CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG,
LÝ LUẬN TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
1
Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng, Bác Hồ và nhân dân
ta là duy nhất đúng đắn, vừa đúng với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa đáp ứng
được đòi hỏi của cách mạng Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ năm qua, cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang đạt được những thành tựu rực rỡ. Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “với những thắng lợi giành
được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành
một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan
hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và thế giới.
Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã
hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.”1Tổng kết 30 năm đổi mới, tại Đại hội Đại
biểu toàn quuốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Ba mươi năm qua, với
sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, công cuộc đổi mới ở nước
ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng
hoảng, kinh tế-xã hội có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá
nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện
rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng
cường; chính trị-xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế
nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc
gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với
triển vọng tốt đẹp”2. Với những thành tựu đó, ngày càng chứng tỏ con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn. Song, trên thực tế không ít
những quan điểm của giai cấp tư sản, đã tìm mọi cách phủ nhận con đường đi
xã hội loài người, mà còn làm thay đổi quan hệ giữa người với người
trong quá trình sản xuất, thay đổi các quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, nếu lực lượng sản xuất là cái cấu thành nền tảng vật chất
của toàn bộ lịch sử nhân loại, thì quan hệ sản xuất là cái tạo thành cơ sở
kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực của hoạt động sản xuất tinh thần của
con người, của toàn bộ những quan hệ tư tưởng, tinh thần và những thiết
chế tương ứng trong xã hội.
3
C.Mác đã đưa ra kết luận rằng, xã hội loài người phát triển trải qua
nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là
một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Rằng tiến bộ xã hội là sự vận động
theo hướng tiến lên của các hình thái kinh tế - xã hội, là sự thay thế hình thái
kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn, mà gốc rễ sâu
xa của nó là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Rằng sự vận
động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do tác động của các
quy luật khách quan. Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất bộ "Tư bản"
C.Mác viết: "Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một
quá trình lịch sử tự nhiên"3. Nhắc lại quan niệm đó của C.Mác, Ph. Ăngghen
khẳng định: "Lịch sử từ xưa đến nay đã tiến triển theo kiểu một quá trình tự
nhiên, và về căn bản, cũng bị chi phối bởi quy luật vận động như nhau" 4. Dẫu
luôn giữ quan niệm coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một
quá trình lịch sử tự nhiên, song C.Mác cũng cho rằng "nó có thể rút ngắn và
làm dịu bớt được những cơn đau đẻ" 5. Điều đó có nghĩa rằng quá trình lịch sử
- tự nhiên chẳng những có thể diễn ra tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội này
lên hình thái kinh tế xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ
qua một giai đoạn phát triển nào đó, bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào
đó trong những điều kiện khách quan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
mạng dân chủ tư sản giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, học thuyết Mác Lênin đã phân tích mối quan hệ giữa cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và
cách mạng xã hội chủ nghĩa không có bức tường ngăn cách. Rằng, thắng lợi
của cách mạng dân chủ nhân dân tạo tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa .
Luận điểm trên, là cơ sở quan trọng để Nguyễn Ái Quốc xác định lập
trường quan điểm cách mạng của mình và quyết định lựa chọn con đường giải
phóng dân tộc ở Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản. Bởi vì, Người
nhận thức được rằng: "Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng
được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ
5
nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới" 6; "Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác- con đường cách mạng vô sản" 7. Để
giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, phải tiến hành cách
mạng triệt để, giành chính quyền về tay nhân dân. Người chỉ rõ: "Chúng ta đã
hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh
rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế
dân chúng mới được hạnh phúc"8.
Có thể khẳng định rằng, lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa
Mác-Lênin là cơ sở quan trọng để những người cộng sản Việt Nam, ngay từ
năm 1930 trong Cương lĩnh đầu tiên của mình, đã sớm xác định đường lối
chiến lược tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo hướng tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Chánh cương vắn tắt của Đảng chỉ rõ: “Cách mạng Việt Nam là
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" 9.
