VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHI HÙNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC
CỦA CÁN BỘ VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
TÓM TẮT LUẬN V N TH C S T IẾT HỌC
Hà Nội - 2017
Công trình được hoàn thành tại Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đình Hòa
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Ngọc Anh – Học viên
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Phản biện 2: TS. Trần Thanh Giang – Học viên và
báo chí Tuyên truyền
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 14 giờ 30 ngày 07 tháng 4 năm
2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện khoa học xã hội
tế nhằm thực hiện “âm mưu diễn biến hòa bình”; “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp cả trong Đảng, trong hệ
thống chính trị và cả trong xã hội;… đã tác động không nhỏ đến
niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Trước thực tế đó, việc
“xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ
chức và đạo đức”, trong đó có sửa đổi lối làm việc của cán bộ theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một việc làm rất quan
trọng và rất cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước
mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng
của toàn Đảng và nhân dân ta; để đảm bảo Đảng ta là – Đảng lãnh
đạo, cầm quyền – thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao được
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh cầm quyền của Đảng.
Thành phố Hồ Chí Minh “là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn
về kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối
giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và
sức lan toả lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính
trị quan trọng của cả nước”, các ngành, các cấp và nhân dân Thành
phố, mà đi đầu là lực lượng cán bộ của Thành phố phải phát huy
truyền thống cách mạng vẻ vang, đã nỗ lực, phấn đấu bền bỉ, năng
động sáng tạo, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn thách
thức, giành những thắng lợi to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực:
chính trị, kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, xây dựng Ðảng, an
ninh quốc phòng, duy trì tốc độ phát triển hợp lý. Muốn vậy, trước
hết cán bộ Thành phố cần phải sửa đổi lối làm việc để có thể nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Thành phố, thật sự trở
thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sự phát triển
nhanh và bền vững của Thành phố, xứng đáng là trung tâm lớn về
kinh tế, văn hoá, giáo dục và đào tạo của đất nước. Trước yêu cầu
3
Thứ hai, các công trình nghiên cứu sự vận dung tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức, tác phong của cán bộ ở phạm vi một đối
tượng, một địa phương, một ngành, tiêu biểu có các công trình: “Vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của ThS.Phạm Tấn Xuân Tước,
PGS, TS. Huỳnh Thị Gấm, Nxb. Lý luận chính trị, 2008;“Văn hóa
Hồ Chí Minh” của các tác giả Nguyễn Hữu Đảng, Lê Ngọc Y, Trần
Thị Hồng Thúy, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014;“Tư tưởng
Hồ Chí Minh về Công an nhân dân - Giá trị lý luận và thực tiễn” của
Thượng tướng, PGS, TS. Tô Lâm, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2015;“Hồ Chí Minh - sáng tạo, đổi mới” của PGS.TS. Bùi Đình
Phong, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2015;“Luận cứ khoa
học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường
trong giai đoạn hiện nay” do TS. Nguyễn Duy Hùng (chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007;“Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc
thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại
hoá - Luận cứ và giải pháp”, do TS. Lê Phương Thảo (chủ biên),
Nxb. Lý luận chính trị. Hà Nội, 2005; “Một số vấn đề về xây dựng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc Tây
Nguyên”, do GS,TS. Lê Hữu Nghĩa (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc
gia. Hà Nội, 2001;“Phong cách Bác Hồ đến cơ sở” của Hồng
Khanh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nhìn chung, tất cả các ấn phẩm, các công trình, bài viết nêu
trên đã đề cập sâu sắc đến các góc độ khác nhau của tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức, tác phong làm việc của cán bộ. Vì vậy, Kế thừa
4
năm 2000 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử. Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như:
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành kết hợp với phương pháp
nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh
và đối chiếu, diễn dịch và quy nạp, lôgích và lịch sử, thống kê, khảo
sát, hệ thống hóa, khái quá hóa để nghiên cứu đề tài luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn đã hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ, đồng thời phân tích làm rõ
những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của
cán bộ.
Về thực tiễn, luận văn góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn
của học viên về vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm
việc của cán bộ ở Việt Nam nói chung, cán bộ ở thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
cho công tác giảng dạy, học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở lý
luận để cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh tham khảo nhằm thực hiện
tốt cuộc vận động: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Bộ Chính trị phát động.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết.
