Tiểu luận: “Thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vấn đề dân sự và thực tiễn thực hiện” - Pdf 42

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Đương sự là một chủ thể không thể thiếu trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc
dân sự. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự có quyền tham gia vào
các hoạt động tố tụng như: chuẩn bị xét xử, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm,…
Do đó,việc đương sự tham gia tố tụng vừa là quyền nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ.
Trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì sẽ được tiến hành giải quyết ra
sao và như thế nào? Để hiểu rõ thêm về vấn đề này, em xin chọn đề số 15: “Thủ tục tố
tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đương sự vắng mặt ở tòa án cấp sơ thẩm,
phúc thẩm khi giải quyết vấn đề dân sự và thực tiễn thực hiện” làm đề tài cuối kỳ
này.

NỘI DUNG
I.

ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ

Theo Điều 68 Luật Tố tụng dân sự năm 2015 ( viết tắt là BLTTDS năm 2015) thì
đương sự trong vụ việc dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan.
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là các chủ thể sau:
- Người khởi kiện, người tự mình thực hiện việc khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho bản thân mình.
- Người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đó khi họ cho rằng quyền
và lợi ích hợp pháp của người này bị xâm phạm.
1


- Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi

tố tụng vì không đảm bảo quyền tham gia tố tụng của đương sự.
• Trường hợp đương sự được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt:

2


BLTTDS qua các năm đều quy định về việc Tòa án phải hoãn phiên tòa sơ thẩm
nếu một trong các đương sự (nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan) vắng mặt lần thứ nhất.
Đối với trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất: Về sự có mặt của đương
sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trước đây, Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2004 có 4 điều luật quy định về vấn đề này: Điều 199 quy
định về sự có mặt của nguyên đơn tại phiên tòa, Điều 200 quy định về sự có mặt của bị
đơn tại phiên tòa, Điều 201 quy định về sự có mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tại phiên tòa, Điều 203 quy định về sự có mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự tại phiên tòa.
Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã bãi bỏ Điều 200, Điều
201, Điều 203, sáp nhập vào Điều 199 quy định theo hướng không phân biệt nguyên
đơn, bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… các chủ thể trên vắng mặt lần
thứ nhất là Tòa án phải hoãn phiên tòa (trừ trường hợp có đơn đề nghị xét xử vắng mặt),
bỏ cụm từ “có lí do chính đáng”.
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này tại khoản 1 Điều 227
và nội dung cơ bản vẫn giữ nguyên so với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2011:“ Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì
Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt.
Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.”
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 296 cũng quy định: “Người kháng cáo, người không

hành xét xử vắng mặt họ.
Hoãn phiên tòa phúc thẩm: Theo khoản 2 Điều 296 quy định: “Người kháng
cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng
cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Trường hợp họ có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ”. Và
tại khoản 3 Điều này quy định về việc trường hợp người kháng cáo được triệu tập hợp lệ
lần hai “Trường hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan thì phải hoãn phiên tòa”. Theo đó, sẽ phải hoãn phiên tòa phúc thẩm trong
trường hợp đương sự (là những người phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm) vắng mặt tại
phiên tòa khi đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất dù đương sự có lí do chính đáng hay
không. Bên cạnh đó, trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt
vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì cũng phải hoãn phiên tòa. Điều
này được quy định nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự.
Việc pháp luật TTDS quy định hoãn phiên tòa trong trường hợp đương sự đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt dù có lí do chính đáng hay không là phù hợp
4


với thực tiễn xét xử của Tòa án hiện nay. Ví dụ như ở các vùng nông thôn điều kiện
thông tin liên lạc còn nhiều hạn chế, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn chưa
cao nên trong nhiều trường hợp họ không thể đến tham gia phiên tòa nhưng cũng không
kịp thông báo cho tòa án. Nếu trường hợp này Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt thì
đôi khi quyền lợi của họ không được đảm bảo và phán quyết của Tòa án có thể bị đương
sự kháng cáo kháng nghị.
Bộ luật TTDS năm 2015 ra đời đã đơn giản và cụ thể hóa vấn đề hoãn phiên tòa
trong trường hợp đương sự vắng mặt. Đây được xem là một quy định rất tiến bộ của
pháp luật, phù hợp với thực tiễn xét xử, đồng thời góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự.
2. Đình chỉ giải quyết vụ án

sau đó sẽ gặp khó khăn. Chính vì vậy, cũng giống như nguyên đơn trong vụ án dân sự,
trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì cũng bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa
án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó (điểm d khoản 2
Điều 227 BLTTDS năm 2015).
2.2.