Điều này thể hiện sự chủ động, sáng tạo của Đảng ta trong việc vận dụng chủ
nghĩa Mác-Lênin ngay từ khi cách mạng Việt Nam đang trong giai đoạn đầu
của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đề cập đến vấn đề này, Giáo sư Nhật
Bản Shingo Shibata viết: "Nói chung, người ta thường cho rằng chỉ có thể xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện hoà bình, chỉ có thể xây dựng
là cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì một
mặt, chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời
12
sống xã hội để nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại cho chế độ xã
hội mới. Ở đây “công nghiệp hoá thực chất là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ
trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch
cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng
nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp
hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ
với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát
triển theo trình độ tiên tiến của khoa học - công nghệ thế giới"20.
Mặt khác, chúng ta phải chú trọng xây dựng và phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết
của kinh tế Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ
được thực hiện đồng thời, chúng luôn tác động, thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng
phát triển. Bởi lẽ, "nếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản
xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp"21.
Như vậy, từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về kết cấu chỉnh thể
của hình thái kinh tế - xã hội với tư cách là sự thống nhất biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở lý luận để khẳng định rằng: sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện,
sâu sắc và triệt để tác động sâu xa đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, để
xây dựng hình thái kinh tế - xã hội mới ở nước ta. Nhiệm vụ lớn lao mà cuộc
cách mạng đó phải thực hiện là "tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất kỹ thuật, về con người và khoa học - công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
là những công nhân lao động chân tay"24. Với quan niệm đó, các Ông luôn
khẳng định việc tạo ra một đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có đủ trình độ
để quản lý Nhà nước, quản lý sản xuất và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết của sự
phát triển kinh tế - xã hội. Trong "Bộ Tư bản", C. Mác coi việc tạo ra một đội
ngũ đông đảo những người có trình độ học vấn cao, tinh thông khoa học - kỹ
thuật "không phải chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã
hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát
23
24
C.Mác-Ăngghen, toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 46, tr.213
C.Mác-Ăngghen, tuyển tập, Nxb sự thật, Hà Nội, 1980, tập 1, tr.460
15
triển toàn diện"(23), và trong "Phê phán cương lĩnh Gôta", Ông coi đó là "một
trong những biện pháp mạnh nhất để cải biến xã hội hiện nay"25.
Từ tư tưởng đó của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng
nhân tài và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố
quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" 26. Hướng
bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam với tư cách vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của công cuộc cải tạo xã hội, của sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là "không ngừng
gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi
cán nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng đồng, xây dựng nền tảng tinh
thần vững chắc của chế độ mới" 27. Điều đó có nghĩa là, phải không ngừng
nâng cao chất lượng của người lao động. Trong sự phát triển kinh tế - xã hội
hiện đại, chất lượng của người lao động là nhân tố quyết định. Vì vậy, Hội
triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hơn bao giờ hết, chúng
ta cần nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng của công tác lý luận, tư
tưởng, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, ra sức học tập, nâng cao
dũng khí chiến đấu, đi sâu, bám sát thực tiễn để tiến hành tốt công tác tư
tưởng, lý luận. Trong tình hình mới, cần tập trung chủ yếu mấy vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và luôn luôn khẳng định đây là kim chỉ nam cho
cách mạng nước ta.
Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu xụp đổ, chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch ra sức tiến công vào nền tảng tư tưởng của Đảng
ta từ mọi phía. Chúng xuyên tạc, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã ‘‘lỗi thời”,
chủ nghĩa xã hội là “sai lầm” của lịch sử, việc chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá
chủ nghĩa Mác- Lênin vào Đông Dương cũng là “sai lầm”; sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản là nguồn gốc của chuyên quyền, “độc đoán”, mất dân chủ; có
người nói rằng “đừng nói đến chủ nghĩa xã hội mà chỉ nói độc lập dân tộc là
đủ”, rằng “ở nước ta chưa có khả năng đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã
hội còn ở tương lai”. Sự xuyên tạc đó, đã gây ra những hoài nghi, dao động
17
trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nói chung và cán bộ, chiến sĩ
quân đội nói riêng. Thậm trí có kẻ đã phụ hoạ với kẻ thù. Điều này, hết sức
nguy hiểm. Bởi lẽ, một khi trong chúng ta còn hoài nghi dao động về nền
tảng tư tưởng của Đảng, thì sự thống nhất về quan điểm chính trị, niềm tin sẽ
bị ảnh hưởng, khó có sự nhất quán và thực hiện đúng đắn đường lối, nhiện
vụ cách mạng.