6
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của
thành một đảng Mác - Lênin chân chính, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc đến thắng lợi vẻ vang. Ngay sau khi cách
mạng thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, trước
những nhiệm vụ lớn của cách mạng và của đất nước, Người đã viết
tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Về mục đích, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm nâng cao
trình độ lý luận, nâng cao tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao
phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ cách mạng,
nâng cao năng lực lãnh đạo nhằm đáp ứng các yêu cầu mới của cách
mạng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
phê phán “chủ nghĩa cá nhân” vì đó là một thứ “vi trùng rất độc” nó
sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh tham lam, lười
biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa
phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè, kéo cánh, bệnh
cận thị không biết nhìn xa, trông rộng... Đồng thời, Hồ Chí Minh
vạch ra nguyên nhân và phương hướng khắc phục. Tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc” không chỉ nhằm phê phán mà chủ yếu là cách
mạng. Bởi vì, cách mạng mới là động lực của lịch sử. Đảng là lực
lượng tiên phong, ưu tú nhất của xã hội, là đầu tàu của lịch sử.
Nghiên cứu tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, chúng tôi nhận
thấy, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của cán
bộ thể hiện nổi bật nhất có thể khái quát ở các nội dung chính sau:
1.2.1. Tích cực học tập nâng cao trình độ
Tích cực học tập nâng cao trình độ lý luận, văn hóa, tri thức
khoa học,… của cán bộ đảng viên được Hồ Chí Minh đặt lên hàng
đầu trong việc sửa đối lối làm việc của cán bộ và xây dựng đội ngũ
cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh nhấn mạnh trước hết
đến sự cần thiết phải học tập và kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin. Bởi
9
10
khi nó đạt tới cái thiện và cái đẹp. Còn Phê bình cốt là để phát huy
ưu điểm, sửa chữa khuyến điểm, để tư tưởng và hành động được
đúng hơn, và tốt hơn, để làm việc có hiệu quả hơn.
Đi đôi với sửa chữa khuyết điểm (phê bình), theo Hồ Chí
Minh, cán bộ cần phải khắc phục bệnh quan liêu, bệnh chủ quan,
loại bỏ thói ba hoa. Quan liêu, chủ quan là không đi sát với công
việc thực tế, xa lánh, xem thường quần chúng, tất cả những công việc
thường ngày được đánh giá, nhận xét trên sổ sách, giấy tờ, thiếu sự
kiểm tra thực tế dẫn đến kết quả là những người xấu, kém năng lực,
phẩm chất có cơ hội tham ô, lãng phí.
1.2.3. Thực hành dân chủ, liên hệ mật thiết với quần chúng
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tập trung dân chủ trong tổ chức và
sinh hoạt Đảng là sự thống nhất biện chứng giữa dân chủ và tập
trung. Tập trung dân chủ là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Do
đó, độc đoán, chuyên quyền là hoàn toàn xa lạ với nguyên tắc này.
Tập thể lãnh đạo bảo đảm việc thực thi dân chủ nhưng tập thể lãnh
đạo không phải là dựa dẫm vào nhau, mà là sử dụng trí tuệ tập thể.
Ngoài ra, cán bộ lãnh đạo liên hệ giữa Đảng với quần chúng
nhân dân là điều kiện quan trọng để nâng cao đạo đức cách mạng của
Đảng. Để làm tốt điều này, chúng ta phải thực hiện nghiêm túc
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Song để thực hiện nguyên
tắc này, hiện nay chúng ta gặp không ít những thử thách, đó là sự tác
động mạnh mẽ của tiến trình hội nhập, giao lưu quốc tế; sự tác động
tiêu cực của nền kinh tế thị trường; sự chống phá của kẻ thù … Nếu
không vượt qua những thách thức trên thì dẫn đến tình trạng phường
hội, bè phái, vô chính phủ trong các tổ chức Đảng và sẽ cắt đứt mối
quan hệ bản chất giữa Đảng với nhân dân.
có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, không
12
nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả
toàn bộ công việc của cán bộ”; phải nhìn nhận người cán bộ với con
mắt động, phát triển, không nên định kiến, “quyết không nên chấp
nhặt”, nên nhớ rằng “một người cán bộ khi trước có sai lầm, không
phải vì sai lầm mãi”.
Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và
tài năng của mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung. Nếu
dùng cán bộ mà để họ “hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc
công tác không phù hợp, chắc không thành công được. Vì vậy, muốn
cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú
làm việc.
