Tài liệu Luận văn "Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" - Pdf 10


Luận Văn
Đề Tài:Phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
1
Mục lục
A- MỞ BÀI : 3
B NỘI DUNG: 4
I- SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 4
1. quan niêm về kinh tế thị trường: 4
1.1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ? 4
1.2. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa nền kinh tế thị trường TBCN và nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN 5
2. Cơ sở khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở 8
2.1. Cơ sở : 8
2.2. Vai trò, tác dụng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 9
II- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XHCN Ở VIỆT NAM 11
Đặc tính chung thống nhất của kinh tế thị trường 11
2. Tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 13
2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường: 13
2.2. Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo 14
2.3. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nhiều hình
thúc phân phối theo thu nhập, trông đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu 15
2.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước
XHCN 16
2.5. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng là nền kinh tế mở, hội nhập 17
II - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH

I- SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
1. quan niêm về kinh tế thị trường:
1.1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí
của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường là trình
độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Hay còn nói, kinh tế thị trường là
kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, trong đó toàn bộ các yếu
tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Điều kiện ra
đời và tồn tại của kinh tế hàng hoá cũng như các trình độ phát triển của nó
do sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra. Kinh tế hàng hoá phát triển ở
hai trình độ khác nhau:
- Ở giai đoạn thấp, còn gọi là kinh tế hàng hoá giản đơn, dựa trên sở
hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, kết hợp với sức lao động cá nhân,
trình độ lao động thấp, năng suất lao động không cao.
- Giai đoạn cao, kinh tế hàng hoá phát triển với qui mô lớn dựa trên cơ
sở sản xuất lớn bằng máy móc, năng suất lao động cao, bao gồm kinh
tế hàng hoá TBCN và kinh tế hàng hoá XHCN. Kinh tế hàng hoá qui
mô lớn vận động theo yêu cầu các qui luật kinh tế khách quan trên thị
trường người ta gọi là nền kinh tế thị trường.
4
Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường về cơ bản chúng có cùng nguồn
gốc và bản chất nhưng không đồng nhất với nhau. Chúng khác nhau về trình
độ phát triển.
Cơ sở của thị trường là sự phân công lao động xã hội, trình độ và qui
mô thị trường gắn liền với trình độ phát triển của phân công lao động xã hội,
sản xuất và sức mua của xã hội. Theo Mác, “thị trường nghĩa là lĩnh vực trao
đổi”. Lê Nin cho rằng, “khái niệm thị trường hoàn toàn không thể tách rời
khái niệm phân công lao động xã hội … Hễ ở đâu và khi nào có phân công

Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong khi phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần phải củng cố và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế
tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết. Kinh tế nhà
nước phải được củng cố và phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở
lĩnh vực an ninh quốc phòng … mà các thành phần kinh tế khác không có
điều kiện thực hiện.
 Về tính chất giai cấp của nhà nước và mục đích quản lí, trong nền
kinh tế thị truờng TBCN, sự quản lí của nhà nước luôn mang tính chất
tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhẳm bảo
đảm môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp
tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN. Còn trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, thì sự can thiệp của nhà nước XHCN
vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn thể
nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
6
 Về cơ chế vạn hành, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền
kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam. Cơ chế đó đảm bảo tính hướng dẫn điều
khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo
phương châm nhà nước điều tiết vĩ mô.Ngược lại, kinh tế thị trường
TBCN hoạt động dưới sự quản lí của Đảng tư sản cầm quyền.
 Về mối quan hệ tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội.
Vấn đề công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường TBCN chỉ được
đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt các vấn đề xã
hội, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe doạ sự tồn tại của CNTB.
Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước chủ động giải
quyết ngay từ đầu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội. Vấn đề công bằng xã hội không chỉ là phương tiện phát triển
nền kinh tế hàng hoá mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới.

trong điều kiện thị trường cạnh tranh quyết liệt, chúng ta đê cập rõ hơn các
điều kiện hoạt động của thị trường là quyền chiếm hữu tài sản khác nhau và
lợi ích của người sản xuất kinh doanh khác nhau, tạo động lực cạnh tranh
trên thị trường. Cơ sở khách quan được thể hiên ở nhũng điểm sau :
 Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất
hành hoá được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phát triển
trong từng khu vực, từng địa phương. Sự phát triển của phân công lao
8
động được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng về chất lượng ngày
càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường.
 Trong nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu : sỏ hữu toàn
dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp. Do đó, tồn tại
nhiều chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa
họ chỉ có thể thực được hiện bằng quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
 Thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng vẫn có sự khác biệt nhất định,
có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác,
các đơn vị kinh tế còn khác nhau về trình độ kĩ thuật – công nghệ, về
trình độ tổ chứcquản lí, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản phẩm
cũng khác nhau.
 Quan hệ hàng hoá - tiền tệ còn cần thiết trong kinh tế đối ngoại, đặc
biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày
càng sâu sắc. Vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở
hữu đối với các hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới. Sự
trao đổi ở đây phải teo nguyên tắc ngang giá.
2.2. Vai trò, tác dụng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đồng thời, với những điều kiện khách quan vốn có của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa còn mang lại nhưng tác dụng to lớn đối với sự phát triển
kinh tế Việt Nam. Nền kinh tế nước ta từ khi bước vào thời kì quá độ lên

