1
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 1986 - 2006
MỞ ĐẦU
Vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa lâm vào
khủng hoảng "toàn diện và nghiêm trọng", cuối cùng đi đến sụp đổ trên một bộ
phận lớn đã làm thay đổi cơ bản quan hệ chính trị thế giới. Bên cạnh đó cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã và đang tác động đến tất cả các
quốc gia dân tộc với mức độ khác nhau. Chủ nghĩa tư bản sử dụng những thành
tựu của cách mạng khoa học - công nghệ nên thích nghi và tiếp tục phát triển.
Các quốc gia trong cộng đồng thế giới đều điều chỉnh chính sách đối ngoại để
phù hợp với tình hình mới.
Trong bối cảnh quốc tế như vậy, quan hệ quốc tế dường như đã chuyển từ
đối đầu sang đối thoại, thế hai cực bị phá vỡ, từ đó làm nảy sinh xu hướng đa
dạng hoá, đa phương hoá trong tiến trình toàn cầu hoá, phát triển và phụ thuộc
lẫn nhau. Toàn cầu hoá về kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế,
được ưu tiên phát triển và trở thành vấn đề chính trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN là khu vực
phát triển kinh tế năng động với tốc độ cao, chính trị tương đối ổn định, đang trở
thành trung tâm kinh tế. Tiến hành đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ năm
1986, Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi. Là một bộ phận hợp thành đường
lối đổi mới của Đảng, đường lối và chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và
Nhà nước Việt Nam đã cho phép khai thác có hiệu quả các nhân tố quốc tế, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chống chiến lược "diễn biến hoà
bình" của các thế lực thù địch, hòng phá hoại thành quả cách mạng Việt Nam
bảo vệ vững chắc tổ quốc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên.
Những biến đổi to lớn trong nước và thế giới trong những năm (1980 1990) đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt
Nam phải đưa ra những giải pháp ngang tầm với những biến đổi đó. Bằng sự
nhạy cảm chính trị, kinh nghiệm, lãnh đạo cách mạng, Đảng đề ra đường lối đổi
2
V.I.Lênin. Toàn tập.NXB ST, Hà Nội 1969, Tập 3 trang 589
V.I.Lênin Toàn tập, NBX Sự thật, Hà Nội 1963, tập 11 trang 507
3
thủ những điều kiện thuận lợi và sự giúp đỡ của các nước nhằm xây dựng thực
lực của đất nước, giành thắng lợi cho cách mạng và góp phần giải quyết những
vấn đề quốc tế chung.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về quốc tế, về
chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới. Hệ
thống quan điểm đó được thể hiện ở những nội dung. Mục tiêu đối ngoại, tập
hợp và mở rộng lực lượng, các phương châm đối ngoại, phương pháp và nghệ
thuật đấu tranh ngoại giao nhằm giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.
Thứ nhất, mục tiêu đối ngoại: là nhằm đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân
tộc, bao gồm các quyền dân tộc cơ bản như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc
gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Đièu
đó được khẳng định trong tuyên ngôn độc lập của Nhà nước Việt Nam mới:
"Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cái để giữ vững quyền
tự do và độc lập ấy"3. Thông qua Tuyên ngôn độc lập chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam trong quan
hệ chính trị quốc tế. Bởi vì, chỉ những quốc gia độc lập, tự do mới có quyền
quyết định đường lối đối ngoại của dân tộc mình.
Thứ hai, về mở rộng và tập hợp lực lượng. Xác định đối ngoại là một mặt
trận, Hồ Chí Minh chủ trương mở rộng quan hệ với tất cả các nước, tranh thủ
mọi lực lượng và hình thức đấu tranh nhằm đạt hiệu quả cao nhất về đối ngoại.