Ngoài ra, đổi mới phong cách lãnh đạo là mạnh dạn cất nhắc
cán bộ. “Cất nhắc cán bộ là xuất phát từ yêu cầu của công việc. “Vì
việc chọn người”, “công việc tìm người” chứ không thể “vì người mà
tìm việc”, vì lòng yêu ghét thân thích, vì nể nang, cánh vế, dòng tộc,
đồng hương…
1.3. Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi lối làm việc
Sửa đổi lối làm việc của cán bộ là tư tưởng quan trọng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng và xây dựng đội
ngũ cách mạng. Đây là một tư tưởng có tính lý luận, tính chiến đấu
và tính thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng Sửa đổi lối làm việc của cán
bộ đã bao quát những vấn đề rộng lớn trong toàn bộ các mối quan hệ
và các nguyên tắc, phương pháp, lề lối, cách thức làm việc của Đảng,
Nhà nước và của cán bộ, đảng viên mà trung tâm là mối quan hệ giữa
người với người. Đảng viên, cán bộ là những chiếc cầu nối giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân. Mọi việc thành công hay thất bại đều
mạng nước ta hiện nay, đặc biệt với quá trình đổi mới và chỉnh đốn
Đảng, đổi mới đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong thời kỳ
mới; thật sự là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại trong xây dựng Đảng và
xây dựng cán bộ của nhân dân, do dân dân và vì dân nhân.
14
Chương 2
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỬA ĐỔI
LỐI LÀM VIỆC CỦA CÁN BỘ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH: THỰC T
NG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
2.1. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sửa đổi
lối làm việc của cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh và nguyên
nhân của nó
2.1.1. Thành tựu trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về sửa đổi lối làm việc của cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay và nguyên nhân của nó
Những thành tựu trong việc sửa đổi lối làm việc của cán bộ
theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở thành phố Hồ Chí Minh có thể khái
quát qua một số khía cạnh nổi bật nhất đó là:
Về nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận
Một trong những thành tựu nổi bật về nâng cao trình độ
chuyên môn của cán bộ, đáp ứng các yêu cầu mới của cách mạng,
làm tròn sứ mệnh là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân ở
thành phố Hồ Chí Minh đó là việc ứng dụng, phát triển công nghệ
thông tin trong giải quyết công việc, nâng cao hiệu quả hoạt động
của các cấp chính quyền Thành phố, tiến tới xây dựng thành công
cấp chính quyền của Thành phố. Bên cạnh đó, Thành ủy Thành phố
Hồ Chí Minh đã quyết tâm, kiên trì lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các
nhóm giải pháp theo ba vấn đề cấp bách của Nghị quyết Trung ương
4 khóa XI.
Về nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, vận dụng sáng tạo
kinh nghiệm, vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, thường xuyên đấu tranh phê bình và tự phê bình
Trong những năm qua, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn,
vận dụng sáng tạo kinh nghiệm, vận dụng nguyên tắc thống nhất
16
giữa lý luận và thực tiễn, thường xuyên đấu tranh phê bình và tự phê
bình của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh từng bước được chú trọng,
đổi mới, nhất là đối với hệ thống chính trị, tăng cường mối liên hệ
mật thiết với nhân dân. Các cấp ủy đã thực hiện sự lãnh đạo, tổ chức
thực tiễn đối với những vấn đề trọng yếu; phát huy trách nhiệm, tính
năng động, tính sách tạo, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm, vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chính quyền, mặt
trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững nguyên tắc tập trung
dân chủ, đề cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu, chú trọng
mở rộng, phát huy dân chủ, thường xuyên đấu tranh phê bình và tự
phê bình trong Đảng; đồng thời thực hiện nhiều biện pháp phát huy
dân chủ trong các tầng lớp nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên có
nhiều nỗ lực đề cao ý thức và hành động gương mẫu trong công tác
và cuộc sống, xem xét đó là yếu tố quyết định nhằm xây dựng, bảo
đảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền Thành phố;
đẩy mạnh thực hiện công tác vận động nhân dân với tinh thần trọng
dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với nhân dân. Bởi
cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, dựa vào dân để xây dựng
Đảng và chính quyền các cấp.
Thứ hai, Thành ủy đã lãnh đạo chặt chẽ quá trình củng cố hệ
thống chính quyền các cấp, nhất là hệ thống chính trị cấp cơ sở.
Thứ ba, sự quan tâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân Thành
phố về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đông đảo cán bộ,
đảng viên và nhân dân Thành phố mạnh dạn đấu tranh chống lại
những biểu hiện tiêu cực, những cán bộ thoái hóa, biến chất, những
cán bộ xa rời phẩm chất đạo đức cách mạng, không xứng đáng với
18
niềm tin và sự tín nhiệm của nhân dân, mạnh dạn loại bỏ những cán
bộ suy thoái, biến chất ra khỏi tổ chức.
