chiến tranh tàn phá sản xuất công nghiệp đang sa sút thiếu nguyên liệu công nhân thất
nghiệp tràn lan, thiếu lương thực. Kỷ luật lao động lỏng lẻo, năng xuất lao động thấp.
Giai cấp công nhân bị phân tán và đang cò nguy cơ mất dàn bản chất giai cấp - mất đi
ý chí đấu tranh. Việc tổ chức lại nền sản xuất đại công nghiệp là một yêu cầu cấp bách.
Trước chiến tranh nước Nga đ ã từng có một nền đại công nghiệp rất phát triển. Nhưng
trải qua một thời gian dài với biến cố chiến tranh, đại công nghiệp không còn là thế
mạnh của nền kinh tế nước Nga nữa. Lực lượng sản xuất trong công nghiệp đ ang còn
trong tình trạng thấp kém do cơ sở kỹ thuật chưa kịp phục hồi. Vấn đ ề này đ ặt ra là
phảI sắp xếp lại, tổ chức lại cơ cấu ngành công nghiệp, khai thác thế mạnh của từng
ngành để phát huy vai trò của công nghiệp và giai cấp công nhân trong khôI phục kinh
tế đất nước. Do yêu cầu của ngành công nghiệp cần máy móc trang thiết bị kỹ thuật
để sản xuất nên công nghiệp phải phục hồi nhanh chóng để tạo cân đối giữa hai ngành,
kịp thời hỗ trợ nông nghiệp trong sản xuất.
Với việc làm này, nhà nước đ ã thực sự khẳng đ ịnh vai trò quan trọng của mình.
Để khôi phục sản xuất công nghiệp nhà nước đã trợ giúp vốn cho các cơ sở sản xuất,
tạo công ăn việc làm thu hút nhân công, ổn định sản xuất. Đây là việc làm kịp thời đã
khắc phục tình trạng thất nghiệp tràn lan, tình trạng thiếu vốn để cải tiến thiết bị –nâng
cao sản xuất.
Viêc khôi khôi phục sản xuất trên trang thiết bị cũ cũng là việc nên làm trong
điều kiện hiện nay. Trước đ ây khi nước Nga thực hiện chính sách kinh tế thời chiến đã
quốc hữu hoátoàn bộ xí nghiệp vừa và nhỏ. Nhà nước kiển soát việc sản xuất và phân
phối sản phẩm không những với đại công nghiệp mà ngay với cả tiểu công nghiệp. Khi
thực hiện chính sách kinh tế mới nhà nước chỉ sử dụng một phần các xí nghiệp trước

của nó là một tất yếu khách quan. Đó mới là việc làm hợp với quy luật kinh tế. Thời kì
quá đ ộ lên Chủ Nghĩa Xã Hội. là thời kỳ đ ấu tranh giữa hai thế lực, một bên là Chủ
NghĩaTư Bản chưa bị tiêu diệt, một bên là Chủ Nghĩa Xã Hội còn non yếu. Thực tế
cho thấy không thể không thể chỉ tồn taị một thành phần kinh tế nhà nước là duy nhất.
Vì lợi ích của toàn xã hội nhà nước Xô -Viết phảI chấp nhận sự tồn tại của kinh tế tư
nhân. Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một tất yếu khách
quan và nhà nước Nga là áp dụng chính sách kinh tế mới là hoàn toàn đ úng đắn.
Trong thờ kỳ thực hiện chính sách này kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đ ạo và chiếm
ưu thế hơn hẳn so với các thành phần kinh tế khác. Bên cạnh đ ó, hình tư kinh tế tư
bản nhà nước –một sự đ ổi mới trong chính sách kinh tế của nước Nga –“là những mắt xích trung gian. Có thể tạo đIều kiện thuận lợi cho bước nước Nga nhanh chóng phục
hồi sản xuất tăng trưởng kinh tế ”. Nhà nước hợp tác với tư nhân trong sản xuất công
nghiệp :tư nhân là trung gian phân phối sản phẩm cho nhà nước, nhà nước cho tư nhân
thuê xí nghiệp, hầm mỏ, đất đai …Sản xuất trong công nghiệp dần hồi phục.