Chúng ta không thể chấp nhận những quan điểm đó và luôn luôn tin
tưởng con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân
dân ta đã chọn. Trên con đường ấy, lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh luôn luôn là ánh đuốc soi đường. Kiên định mục tiêu, lý tưởng
nghĩa Mác- Lê nin là từ sự phê phán của các trào lưu phản khoa học khác và
cả từ sự tự phê phán. Sức sống mãnh liệt của nghĩa Mác- Lênin bắt nguồn từ
bản chất cách mạng và khoa học của nó, không bao giờ là một thứ lý luận “màu
xám”, “đứng im” mà luôn vận động phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên
với quan điểm khoa học, cách mạng trong khi khẳng định tính đúng đắn của chủ
nghĩa Mác- Lênin, chúng ta cũng không loại trừ trong kho tàng đồ sộ của chủ
nghĩa Mác- lênin, có thể có những điểm ngày nay đã bị lịch sử bỏ qua.
Chỉ có làm tốt những việc này thì công tác tư tưởng, lý luận mới tạo ra
được sự thống nhất trong nhận thức của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội với nền
tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đó, mới tạo ra được cơ sở khoa học để đóng
góp vào xây dựng đường lối, chính sách của Đảng. Công tác tuyên truyền, giáo
dục mới có cơ sở khoa học trong việc quán triệt đường lối, chính sách, đồng thời
mới có cơ sở khoa học trong đấu tranh đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của kẻ
thù.
Thứ hai, làm rõ cái mới của thời đại, những luận điệu xuyên tạc của các
thế lực thù địch và khẳng định bản chất của chủ nghĩa đế quốc không hề thay
đổi.
19
Trong nhiều thập kỷ qua, loài người đang đứng trước những thay đổi lớn
lao. Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã đưa lại sự phát triển mạnh mẽ
về lực lượng sản xuất. Và sự phát triển về lực lượng sản xuất, đến lượt nó, đã
kéo theo sự bố trí lại cơ cấu kinh tế dịch vụ và thay đổi phương thức đầu tư.
Việc tổ chức lại các liên hiệp khoa học-sản xuất, việc kinh doanh chất xám đã
làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy nền sản xuất
xã hội phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân.
Đến nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã đưa đến toàn cầu hoá
các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là về kinh tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác,
tư sản đã vội vã rêu rao lý thuyết “hội tụ”, “tan biến” và “hoà nhập” các
giai cấp, các chế độ, từ đó chúng khẳng định ngày nay bản chất và tính
chất của thời đại đã thay đổi và rao giảng rằng, ngày nay không còn đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc như trước đây mà chỉ còn đấu tranh cho
hoà bình, cho phát triển.
Có phải như vậy không? Không!
Thời đại ngày nay tuy có nhiều cái mới, nhưng những cái mới đó không
hề làm thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và tính chất của thời đại.
Bản chất của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi. Quy luật tuyệt đối của
chủ nghĩa tư bản mà C.Mác đã phát hiện ra là quy luật sản xuất ra giá trị
thặng dư vẫn là quy luật chi phối toàn bộ cơ chế vận hành của chủ nghĩa tư
bản.
Hoàn cảnh quốc tế biến đổi buộc chủ nghĩa đế quốc muốn tồn tại phải
thích nghi bằng cách “hưởng ứng” hoà bình nhưng lại tìm cách “chiến thắng
không cần chiến tranh”, “đối thoại” và “ký kết” nhưng lại đối thoại trên thế
mạnh và tìm cách “ký kết” những gì có lợi cho chúng, lấy “đối thoại”, “ký
kết” để làm suy yếu đối thủ của mình để thôn tính và nô dịch.