10
triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công
cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng”.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là tất yếu kinh tế đối với nước ta.
Một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta
thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó
là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu
quả tiềm năng của đất nước vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Mô hình kinh tế của Việt
Nam được xác định là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng XHCN. Thực
tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc chuyển sang nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, chúng ta đã khai thác được tiềm năng trong
nước và thu hút được vốn, kĩ thuật, công nghệ nước ngoài, giải phóng được
năng lực sản xuất, góp phần quyết định vào việc đảm bảo tăng trưởng kinh
tế với nhịp độ tương đối cao trong thời gian qua.
II- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM.
Đặc tính chung thống nhất của kinh tế thị trường.
Thị trường có những đặc trưng chủ yếu sau :
Thứ nhất, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, nhưng có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh tế
11
tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện kinh doanh thuận lợi.
Trong đó, tất yếu sẽ có người được và người thua. Tuy nhiên, cần phân biệt
cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, giá cả do thị trường quyết định. Giá cả là phạm trù kinh tế trung
tâm, là công cụ quan trọng thông qua cung cầu để kích thích và điều tiết hoạt

vì, chúng ta còn đang trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự
đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa đầy đủ yếu tố
XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
một mặt vừa có những tính chất chung của nền kinh tế thị trường. Mặt khác,
do dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của
CNXH, cho nên, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
có những đăc trưng bản chất dưới đây :

2.1. Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường:
Trong nhiều đặc tính có thể làm tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị
trường nước ta với nền kinh tế thị trường khác, phải nói đến mục đích chính
trị, mục tiêu kinh tế xã hội mà nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn làm định
hướng chi phối sự vân động phát triển nền kinh tế.
Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải phóng
sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH,
13
nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân.
Nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng,
lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi
đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn
liền với xoá đói giảm nghèo.
2.2. Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo.
Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính
nguyên tắc và là sự khác biệt có tính bản chất giữa kinh tế thị trường định
hướng XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Tính định hướng XHCN của
nền kinh tế thị trường nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước phải giữ vai
trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Bởi lẽ mỗi một chế độ xã
hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng của nó. Kinh tế nhà nước cùng với

thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao
động được xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kì quá độ lên
CNXH.
Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Phát triển kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được mục tiêu cơ bản xây
dựng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Vì vậy mỗi bước tăng trưởng kinh tế ở nước ta phải gắn liền với
cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.
15
2.4. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lí của
nhà nước XHCN.
Cơ chế thị trường có nhiều mặt tích cực nhưng cũng có không ít những
mặt khuyết tật. Trong điều kiện ngày nay, hầu như tất cả các nền kinh tế của
các nước trên thế giới đều có sự quản lí của nhà nước để nhằm hạn chế
những mặt khuyết tật đó. Tức là cơ chế vận hành nền kinh tế của tất cả các
nước đều là cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Nhưng điều khác
biệt trong cơ chế vận hành nền kinh tế của ta là ở chỗ Nhà nước quản lí nền
kinh tế không phải là nhà nước tư sản, mà là nhà nước XHCN. Sự quản lí
của Nhà nước XHCN nhằm đưa nền kinh tế đi theo đúng hướng XHCN, vì
vậy phải tăng cường vai trò quản lí của nhà nước thông qua các công cụ
quản lí vĩ mô.
Nhà nước quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo
nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường. Đây là hai phương tiện khác
nhau để điều tiết nền kinh tế. Kế hoạch là sự điều chỉnh có ý thức của chủ
thể quản lí đối với nền kinh tế, còn cơ chế thị trường là sự tự điều tiết của
bản thân nền kinh tế. Kế hoạch và thị trường cần được kết hợp với nhau
trong cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được thực
hiện ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô. Thị trường là căn cứ để xây dựng và kiểm tra
các kế hoạch phát triển kinh tế. Những mục tiêu và biện pháp mà kế hoạch
nêu ra muốn được thực hiện có hiệu quả phải xuất phát từ yêu cầu của thị