Chính sách kinh tế mới không chỉ đề cập đến vấn đề đổi mới cơ chế ngàng mà
còn đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô trong công nghiệp tăng cường phân công hợp tác
giưa các ngành rồi qua đó nâng cao trình đ ộ phân công lao đ ộng xã hội. Các thành
phần kinh tế đ ược tự do kinh doanh là điều kiện đ ể phát triển công nghiệp cho phù
hợp với yêu cầu của nông nghiệp, đ ể hai ngành này có thể hỗ trợ cho nhau, góp phần
củng cố liên minh công-nông về mặt kinh tế. Như chúng ta đ ã biết, cũng như vật chất
quyết định ý thức, kinh tế sẽ quyết định đến sự ổn định hay không ổn định của hệ
thống chính trị. Sau nội chiến liên minh công –nông có nguy cơ tan vỡ chính là do
những lợi ích kinh tế của cả hai giai cấp không được đảm bảo. Khi mối quan hệ giữa
công nghiệp và nông nghiệp được giảI quyết thì vấn đề này cũng sẽ được giải quyết.
Chính sách kinh tế mới với nội dung tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp cho phù hợp
với yêu cầu của nông nghiệp vừa giảI quyết được yêu cầu khôI phục công nghiệp vừa
giảI quyết một phần nguy cơ tan vỡ của khối liên minh công-nông. NgoàI ra việc tổ
chức lại sản xuất công nghiệp cũng đ áp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở kinh tế bước đ ầu

vĩ mô. Hoạt động của Uỷ ban kế hoạch nhà nước được triển khai với việc soạn thảo
các kế hoạch trước mắt để khôI phục các ngành công nghiệp. Thực chất nhà nước tăng
cường việc hiện thực quản lý vĩ mô sẽ giúp tăng cường công tác phối hợp giữa các
ngành, các yếu tố của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt hiệu quả kinh tế tối ưu. Nhà nước
sẽ phải tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các xí nghiệp quốc doanh và tư nhân cùng
phát triển sản xuất. Như vậy kinh tế sẽ phục hồi nhanh chóng.
Một nội dung nưã mà chính sách kinh tế đề cập đến là thực hiện dân chủ hoá
trong quản lý kinh tế. Chính sách kinh tế này đã đảm bảo cho sự tham gia của quần
chúng voà hoạt động quản lý. Dân chủ hoá trong quản lý là kết quả của sự thay đổi
quan niệm về những vấn đề cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Không phảI chỉ có duy nhất nhà nước quản lý sản xuất bằng phương
pháp thuần tuý mệnh lệnh mới là đảm bảo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguyên
tắc dân chủ hoá trong quản lý kinh tế yêu cầu sự công khai và dân chủ trong việc lựa
chọn cán bộ lãnh đạo quản lý, các vấn đề về cảI tiến sản xuất và quản lý phải được
giải quyết dựa trên quyết định của đạI diện công đoàn và chính quyền. Nguyên tắc này
đã hướng người lao động quan tâm đến lợi ích vật chất, vì lợi ích vật chất mà quan tâm đến kết quả lao động. Qua đó, quần chúng nhân dân lao động sẽ tăng thêm lòng tin vào
các cán bộ quản lý bởi chính họ là những người kiểm soát hoạt động của cán bộ quản
lý. Chính sách kinh tế mới đặt ra yêu cầu “ tổ chức rộng rãi có kế hoạch, thường xuyên
và công khai việc lựa chọn cán bộ khá nhất cho công cuộc xây dựng kinh tế, những
cán bộ hành chính và cán bộ tổ chức trên quy mô chung và chuyên môn, địa phương
và toàn quốc ”. Như vậy, việc chuyển đổi cơ chế quản lý sang hạch toán kinh doanh
theo nguyên tắc tập trung dân chủ đã góp phần tăng tính năng động, sáng tạo của từng
cá nhân, từng cơ sở sản xuất đồng thời tạo đIều kiện sử dụng được tất cả các nguồn lực
cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế từng bước tiến lên mục tiêu Xã Hội Chủ
Nghĩa.
5. Tổ chức lại quá trình lưu thông, củng cố lưu thông tiền tệ –ngân hàng :
Sau nội chiến, do hiệu lực kéo dàI của chính sách kinh tế cộng sản thời chiến nển

trường và lưu thông tiền tệ ”. Nhà nước sử dụng nhiều hình thức thương nghiệp với
một cơ cấu đảm bảo phát huy vai trò của thương nghiệp nhà nước, loạI dần tư thương
ra khỏi lĩnh vực bán buôn, canh tranh với tư bản thương nghiệp bán lẻ. Nhà nước tăng
cường đầu tư cho lĩnh vực giao thông vận tảI để kịp thời đáp ứng yêu cầu vận chuyển
của nội thương và cả ngoạI thương.