2.1.2. Một số hạn chế trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ ở thành phố Hồ Chí Minh
và nguyên nhân của nó
Hạn chế trong nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận
Trong những năm qua, xét về năng lực chuyên môn: có tri
thức, hiểu biết, luôn sâu sát và nắm bắt kịp thời những vấn đề phát
sinh trong thực tiễn,… của một bộ phận cán bộ ở thành phố Hồ Chí
Minh, nhất là cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế, trong khi đó, với tính
chất công việc, người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở cũng phải
cần có hiểu biết đầy đủ và kịp thời những vấn đề của cuộc sống sẽ
giúp người cán bộ lãnh đạo chủ chốt có tầm “nhìn xa, trông rộng”
trong việc giải quyết các công việc, tạo sự nể phục của cấp dưới.
Trong hệ thống tri thức cần có thì tri thức lý luận đóng vai trò nền
tảng, mà trước hết là lý luận về chính trị - xã hội, quan điểm, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Nắm vững tri
thức lý luận chính là kim chỉ nam của hoạt động lãnh đạo. Tuỳ theo
chức danh cụ thể mà yêu cầu về trình độ lý luận chính trị của đội ngũ
số cấp ủy Đảng của Thành phố còn buông lỏng việc quán triệt, tổ
chức thực hiện đường lối, chủ trương, các quy định của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ở một số nơi trong bộ máy
chính quyền Thành phố, vấn đề đổi mới phong cách lãnh đạo còn
làm chưa đến nơi đến chốn hoặc làm đại khái, qua loa.
Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hành dân
chủ ở một số nơi trong bộ máy chính quyền Thành phố không
nghiêm. Tình trạng dân chủ ở một số nơi trong bộ máy chính
quyền Thành phố không đi đôi với tập trung; chưa liên hệ mất
20
thiết với quần chúng nhân dân, còn hiện tượng cán bộ xa dân, xem
thường dân.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên trong bộ máy chính quyền
Thành phố chưa thực sự nâng cao trách nhiệm của mình, từ đó dẫn
đến hiện tượng lợi ích nhóm, chủ nghĩa cá nhân vụ lợi.
Nguyên nhân của hạn chế
Về nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, “do một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ
quan, đơn vị và cá nhân người đứng đầu nhận thức chưa đầy đủ, sâu
sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng; quá
trình chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm tự phê bình, phê bình tập thể
và cá nhân, một số nơi vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va
chạm.”. Thêm vào đó, tư duy, năng lực lãnh đạo, sự gương mẫu của
một số cán bộ, đảng viên chưa thể hiện rõ nét, chưa theo kịp yêu cầu
đối với sự phát triển của Thành phố và đất nước.
Thứ hai, Thành phố đang trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có
lúc có nơi có hiện tượng cán bộ, đảng viên được giao trách nhiệm ở
không có lập trường chính trị vững vàng, không mạnh dạn đấu tranh
với các biểu hiện tự thỏa mãn bản thân.
2.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy tư tưởng Hồ
Chí Minh về sửa đổi lối làm việc của cán bộ ở thành phố Hồ
Chí Minh
2.2.1. Mỗi cán bộ, đảng viên của Thành phố cần phải
thường xuyên phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong hệ thống chính trị của
Thành phố; trình độ lý luận để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng
trong thời đại mới
22
2.2.2. Mỗi cán bộ, đảng viên của Thành phố phải luôn giữ
vững phẩm chất đạo đức cách mạng, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo
cần phải “làm gương” về đạo đức cách mạng; phải luôn giữ vững
lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa yêu nước
2.2.3. Sửa đổi lối làm việc của cán bộ ở Thành phố phải đảm
bảo nguyên tắc tổ chức thực tiễn: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, Nhân dân làm chủ; thống nhất giữa lý luận và thực tiễn;
thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình
Tiểu kết chương 2
Trong những năm qua, các cấp chính quyền của Thành phố Hồ
Chí Minh đã làm tốt công tác nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ
lý luận; nâng cao đạo đức cách mạng: loại bỏ bệnh hẹp hòi, bệnh ba
hoa, tự cao tự đại, bệnh chủ quan, tham danh vọng, địa vị, bệnh nể
nang;… của cán bộ trong hệ thống chính trị của Thành phố, đáp ứng
các yêu cầu mới của cách mạng, làm tròn sứ mệnh là người đầy tớ
thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán