ĐỖ THỊ LÀNH
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỒ THỊ LÀNH
XÃ HỘI HỌC
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI
VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ VÙNG VEN BIỂN
(Nghiên cứu trường hợp tại hai xã
thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
KHÓA VI- ĐỢT I /2015
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ LÀNH
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI
VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ VÙNG VEN BIỂN
mình, song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng
góp quý báu của Quý Thầy cô để luận văn của tôi hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn cho tất cả.
Học viên thực hiện
Đỗ Thị Lành
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Những kết quả và các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất kì hình
thức nào. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về sự cam đoan này./.
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2017
Tác giả
Đỗ Thị Lành
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ..............................................23
1.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................................23
1.2. Khái quát về đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu ...........29
1.3. Thực trạng SKSS [23] ....................................................................................30
1.4. Một số đặc điểm về mẫu tại địa bàn nghiên cứu ............................................31
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VỀ CÁC BIỆN
PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI VÀ BỆNH PHỤ KHOA ................................36
2.1. Kiến thức về các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa .................36
2. 2. Thái độ đối với các biện pháp tránh thai hiện đại và bệnh phụ khoa ............44
2.3. Hành vi áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và phòng tránh bệnh phụ
Bảng 3.8. Thuận lợi khi tiếp cận bệnh viện nhà nước ..............................................62
Bảng 3.9. Thuận lợi khi tiếp cận trạm y tế ................................................................63
Bảng 3.10. Khó khăn khi tiếp cận bệnh viện nhà nước ............................................63
Bảng 3.11. Khó khăn khi tiếp cận trạm y tế ..............................................................64
Bảng 3.12. Tiếp cận cơ sở y tế với việc biết về các BPTT .......................................65
Bảng 3.13. Đánh giá về hiệu quả truyền thông và cung cấp các BPTT, khám chữa
BPK ...........................................................................................................................67
Bảng 3.14. Hiểu biết về BPK theo tuổi và trình độ học vấn (%) ..............................68
Bảng 3.15. Quan niệm về con cái với việc áp dụng BPTT (%) ................................70
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BPK: Bệnh phụ khoa
BPTT: Biện pháp tránh thai
DS-KHHGĐ: Dân số-Kế hoạch hóa gia đình
KCB: Khám chữa bệnh
KCBPK: Khám chữa bệnh phụ khoa
KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình
LTQĐTD: Lây truyền qua đường tình dục
SKSS: Sức khỏe sinh sản
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người. Muốn có sự hài hòa giữa nhịp độ
tăng dân số và phát triển kinh tế thì chúng ta cần phải có một dân số ổn định, mỗi
người, mỗi gia đình đều có sức khỏe tốt, đặc biệt là sức khỏe sinh sản. Đảng và Nhà
nước ta đã đưa ra quan điểm cho rằng “Đầu tư cho sức khỏe nói chung và cho sức
khỏe sinh sản cũng là đầu tư cho phát triển”. [3]
Mặc dù cả nam và nữ cùng tham gia vào các hoạt động sinh sản; song việc
vong trẻ em ở nước ta còn cao hơn so với một số nước như Trung Quốc, Thái Lan,
Malaysia, Singapore…[32]
Tỷ suất tử vong mẹ ở khu vực nông thôn cao gấp ba lần khu vực thành thị,
tương tự tỷ suất tử vong trẻ em ở khu vực nông thôn cao gấp 2 lần so với thành thị.
Bên cạnh đó, mỗi năm Việt Nam có khoảng 800 bà mẹ chết do các nguyên nhân
liên quan đến thai sản.
Các chỉ số về phòng ngừa và điều trị vô sinh, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên, giảm phá thai và phá thai an toàn, phòng chống nhiễm khuẩn đường
sinh sản, chăm sóc SKSS cho nhóm đặc thù như dân tộc thiểu số, người khuyết tật,
người có HIV, người di cư và một số dân tộc có nguy cơ suy thoái… còn thiếu số
liệu đánh giá và chưa được đầu tư thỏa đáng.
Hơn nữa, do nguồn kinh phí hoạt động “eo hẹp”, mạng lưới cung cấp dịch vụ
chăm sóc SKSS còn nhiều hạn chế cả về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và
năng lực cung cấp dịch vụ, đặc biệt là ở tuyến huyện và tuyến xã.
Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nước nói chung, miền
núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ưu tiên trong chiến lược
chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những nỗ lực trong việc triển khai các chiến lược
quốc gia cũng như các chương trình y tế đã đem lại những cơ hội khả quan cho việc
chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ. Tuy nhiên, trong thực tế cơ hội được chăm sóc sức
khỏe không diễn ra đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi, nông thôn và
thành thị, vùng sâu vùng xa và nơi trung tâm.