Song song với quá trình tổ chức lạI lưu thông hàng hoá, nhà nước cũng thực hiện
ổn định nền tàI chính quốc gia. Do tác dụng của chế độ hạch toán kinh tế nên nguồn
thu cho ngân sách nhà nước tăng bởi các xí nghiệp tự chủ về tàI chính không đòi hỏi
kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Nhà nước tăng cường kiểm kê, kiểm soát việc
chi tiêu, hạn chế chi phí sản xuất và chi phí quản lý của các xí nghiệp. Nhà nước chủ
trương tổ chức lạI tàI chính quốc gia, đIều tiết giá cả chống lạI lạm phát, chống lạI sự
mất giá của đồng Rúp ; thiết lâp chính sách tàI thống nhất dựa trên quan đIểm tập
trung tàI chính.
Qua đIểm này chính là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Để khắc phục
tình trạng bội chi của ngân sách nhà nước, nhà nước Xô-Viết đã thực hiện cân đối thu
chi giảm biên chế cắt giảm chi tiêu không cần thiết cho bộ máy hành chính, bãI bỏ chế
độ bao cấp. để tăng thu cho ngân sách, nhà nước xây dựng lạI hệ thống thuế nhằn đIều
tiết lạI thu nhập của các tầng lớp dân cư. Hệ thống thuế bao gồm : thuế công thương
nghiệp, thuế thu nhập, thuế tàI sản, thuế nông nghiệp. Bên cạnh đó, nhà nước phát
hành công tráI, khôI phục ngoạI thương để tăng dự trữ vàng. Ngân hàng nhà nước
được thiết lập lạI, tiến hành thay đổi đơn vị tiền tệ, phát hành giấy bạc ngân hàng cho
các tổ chức kinh tế công thương nghiệp quốc doanh vay, dần dần rút đồng Rúp Xô Viết ra khỏi lưu thông chống lạm phát. Ngày 5 -2-1924, nhà nước ban hành đạo luật
phát hành giấy bạc mới (rúp vàng). Ngày 16-2-1924 ra sắc lệnh đình chỉ phát hành
đồng rúp Xô - viết để trang trải ngân sách. Ngày 7- 3- 1924 Nhà nước ra đạo luật rút
đồng rúp Xô - viết ra khỏi lưu thông.
Tiếp theo việc ổn định đồng tiền là củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng. Trong
quá trình từ 1921- 1923, ngân hàng nhà nước đã được củmg cố. Tiếp đó đã mở rộng hệ

41%. Tổng sản lượng công nghiệp năm 1925 so với năm 1913 đạt 75, 5% (đến năm
1926 khôI phục được 100%). Ngành đIện và cơ khí chế tạo vượt mức trước chiến
tranh, xí nghiệp công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm cũng đã vượt mức trước
chiến tranh. Về thương nghiệp và tàI chính tiền tệ : Thương nghiệp phát triển mạnh
mẽ. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá năm1926 đã bằng hai lần năm 1924. Liên Xô đã
mở rộng quan hệ buôn bán với hơn 40 nước. Năm 1925-1926 thu nhập của nhà nước
tăng lên gần 5 lần so với nă m 1922 –1923. Ngân hàng nhà nước được lập lạI năm
1921, tiền hành đổi tiền vào các năm 1922-1923. Giá trị đồng Rúp tăng lên đáng kể.
Về chính trị : Nhà nước Nga đã tiến được một bước dàI trong việc củng cố liên
minh công –nông, ổn định hệ thống chính trị. Tình trạng rối ren trước kia đã được
khắc phục. Giai cấp công nhân đã phát huy được năng lực lãnh đạo của giai cấp mình.
Thành công lớn nhất của thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới là tháng 12-1922
Liên Bang Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Xô - Viết được thành lập và là nhà nước xã
hội chủ nghĩa đàu tiên trên thế giới.