khai.
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kém
phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường. Đây thể hiện thực trạng nền
kinh tế yếu kém của nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường. Điều đó
được biểu hiện :
 Cơ sở vật chất, kĩ thuật còn ở trình độ thấp bên cạnh một số lĩnh vực,
một số cơ sở kinh tế đã được trang bị kĩ thuật và công nghệ hiện đại
thì vẫn còn nhiều ngành kinh tế máy móc cũ kĩ, công nghệ lạc hậu, lao
động thủ công vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội.
Do đó, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất của nước ta còn thấp
so với khu vực và thế giới.
 Kết cấu hạ tầng đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên
lạc… vẫn còn lạc hậu, chưa phát triển dẫn đến sự giao lưu giữa các
vùng , các dịa phương bị chia cắt, tách biệt nhau nên không thể khai
thác hết được tiềm năng, thế mạnh của các vùng, các địa phương.
 Do cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao
động kém phát triển, chuyển dịch cơ cấu chậm. Nông nghiệp vẫn
18
chiếm phần lớn lực lượng lao động, khoảng 70%, nhưng chỉ sản xuất
khoảng 26% GDP, các ngành công nghệ cao chiếm tỉ trọng thấp.
 Kả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu ở thị trường trong
nước cũng như thị trường nước ngoài. Do cơ sở vật chất, kĩ thuật và
công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Do đó, khối lượng hàng
hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá chưa nhiều, chất lượng hàng hoá
chưa cao, giá cả cao, vì thế khả năng cạnh tranh yếu.
1.2. Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành chưa
đồng bộ .
Giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các
vùng trong nước vào một mạng lưới lưu thông thống nhất.

20
Để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cần thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp. Một số giải pháp chủ yếu sau :
2.1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường, cần phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ ( sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể ) bằng cách đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Trên cơ
sở này, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Lấy việc phát triển sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế
xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan trọng để khuyến khích
phát triển các thành phần kinh tế.
Trong những năm tới, cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước, sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tốt chủ trương
cổ phần hoá và đa dạng hoá sơ hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà
nước không cần nắm 100% vốn. Đẩy mạnh việc đổi mới khoa học kĩ thuật
và công nghệ. Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng, trong
đó kinh tế hợp tác làm lòng cốt. Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát
triển cả ở thành thị và nông thôn. Khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát
triển trong những ngành nghề sản xuất mà luật pháp không cấm. Phát triển
kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế
tư nhân trong và ngoài nước.
2.2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đai hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ
khoa học kĩ thuật, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội.
Sự phát triển của phân công lao động xã hội do sự phát triển của lực
lượng sản xuất quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã
hội cần đẩy mạnh cônh nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước để xây dựng cơ
21
sở vật chất kĩ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại. Cùng với việc trang bị kĩ
thuật và công nghệ hiện đại cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tiến hành phân công lao động

chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất.
Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở. Xây dựng, phát triển thị
trường thông tin, thị trường khoa học công nghệ. Hoàn thiện các loại thị
trường đi đôi với khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường sự kiểm tra,
giám sát của nhà nước, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh, có biện
pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Phương pháp tiếp cận để xây dựng đồng bộ các loại thị trường :
Việc xây dựng đồng bộ không có nghĩa là phải cùng một lúc xây dựng đầy
đủ các loại thị trường mà được tiến hành từng bước, có thử nghiệm, rút kinh
nghiệm và làm tiếp. Cần hiểu quá trình phát triển đồng bộ các loại thị trường
là một quá trình liên tục, kiên định và cần có thời gian, không thể nóng vội
cũng không được ngập ngừng, do dự, gây ra chậm trễ va tổn thất mọi mặt.
2.4. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
Mở cửa kinh tế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới để thu hút vốn,
kĩ thuật và công nghệ hiện đại, khai thác tiềm năng và thế mạnh của đất
nước. Nhưng cần quán triệt nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không can
thiệp vào nội bộ của nhau, mở rộng theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá
các hình thức kinh tế đối ngoại, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối
ngoại, giảm nhập siêu, ưu tiên nhập tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất.
23
2.5. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp.
Sự ổn định về chính trị là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh
trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư. Muốn giữ vững sự ổn định chính
trị ở nước ta hiện nay cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân. Đồng thời, sự đồng bộ về hệ thông pháp luật là công cụ để
nhà nước quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo hành lang pháp
lý cho hoạt động kinh tế, buộc các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của
nhà nước.
2.6. Xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế

Bước vào thế kỉ mới, tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế có nhiều
thuận lợi, cơ hội lớn đan xen với những khó khăn thách thức lớn. Thế và lực
nước ta mạnh hơn nhiều so với trước. Chính trị xã xã hội ổn định, quan hệ
sản xuất được đổi mới phù hợp hơn. Thể chế kinh tế thị trường đã bước đầu
hình thành và vận hành có hiệu quả. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách
phù hợp và đang phát huy trong việc phát triển kinh tế và đời sông xã hội.
Tuy nhiên, trình độ phát triển nước ta còn thấp, chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh còn kém, qui mô sản xuất nhỏ bé, mức thu nhập và tiêu dùng dân
cư thấp. Vấn đề đặt ra là phải phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc
đặc biệt là trí tuệ người Việt Nam.
Cũng vì những thuận lợi và khó khăn đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa
ra mục tiêu phấn đấu từ nay đến năm 2020 :
Mục tiêu tổng quát từ 2001 – 2020 : Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status