Năm 2010 dân số vùng ven biển khoảng 27 triệu người với 18 triệu lao động.
Dự báo, năm 2020, dân số vùng ven biển khoảng 30 triệu người với 19 triệu lao
2
động. Đây là lực lượng rất quan trọng đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế
biển đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng và thực hiện chủ trương dân sự hóa
trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc. Khoảng 20 triệu người dân ven biển và trên
người dân, nhất là lao động nhập cư được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
bà mẹ, trẻ em, SKSS/KHHGĐ theo nhận định là sẽ trở nên quá tải. [10]
Nam Định là một trong 28 tỉnh ven biển của cả nước, trong đó có 03 huyện
ven biển là Nghĩa Hưng, Hải Hậu và Giao Thủy. Đối với người dân vùng ven biển,
do đặc thù lao động nghề biển, người dân có tâm lý thích sinh đông con, nhất là con
trai để có người đi biển, có thêm nhân lực làm kinh tế gia đình... các xã ven biển
huyện Nghĩa Hưng cũng không ngoại lệ. Hơn nữa, kiến thức về sức khỏe sinh sản,
phòng tránh viêm nhiễm đường sinh sản, … của người dân còn hạn chế.
Đối với huyện Nghĩa Hưng, theo báo cáo tổng kết năm 2015, công tác Dân sốKHHGĐ của huyện (đặc biệt là ở các xã ven biển) vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn
chế như: kết quả thực hiện gói dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả chưa cao,
số người áp dụng các biện pháp tránh thai mang tính chất bền vững còn thấp; tỉ lệ
phụ nữ mắc bệnh phụ khoa chiếm tỉ lệ cao, công tác truyền thông tuy đã huy động
tất cả các ban, ngành, đoàn thể vào cuộc nhưng việc chuyển đổi hành vi và nhận
thức của người dân còn thấp; dịch vụ KHHGĐ và đội ngũ cán bộ y tế xã, phường,
thị trấn tại một số địa phương còn yếu chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân;
một số cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa quán triệt chính sách Dân số - KHHGĐ đến
từng cán bộ; nhân dân cho rằng chính sách - quy chế Dân số - KHHGĐ có phần nào
đó được nới nhẹ hơn so với trước đây. [1]
Vậy những yếu tố nào ảnh hưởng đến SKSS của phụ nữ ven biển? Thực trạng
SKSS và kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ nữ ven biển hiện nay như thế nào?
Đề tài “Kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng
ven biển - nghiên cứu trường hợp tại hai xã thuộc huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam
Định” đi vào tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi về SKSS của phụ nữ vùng ven
biển, từ đó xem xét những ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập
quán, môi trường sống cũng như khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đến SKSS của họ.
Kết quả nghiên cứu hy vọng sẽ góp phần hỗ trợ cho công tác hoạch định các chính
sách, xây dựng các chương trình chăm sóc SKSS phù hợp với đặc điểm của phụ nữ
4
5
ngày hai. Vì vậy, việc xây dựng và thi hành các chính sách và chương trình sức khỏe
sinh sản đòi hỏi một sự tiếp cận và tham gia ngày càng rộng bao gồm cả sự đánh giá dựa
trên cộng đồng về những gì đã làm được và nhận dạng những khoảng cách và yếu kém
cũng như những phương pháp nhằm tăng cường các mối liên kết giữa các chương trình
để đáp ứng tốt hơn các mối quan tâm về sức khỏe sinh sản. [18, tr20].
Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tổ chức ở Cairo năm 1994 đã
đánh dấu một thay đổi quan trọng trong cách đề cập đến những vấn đề dân số của
cộng đồng quốc tế. Nó cũng dẫn đến một vài thay đổi trong cách mà các chính phủ
và cơ quan quốc tế thực hiện các chương trình.
2.2. Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản ở Việt Nam
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa dân số, phát triển
và cuộc chiến chống đói nghèo, Việt Nam đã tham gia chương trình dân số toàn cầu
từ năm 1960. Các văn bản đầu tiên về chính sách dân số đã nhấn mạnh đến việc
thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Chỉ thị số 99/CT-TTg ngày 16 tháng 10 năm 1963
của Thủ tướng chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch đã đề cập:
“Đối tượng tuyên truyền, giáo dục là những cặp vợ chồng, những người sắp trở
thành vợ chồng. Đối tượng bao gồm nam, nữ thanh niên, những người trung niên và
các bậc bô lão, vì các cụ hay đòi sớm có con. Cần chú trọng cả thanh niên và nam
giới. Tuyên truyền giáo dục phải thích hợp với từng đối tượng”.