2. ý nghĩa
Chính sách kinh tế mới được thực hiện đã tạo đIều kiện phát triển lực lượng sản xuất ở
nông thôn và thành thị, đáp ứng dược yêu cầu của quy luật kinh tế của nền sản xuất xã
hội chủ nghĩa còn mang tính hàng hoá và có nhiều thành phần. Nó là chiến lược xây
dựng Chủ Nghĩa Xã Hội từ đIểm- xuất phát kinh tế lạc hậu. Mỗi bước đI của chính
sách này là một bước tiến trong sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Trong toàn bộ
các khâu của chính sách kinh tế mới không có khâu nào không phù hợp với quy luật
kinh tế của thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội.
Đây còn là chiến lược liên minh công –nông về mặt kinh tế. Chính sách nà đã
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế của cả hai giai cấp công nhân và
nông dân. Qua chính sách này, Lênin đã nêu rõ để củng cố nền chuyên chính vô sản thì
phảI bắt đầu từ đâu, phải giải quyết những khó khăn về chính trị dựa trên việc giải
quyết những khó khăn về kinh tế. Chính sách kinh tế mới còn có ý nghĩa về mặt lý luận. Nó là một kiểu mẫu cho sự
xây dựng và khôI phục kinh tế. Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đăng
diễn ra mạnh mẽ cũng ảnh hưởng tới công cuộc khôI phục kinh tế. Bên cạnh đó, nước
ta lại được sự giúp đỡ của Liên Xô và Đông Âu- những nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Trước năm 1986, do ảnh hưởng cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, nền kinh tế nước ta
trở nên trì trệ. Đại hội IV và đại hội V của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa với tinh thần là đảy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa,
đưa nền kinh tế của nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ phát triển nông nghiệp và công
nghiêp nhẹ kết hợp kinh tế với quốc phòng, cân đối phát triển giữa kinh tế trung
ương và kinh tế địa phương để tiến tới xây dựng nền kinh tế quốc dân thống nhất. Về
cơ bản, đường lối của đảng là rất đúng dắn song trong quá trình thực hiện, bên cạnh
những thành tựu đạt được còn có nhiều sai sót.
Về nông nghiệp : mô hình kinh tế hợp tác xã hoạt động không hiệu quả, yếu kếm
về tổ chức quản lý, sản xuất bấp bênh, năng xuất thấp. Nông dân có sự phân hoá giàu
nghèo. Tất cả nông dân đều lao động sản xuất trong hợp tác xã và tính công điểm. Do
không có sự có gắng nỗ lực của từng cá nhân nên sản lượng nông nghiệp không cao.
Nhà nước ban hành chỉ thị 100 khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao
động – một hình thức quản lý tiến bộ phù hợp với thực tiễn đất nước ta nhưng lạI bị
hạn chế về trình độ quản lý yếu kém làm cho nó không phát huy được hết tác dụng.
Về công nghiệp : Nhà nước tiến hành quốc hữu hoá các xí ngiệp của tư sản mạI
bản và tư sản bỏ chạy ra nước ngoài. Nhà nước chỉ đặt kế hoạch trước định mức sản
phẩm trước rồi sản xuất tràn lan mà không hề tính đến vấn đề tiêu thụ như thế nào. Sản
xuất hoàn toàn không gắn với thị trường. Trong công nghiệp hầu như chỉ có công
nghiệp quốc doanh nhưng lại hoạt động kếm hiệu quả. Tuy nhiên, trong giai đoạn này
nước ta cũng đã xây dựng được một số ngành công nghiệp nặng quan trọng và nhiều
công trình công nghiệp lớn.
Về thương nghiệp và tàI chính tín dụng : Nhà nước xoá bỏ ngay thương nghiệp
tư bản tư doanh, thị trường xã hội chủ nghĩa đã được củng cố và mở rộng nhưng lưu

quản lý của nhà nước theo định xã hội chủ nghĩa”. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
xây dựng cơ chế mới phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và trình độ lãnh
đạo quản lý của bộ máy nhà nước. Các doanh nghiệp trong nước trước đây phụ thuộc
vào nhà nước cả về tàI chính cũng như đường lối hoạt động sản xuất thì nay đã chuyến
sang chế độ hạch toán kinh doanh, có quyền tự chủ về tàI chính. các doanh nghiệp sẽ
phảI tự tính toá n xem nên sản xuất với sản lượng là bao nhiêu, giá thành sản phẩm

Trích đoạn Trong lĩnh vực chính trị: Phương hướng giải quyết.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status