Người cho rằng, thắng lợi ngoại giao tuỳ thuộc vào sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân, sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự và văn hoá của đất
Quan hệ Việt Nam- Lào - Campuchia được đánh giá cao, được coi là:
"Một quy luật phát triển giữa ba nước, là điều có ý nghĩa sống còn đối với vận
mệnh của ba dân tộc"7
Đối với các nước khác trong cộng đồng XHCN được coi trọng hợp tác và
phát triển, nhất là các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế. Chúng ta ủng hộ
cuộc đấu tranh của nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ La Tinh, hợp tác với các nước
thành viên trong phong trào các nước không liên kết, quan tâm tới phong trào
các nước không liên kết, quan tâm tới phong trào đấu tranh của nhân dân các
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG Hà Nội 1995, tập 5, trang 552
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu trên toàn quốc lần thứ V. Tập I. Nxb Sự Thật, Hà Nội,
1982, trang 143
56)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu trên toàn quốc lần thứ V. Tập I. Nxb Sự Thật, Hà Nội,
1982, trang 114
67
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu trên toàn quốc lần thứ V. Tập I. Nxb Sự Thật, Hà Nội,
1982, trang 146
4
5
7
5
nước tư bản chủ nghĩa với các nước trong ASEAN: "Nhân dân Việt Nam chủ
trương thiết lập những quan hệ láng giềng tốt với các nước ASEAN, luôn luôn
sẵn sàng phối hợp cố gắng để xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa
bình và ổn định"8. Nhưng quan hệ đó đang bị Mỹ và Trung Quốc ngáng trở. Tựu
trung lại lúc này Việt Nam muốn: "Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về
một nhà nước, về kinh tế, văn hóa và khoa học, kỹ thuật với tất cả các nước
sâu sắc các bài học rút ra từ thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc đặc biệt từ
1975 trở lại đây.
Trong chính sách đối ngoại, Đảng chủ trương "kiên trì thực hiện chính
sách đối ngoại hòa bình… ủng hộ chính sách cùng tồn tại… giữa các nước có
11 )
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật 1987, tr 99.
8
chế độ chính trị xã hội khác nhau"12. Đây là quan điểm học thuyết Mác -Lênin
về vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, nó thể hiện ý chí cách
mạng không ngừng phấn đấu cho mục tiêu mới của chủ nghĩa xã hội đồng thời
nó phù hợp với lịch sử của các dân tộc, các quốc gia và nguyện vọng bức thiết
của nhân dân thế giới ngày nay. Chỉ có cùng tồn tại hòa bình, chung sống thực
sự mới tạo ra bầu không khí ổn định hữu nghị và hợp tác, là điều kiện tiên quyết
bảo đảm sự phát triển của mỗi dân tộc và nhân loại.
Nhiệm vụ phương châm chính sách đối ngoại của Đảng là tranh thủ tối đa
những điều kiện quốc tế thuận lợi để thực hiện các mục tiêu tổng quát của cách
mạng nước ta. Trước hết là giải quyết những vấn đề cấp bách: ổn định tình hình
kinh tế - xã hội và tạo ra những tiền đề cần thiết cho những chặng đường tiếp
theo, đồng thời Đảng chỉ rõ phương hướng, giải pháp đối với từng đối tác cụ thể
cho phù hợp với sự thay đổi của nó trong xu thế phát triển chung của thế giới.
* Đối với các nước xã hội chủ nghĩa và Liên Xô:
Việt Nam "tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
thành viên, hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng quan hệ với các nước xã hội
chủ nghĩa khác"13. Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa hợp tác từ hình thức
là viện trợ kinh tế kỹ thuật tiến tới hợp tác toàn diện, trên mọi lĩnh vực kinh tế xã hội an ninh quốc phòng.
Trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, Liên Xô là đối tác quan trọng
trong cộng đồng quốc tế.
* Đối với phong trào không liên kết:
Đảng xác định phong trào không liên kết "có vai trò không thể thiếu được
trên thế giới…" Việt Nam "không ngừng đóng góp vào việc tăng cường đoàn
kết phong trào theo phương châm thống nhất trong đa dạng tích cực phấn đấu
thực hiện các mục tiêu của phong trào… vì lợi ích chính đáng của mỗi thành
viên và của phong trào"14.
* Đối với các nước Tư bản chủ nghĩa (Thuỵ Điển, Phần Lan, Pháp, Nhật,
Ôxtraylia) và các nước phương Tây khác, Đảng, nhà nước ta chủ trương mở
rộng quan hệ trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi.
* Đối với Trung Quốc:
Đảng, Nhà nước ta xác định "Sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ
lúc nào, cấp nào, nơi nào… nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, vì lợi
ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới" (1)
Trần Quang Cơ: “Vai trò không thể thiếu được trên thế giới ngày nay”. Bài phát biểu của thứ trưởng tại Hội
nghị ngoại trưởng các nước không liên kết.
14
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật 1987, trang 107
10
Đảng ta chủ trương chấm dứt tuyên truyền chống Trung Quốc, sửa lại lời
nói đầu Hiến Pháp và Điều lệ Đảng, không coi Trung Quốc là kẻ thù.