Đình chỉ xét xử vụ án ở tòa phúc thẩm dân sự

Theo khoản 3 Điều 296 BLTTDS năm 2015 thì trong trường hợp “Người kháng
cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc
kháng cáo và Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người
đó”. Theo quy định này, trường hợp đương sự tham gia phiên tòa phúc thẩm là người
kháng cáo, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì sẽ phải đình chỉ
xét xử phúc thẩm đối với phần vụ án mà đương sự đó kháng cáo.
3. Xét xử vắng mặt đương sự
• Xét xử vắng mặt đương sự ở tòa sơ thẩm dân sự: Các trường hợp Tòa án vẫn tiến hành
xét xử vắng mặt đương sự tại phiên tòa được quy định tại Điều 228 BLTTDS năm
2015. Theo đó, Tòa án chỉ xét xử vắng mặt đương dự khi thuộc một trong các trường
hợp quy định tại Điều 228, cụ thể:
Thứ nhất, một trong các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt.
Thứ hai, một trong các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện
tham gia phiên tòa.
Thứ ba, Tòa án vẫn xét xử vắng mặt đương sự trong các trường hợp quy định tại
điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 Bộ luật này (khoản 3 Điều 228). Đó là các trường
hợp: bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa; Bị đơn có yêu
cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa nhưng có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng

Đây là quy định phù hợp với thực tiễn xét xử của nước ta hiện nay. Tuy nhiên, quy định
này dễ dẫn đến quá trình tố tụng dân sự bị kéo dài. Cụ thể, trong trường hợp vụ án có
nhiều nguyên đơn, bị đơn hoặc nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì khi mỗi
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất thì
Tòa án đều phải hoãn phiên tòa một lần. Như vậy sẽ làm cho vụ việc bị hoãn nhiều lần
gây tốn kém thời gian, công sức của đương sự lẫn Tòa án.
Thứ hai, Điều 227 BLTTDS quy định trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ
đến lần hai mà vẫn vắng mặt thì coi như là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Luật chỉ quy định trường hợp bị đơn có yêu cầu phản
7


tố vắng mặt khi được triệu tập hợp lệ lần hai mà lại không tính đến trường hợp Tòa án
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
vắng mặt nhưng trong vụ án này bị đơn có yêu cần phản tố đối với nguyên đơn mà bị
đơn có mặt khi được triệu tập hợp lệ. Trong trường hợp này, Tòa án có tiếp tục xét xử
vắng mặt nguyên đơn để xét theo yêu cầu phản tố của bị đơn hay không?
Thứ ba, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, Tòa án vẫn tiến hành
xét xử khi đương sự vắng mặt có đơn đề nghị xét xử. Vấn đề đặt ra là khi phiên tòa diễn
ra mà không có sự tham gia của bất kỳ đương sự nào (chỉ có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt) thì phiên tòa sẽ được thực hiện như thế nào để đảm bảo đúng thủ tục tố tụng?
Trong trường hợp này diễn biến của phiên tòa được xác định như thế nào?
2. Phương hướng hoàn thiện
Bên cạnh những bất cập còn tồn tại trong thực tiễn thực hiện, em xin đưa ra một số
kiến nghị sau:
Thứ nhất, cần có quy định về trường hợp vụ án có nhiều đương sự tham gia tố tụng
mà đương sự vắng mặt để tránh việc hoãn phiên tòa nhiều lần nhằm giải quyết nhanh
chóng vụ án dân sự và đảm bảo được quyền lợi của các đương sự. Có thể quy định về
vấn đề này theo hướng: Trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt
tại phiên tòa nhưng các đương sự có mặt và đương sự vắng mặt đồng ý xét xử vắng mặt

5. PGS. TS Hà Thị Mai Hiên, Bình luận khoa học bộ luật Tố tụng Dân sự, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội. 2013.
6. ThS. Nguyễn Triều Dương, Hậu quả pháp lý của việc đương sự vắng mặt tại
phiên tòa.
7. Tiểu luận “Thủ tục tố tụng dân sự áp dụng trong trường hợp đường sự vắng mặt
ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành - Lý
luận và thực tiễn”

9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status