Đến ngày 22 tháng 12 năm 2000, Chính phủ đã ban hành Quyết định số
147/2000/QĐ-TTg về chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 với mục tiêu chuyển
hướng tiếp cận từ số lượng sang chất lượng, trọng tâm là giảm sinh và giải quyết
những vấn đề dân số rộng hơn như quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân
số, phân bố dân cư và sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới.
Công tác dân số của Việt Nam trong thế kỷ XXI chuyển hướng nhằm giải
quyết các vấn đề dân số, trong đó có tăng cường chăm sóc sức khỏe sinh sản
Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về
phê duyệt chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong đó đặc
biệt chú trọng đến việc giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập
trung nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi
thế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểm soát
tỷ số giới tính khi sinh.
7
Trong Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển ở
Cairo (1994) đã ghi nhận 13 thành tố của SKSS, căn cứ vào tình hình cụ thể của đất
nước, Việt Nam đã chọn 7 nội dung cơ bản về SKSS như sau:
1. Quyền sinh sản.
2. Kế hoạch hóa gia đình.
3. Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình
dục và HIV/AIDS.
4. Sức khỏe sinh sản vị thành niên.
5. Nạo, hút thai.
6. Làm mẹ an toàn.
7. Bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Ở Việt Nam, có một số đề tài cũng đề cập đến vấn đề sức khỏe nói chung và
SKSS nói riêng. Chúng tôi liệt kê ra đây một số đề tài cũng như một số sách viết về
vấn đề này trong sự hiểu biết của chúng tôi.
Trong công trình “Gia đình nông thôn và vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng
đồng” của tác giả Trịnh Hòa Bình thực hiện năm 1997 với phương pháp phỏng vấn
bằng bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu sẵn có, tác giả đã đề
cập đến vai trò của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe nông thôn, trước hết là ở
nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, tác giả cũng mô tả hiện trạng sức khỏe và
chăm sóc sức khỏe của gia đình nông thôn trong thời kì đổi mới, sức khỏe của cư
tự giải quyết một phần việc chăm sóc sức khỏe của gia đình, giảm bớt một phần
gánh nặng của cộng đồng và Nhà nước. Trong mỗi gia đình, người phụ nữ đã giữ
một vị trí hết sức đặc biệt đối với chăm sóc sức khỏe cho mỗi thành viên. Đồng
thời, phải kể đến tình yêu thương gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên, sự quan tâm
thường xuyên của cha mẹ đối với con cái, sự lo lắng về sức khỏe mỗi khi trái gió trở
trời… Vì vậy, khai thác tiềm năng to lớn của tình nghĩa gia đình trong việc chăm
sóc sức khỏe là một việc làm đầy ý nghĩa thiết thực cần được Đảng và Nhà nước
quán triệt, cần được cộng đồng quan tâm và cần được thực hiện thường xuyên ở
mỗi gia đình.
- Về mặt cộng đồng, tổ chức y tế cơ sở, các đoàn thể, các hội… cần tổ chức tốt
việc tuyên truyền thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân.
9
Với đề tài “Phụ nữ, sức khỏe và môi trường” - Trung tâm nghiên cứu giới,
gia đình và môi trường trong phát triển thực hiện năm 2000 với phương pháp chính
là sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc, các nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu về điều kiện
và môi trường làm việc trong mối liên quan với sức khỏe lao động nữ, đặc biệt là
SKSS của phụ nữ cũng như tìm hiểu về hiểu biết, nhận thức của lao động nữ và
người sử dụng lao động về tác động tiêu cực của môi trường làm việc không đảm
bảo vệ sinh đối với sức khỏe tại bốn địa bàn là xã Ninh Nhất (Hoa Lư - Ninh Bình),
xã Phước Lộc (Nhà Bè - Thành phố Hồ Chí Minh), Công ty Dệt 8-3 (Hà Nội) và
Công ty nước giải khát quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua nghiên cứu, người ta đã phát hiện ra rằng: Môi trường ở nông thôn bị ô
nhiễm nặng; Phụ nữ nông thôn mang thai và sinh đẻ nhiều; Phụ nữ nông thôn
thường lao động vất vả trong thời kì mang thai; Tình trạng nạo hút thai, sảy thai là
tình trạng phổ biến với phụ nữ nông thôn.