Quan hệ Việt - Trung đã được đại hội VI xác định rõ hơn hai kỳ đại hội
trước. Sự thay đổi đó là phù hợp không chỉ đối với nguyện vọng chung của khu
vực, thế giới mà của cả nhân dân Việt - Trung. Nó góp phần nâng cao truyền
phù hợp với thực tại trong nước và xu thế phát triển kinh tế - xã hội thế giới đặc
biệt là góp phần quan trọng giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Trong 2 năm
(1987-1988) Đảng, nhà nước ta công bố thực hiện hai văn bản luật quan trọng là
"Luật Đầu tư nước ngoại tại Việt Nam" và "Pháp lệnh chuyển giao công nghệ
nước ngoài tại Việt Nam". Hai văn bản này đã làm cho nhiều nhà thương mại
quan tâm hợp tác với Việt Nam.
Luật Đầu tư nêu rõ: "Việt Nam hoan nghênh khuyến khích các tổ chức, cá
nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam "chỉ cần" cùng tôn trọng độc lập chủ
quyền bình đẳng, tuân thủ pháp luật Việt Nam và các bên cùng có lợi. Nhà nước
Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đầu tư và các quyền lợi khác của cá nhân hoặc
tổ chức nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi và các thủ tục dễ dàng cho các tổ
chức cá nhân đầu tư vào Việt Nam" 15
Cùng với luật đầu tư, pháp lệnh đầu tư, Đảng Nhà nước tìm ra giải pháp
chính trị hiệu quả đối với vấn đề Campuchia. Suốt 3 năm 1987-1990 việc kiếm
tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia đã lôi cuốn các nước ASEAN,
Đông Dương, 5 nước thường trực Hội đồng bảo an liên hiệp quốc (Nhật, Ấn Độ,
Ôxtraylia, các Châu và Bắc Mỹ)
Nhìn tổng quát 1986 - 1990 với những quyết sách kịp thời chính xác trong
đổi mới do Đảng lãnh đạo đã thực sự tạo ra bước ngoặt cho sự phát triển của
cách mạng Việt Nam. Những thành tựu từ sự kết hợp đổi mới chính sách đối nội
- đối ngoại đã tạo ra những tiền đề cần thiết cả về lý luận và thực tiễn giúp cho
Đảng, Nhà nước có thêm cơ sở nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam ngày càng được xác định rõ hơn. "Chính sách đối ngoại đổi mới đã
tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi hơn cho công cuộc đổi mới xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc đẩy lùi một bước âm mưu bao vây cô lập Việt Nam. Tăng thêm bạn,
nâng cao uy tín Việt Nam trên trường quốc tế" 16 Tạo nên hình ảnh Việt Nam mới
của Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới. Tuy nhiên, công tác đối ngoại còn
có khuyết điểm và những yếu kém: khi tình hình thế giới và quan hệ quốc tế
15
đánh giá những nguyên nhân tạo nên những thành tựu - hạn chế của việc thực
hiện nghị quyết Trung ương (6, 7, 8) Đại hội VII chỉ những vấn đề mới nảy sinh.
Đại hội thông qua cương lĩnh phương hướng cơ bản về thời kỳ qúa độ đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam và chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội (đến
năm 2000) của Việt Nam.
Đảng xác định nhiệm vụ đối ngoại bao trùm là: "giữ vững hoà bình, mở
rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào
13
cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội "17
Như vậy, chính sách đối ngoại của Đảng đã phản ánh tính thống nhất giữa
nhiệm vụ đối nội và nhiệm vụ đối ngoại. Đồng thời phản ánh những bài học
kinh nghiệm của quá trình thực hiện đổi mới theo tinh thần đại hội VI của Đảng
là kiên định, quyết tâm đưa sự nghiệp đổi mới tới thành công.
Đại hội còn nhấn mạnh yêu cầu nhiệm vụ của chính sách đối ngoại là "cần
nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp thay đổi sâu sắc
trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất và xu thế quốc
tế hóa của nền kinh tế thế giới để có chủ trương đối ngoại phù hợp" 18. So với
Đại hội VI đây là bước phát triển mới của Đảng, về nhận thức chính sách đối
ngoại trước những biến chuyển của tình hình thế giới. Đặc biệt trong xác định
nhiệm vụ chính sách đối ngoại là:"Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" mà Đại
hội VII đã đề ra. Thực chất đây là chiến lược chính sách đối ngoại của Đảng,
một dấu ấn quan trọng khẳng định chấm dứt khủng hoảng đường lối phát triển
của Việt Nam.