Chiến tranh vẫn là kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực và xu
hướng bạo lực, xu hướng chiến tranh vẫn là xu hướng cơ bản của chủ nghĩa
21
đế quốc. Những gì đã và đang diễn ra trên thế giới chứng minh hùng hồn điều
đó.
Nội dung của thời đại không hề thay đổi. Mặc dù lịch sử đang diễn ra với
những bước quanh co và phức tạp, chủ nghĩa xã hội đã chịu những thất bại
nặng nề nhưng không thể cho rằng quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa trên
thế giới đã kết thúc, chủ nghã xã hội đã “cáo chung”.
Nội dung của thời đại vẫn là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
hội, xét lại và cách mạng sẽ gánh chịu những tổn thất.
Công tác tư tưởng, lý luận phải làm rõ những cái mới của thời đại, chỉ rõ
thuận lợi và thời cơ để có chính sách khai thác, tận dụng nó trong công cuộc
xây dựng đất nước. Đồng thời, làm rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và nội
dung của thời đại không hề thay đổi, chỉ rõ sự thích nghi của chủ nghĩa tư bản
trước những biến đổi của lịch sử, vạch rõ những luận điểm bịp bợm của
những thế lực thù địch thì mới xây dựng được lòng tin vào tính đúng đắn và
tất thắng của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
Thứ ba, làm rõ những vấn đề mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Về xây dựng kinh tế, trước đây trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội, chúng ta đã nóng vội, bất chấp trình độ hiện có của lực lượng sản xuất,
vội vàng thiết lập quan hệ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trên toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Điều đó trái với luận điểm của Mác, quan hệ sản xuất phải phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đến nay, trong công cuộc đổi mới, chúng ta thực hiện nền kinh tế nhiều
thành phần nhằm huy động mọi năng lực sản xuất để phát triển lực lượng sản
xuất, phát triển nền sản xuất của xã hội, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân.
Nền kinh tế nhiều thành phần phải gắn với thị trường, vì cơ chế thị
trường là cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hoá. Trong nền kinh tế nhiều
23
thành phần và cơ chế thị trường thì đấu tranh giai cấp là đấu tranh giữa hai
con đường: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta đã xác định các thành phần
kinh tế đều là những bộ phận hình thành của nền kinh tế quốc dân và đều
được khuyến khích, giúp đỡ phát triển. Đồng thời cũng khẳng định trong nền
kinh tế đó, kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước và kinh
đóng được vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, kinh tế Nhà nước và kinh
tế tập thể không đóng được vai trò nền tảng của nền kinh tế.
Chúng tìm mọi cách thúc đẩy “kinh tế ngầm” phát triển và tạo ra những
trung tâm tài chính lớn để chúng chi phối. Trên cơ sở các thế lực kinh tế này
hình thành các thế lực chính trị mà chúng có thể sử dụng phục vụ cho âm mưu
“diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ.
Quá trình phát triển của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ, cùng với việc ra sức phát triển lực lượng sản xuất, chúng ta phải từng
bước nâng đỡ kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, từng bước nâng dần quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa lên phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản
xuất.
Đây là quy luật khách quan, vì chủ nghĩa xã hội một khi xây dựng xong
về cơ bản thì quan hệ sản xuất xã hội phải chiếm ưu thế. Nhưng đây là một
việc làm không thể nóng vội, chủ quan, duy ý chí mà phải phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
Đảng ta đã khẳng định thời kỳ quá độ là một thời kỳ lâu dài nhưng vẫn
chưa xác định rõ được nó phải trải qua những bước trung gian quá độ nào để
làm cơ sở cho việc xác định mục tiêu, yêu cầu về xây dựng lực lượng sản xuất,
quan hệ sản xuất, phát triển kinh tế, văn hoá trong từng chặng đường để công
cuộc xây dựng được chủ động và tự giác hơn, tránh mò mẫm và vấp váp. Điều
đó đòi hỏi các nhà nghiên cứu lý luận cũng phải quan tâm làm rõ.
25