Trên cơ sở hợp tác bình đẳng cùng có lợi và không phân biệt chế độ chính
trị xã hội, cùng tồn tại hòa bình Đảng, Nhà nước tích cực mở rộng quan hệ hợp
các bên có liên quan trong khu vực Đông Nam Á - Châu Á Thái Bình Dương.
Đối với ASEAN: nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn nữa cho sự tham gia
của Việt Nam vào quá trình hợp tác khu vực, nhất là vào ASEAN, tháng 2-1993,
Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tham gia ASEAN vào thời điểm thích hợp và trong
chuyến tham chính thức Inđônêxia, Chủ tịch Lê Đức Anh tuyên bố: “Việt Nam
đang xúc tiến những công việc chuẩn bị thiết thực để sớm trở thành thành viên
đầy đủ của ASEAN”.
Xu thế quốc tế hóa trong các khu vực diễn ra nhanh theo xu hướng tự
cường quốc gia - khu vực tạo ra những tiền đề mới để chúng ta mở rộng quan hệ
với các nước trước đây chưa có điều kiện vươn tới. Việt Nam phấn đấu trở thành
bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới vì hòa bình, độc lập và phát
triển. Đây là bước phát triển quan trọng của chính sách đối ngoại của Đảng, nó
đã thu hút sự chú ý quan tâm và hợp tác của các nhà đầutư đối với chính sách
đổi mới ở nước ta, tạo ra bước phát triển mới của chính sách đối ngoại trong
những năm tiếp theo.
Sự phát triển, hoàn chỉnh đường lối đối ngoại được thể hiện trên luật pháp
của Nhà nước. Tháng 4/1992 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới của Việt
Nam. Sự ra đời của Hiến pháp mới khẳng định Đảng - Nhà nước ta nhận thức rõ
vị trí, tầm quan trọng của chính sách đối ngoại.
Điều 14 Hiến pháp khẳng định: “Việt Nam thực hiện hòa bình, hữu nghị
hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã hội
20
15
khác nhau… tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thỗ của nhau, không
can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi”.
Chủ trương này đã làm cho chính sách đối ngoại của Đảng, nhà nước phát
triển cả về nội dung - phương hướng chỉ đạo hoạt động đối ngoại, có tính chất
Hội nghị đã chủ trương "Đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học - kỹ thuật, cả về Đảng - Nhà nước
và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ"22
Hội nghị đề ra bốn phương châm xử lý các mối quan hệ đối ngoại trên các
lĩnh vực và đối với các đối tượng là:
Một là, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Hai là, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa
phương hoá các quan hệ đối ngoại.
Ba là, nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
Bốn là, tham gia hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các
nước.
Nổi bật trong quan hệ quốc tế là tồn đọng quan hệ Việt - Mỹ và Việt Trung. Đối với Mỹ, Đảng và Nhà nước đã kết hợp chặt chẽ giữa chính sách đối
ngoại chính thức của Đảng - Nhà nước với chính sách đối ngoại nhân dân cộng
với Hiến pháp và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, với phương châm kiên
trì, vừa hợp tác vừa đấu tranh đã lôi cuốn nhân dân tiến bộ Mỹ - các thương
nhân kinh doanh Mỹ - các nước ASEAN… gây áp lực buộc Mỹ huỷ bỏ cấm vận
kinh tế với Việt Nam (3/2/1994) và bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ
(11/7/1995). Đi đôi hợp tác với Mỹ trên các lĩnh vực vì lợi ích chính đáng của
nhân dân hai nước, quan hệ Việt - Mỹ phát triển tốt sẽ tạo điều kiện cho ta mở
rộng quan hệ với các nước khác và các tổ chức quốc tế lớn khác.
Đối với Trung Quốc phương châm, chính sách đối ngoại của Việt Nam là
vừa đoàn kết hữu nghị vừa đấu tranh… nhưng đúng mức phấn đấu tạo dựng cục
diện cùng tồn tại hòa bình lâu dài.
Để có môi trường quốc tế thuận lợi cho đất nước ta tiến nhanh "mở rộng
các hình thức giao lưu hợp tác: kinh tế - chính trị - văn hóa - khoa học kỹ thuật du lịch giữa hai nước, nhưng phải làm rõ cho tất cả cán bộ nhân dân ta thấy rõ
bản chất - tham vọng của Trung Quốc. Đồng thời kiên quyết đấu tranh với
22
Đảng cộng sản Việt Nam:Văn kiện Hội nghị lần thứ III, BCHTW khóa VII, Nxb CTQG Hà Nội 1994, trang 6.
chống chủ nghĩa nước lớn và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Kiên quyết làm thất bại
âm mưu và hành động gây sức ép hoặc áp đặt, đe doạ đến lợi ích của dân tộc.
* Nhiệm vụ chung của công tác đối ngoại
Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định
nhiệm vụ đối ngoại là: "Thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị mở rộng giao
lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị
và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, tăng cường tình đoàn kết hữu
nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng,
21
tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì
hoà bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội"23.
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa
phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối
tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển. Nhiệm vụ chung của công tác đối ngoại hiện nay là:
"Tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế
thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đảm bảo độc lập chủ quyền quốc gia, đồng thời góp
phần tích cực vào cuộc đấu tránh chung của nhân dân thế giới, vì hoà bình, độc
lập dân tộc dân củ và tiến bộ xã hội”24
- Tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế
thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Đảm bảo độc lập và chủ quyền quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và chủ quyền
quốc gia của chúng ta diễn ra trên tất cả các lĩnh vực. Trước hết là bảo vệ sự
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ độc lập tự chủ về đường lối và chính
* Nhiệm vụ cụ thể của chính sách đối ngoại:
+ Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội
chủ nghĩa và các nước láng giềng.
+ Tiếp tục mở rộng quan hệ với với các nước bạn bè truyền thống, các
nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển. Chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta là tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu
và Liên Xô trước đây và một số nước khác với có quá trình lịch sử hợp tác nước
ta. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát
triển ở Châu Á, Châu Phi., Trung Đông và Mỹ La Tinh, các nước trong phong
trào không liên kết.
+ Thúc đẩy quan hệ đa dạng hóa với các nước phát triển và các tổ chức
quốc tế. Đẩy mạnh hoạt động ở các diễn đàn đa phương.
+ Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. Thế giới hiện nay
đang đứng trước những vấn đề tòan cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có
thể tự giải quyết được như chiến tranh và hòa bình, bảo vệ môi trường, hạn chế
bùng nổ dân số, phòng chống ma túy và tội phạm quốc tế, đẩy lùi những bệnh
hiểm nghèo… Nhận thức đúng và tham gia tích cực giải quyết các vấn đề độc
lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia của nước ta.
23
+ Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các Đảng cộng
sản và công nhân, với các Đảng Cộng sản và công nhân với các đảng cánh tả và
các phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, với các phong trào cách mạng và
tiến bộ trên thế giới.
+ Tiếp tục rở rộng quan hệ với các Đảng cầm quyền các Đảng cầm quyền
hiện nay đều có tiếng nói và có thể mạnh nhất định về chính trị, kinh tế và kinh
nghiệm quản lý đất nước. Việc thiết lập quan hệ với các Đảng cầm quyền và thể
hiện chính sách đối ngoại rộng mở của chúng ta.
+ Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân.
trang, áp đặt và can thiệp, bảo vệ hoà bình, độc lập, chủ quyền,toàn vẹn lãnh thổ
của các nước.
- Quan hệ đối ngoại của Đảng được mở rộng, hoạt động đối ngoại nhân dân
sống động hơn. Tiếp tục củng cố và tăng cường quan hề đoàn kết và hợp tác với
các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cầm quyền, các chính đảng, các
phong trào giải phóng và độc lập dân tộc, các phong trào cách mạng và tiến bộ
trên thế giới; duy trì và mở rông quan hệ với các đảng cầm quyền ở một số
nước.
- Xử lý kịp thời và có hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ
với các nước, đấu tranh kiên quyết và khôn khéo với những âm mưu và hành
động của các thế lực bên ngoài xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh của
đất nước.
* Một số hạn chế:
- Công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo tình hình còn yếu; chưa tạo được
sự thống nhất cao trong nhận thức, nhất là chủ trương trong quan hệ với một số
nước lớn; trong một số trường hợp còn bị động đối phó với tình hình; sự phối
hợp giữa hai mặt “hợp tác” và “đấu tranh” chưa thật nhuần nhuyễn; việc xử lý
mối quan hệ giữa yêu cầu giữ vững ổn định trong nước và mở rộng quan hệ đối
ngoại còn có lúc lúng túng.
- Quan hệ hợp tác vối các nước chưa sâu và chưa vững chắc, quan hệ kinh
tế và chính trị nhiều khi chưa gắn kết với nhau; trong một số trường hợp cụ thể
còn có sơ hở. Việc xây dựng cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại
còn chậm.
25
Chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, là nhân tố quan
trọng góp phần giữ gìn hoà bình, cải thiện và nâng cao vị thế của nước ta trên
thế giới, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.