Từ những phát hiện qua nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những kiến
nghị để giải quyết vấn đề: Đó là việc xử lý nguồn nước bị ô nhiễm, tăng cường
đường sinh dục dưới rất cao do nghề nghiệp phải ngâm mình dưới nước. Nghiên
cứu cũng chỉ ra các yếu tố của môi trường biển ảnh hưởng tới cơ cấu bệnh tật đó là:
môi trường tự nhiên (nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo), môi trường xã hội
(trình độ học vấn thấp, mức sống thấp, rác thải, nước thải ô nhiễm môi trường, điều
kiện làm việc phải ngâm mình dưới nước, thiếu phương tiện cấp cứu). [20]
Khảo sát về “Những yếu tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp tác động
đến thái độ, hành vi sinh sản và chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân vùng
biển, đảo và ven biển Việt Nam” (2011), được triển khai trên 5 tỉnh: Quảng Ninh,
Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang, đại diện cho ba
khu vực Bắc- Trung- Nam đã cho thấy: bên cạnh những tác động tích cực thì phong
tục tập quán và nghề nghiệp vẫn còn những tác động không tích cực đến hành vi
sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân vùng biển, đảo và ven biển.
Khảo sát cũng chỉ ra có sự khác biệt về mức độ tác động này giữa những người
trong độ tuổi sinh đẻ, vị thành niên và thanh niên. Những người trong độ tuổi sinh
đẻ thì hành vi sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản đều chịu tác động của các yếu
tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp, còn đối với vị thành niên và thanh niên chưa
kết hôn chỉ chịu tác động nhiều từ yếu tố nghề nghiệp.
11
Cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng: Nguyện vọng sinh con trai là yếu tố quan
trọng thúc đẩy việc tiếp tục sinh đẻ ngay cả khi đã có đủ số con mong muốn. Tâm lý
có con trai để "nối dõi tông đường", nhu cầu lao động cơ bắp đã đề cao vai trò con
trai và thích đông con. Điều này thể hiện rất rõ trong các gia đình làm nghề đánh bắt
hải sản và nông nghiệp. Sự tác động của các yếu tố vị trí địa lý, điều kiện kinh tế,
hưởng thụ các phúc lợi xã hội, môi trường sống, làm việc…góp phần làm tăng thêm
tác động không tích cực đến hành vi sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản của
người dân trong khu vực này. [15]
Đề tài “Thực trạng Chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ huyện đảo
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại địa
bàn, những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng ven biển; từ
đó đưa ra những khuyến nghị để địa phương điều chỉnh những chương trình hành
động trong CSSKSS cho phù hợp góp phần cải thiện sức khỏe sinh sản cho phụ nữ
vùng ven biển, nâng cao chất lượng dân số.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đặt ra cho mình những nhiệm vụ
cụ thể sau đây:
Thu thập, phân tích các thông tin có sẵn về sức khỏe sinh sản, các yếu tố ảnh
hưởng đến SKSS.
Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu sức khỏe sinh sản.
Tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi của phụ nữ ven biển đối với các biện pháp
tránh thai hiện đại; bệnh phụ khoa.
Mô tả về điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống, phong tục tập quán trong
mối liên hệ với sức khỏe phụ nữ ven biển, đặc biệt là sức khỏe sinh sản của phụ nữ
tại địa bàn nghiên cứu.
Tìm hiểu những thuận lợi và trở ngại trong việc Tiếp cận dịch vụ y tế
của phụ nữ ven biển trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại;
khám chữa bệnh phụ khoa.
Đưa ra một số khuyến nghị góp phần cải thiện SKSS cho phụ nữ ven biển.
13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi đi vào tìm hiểu thực trạng, những yếu tố ảnh hưởng
đến SKSS của phụ nữ ven biển. Đồng thời, tìm hiểu kiến thức, thái độ, hành vi liên
và không gian. Nó do giáo dục mà có.
Từ xưa đến nay, người phụ nữ có vai trò quan trọng, họ có mặt trong công
cuộc dựng nước, giữ nước, trong lao động sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội.
Trong xã hội truyền thống, vai trò của người phụ nữ không được tôn trọng,
không được đối xử bình đẳng, không có cơ hội để phát triển khả năng của mình. Họ
là người chịu vất vả và thiệt thòi nhất.
Trong xã hội hiện đại, bước vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất
nước, phụ nữ càng thể hiện vai trò của mình đối với sự phát triển của toàn xã
hội. Trình độ học vấn của phụ nữ được nâng lên, lực lượng lao động nữ tham
gia vào thị trường lao động ngày càng nhiều và số phụ nữ chiếm vị trí cao
trong xã hội cũng tăng lên đáng kể. Phụ nữ đã và đang giữ vai trò to lớn trong
các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - khoa học.
Cuộc sống công nghiệp đòi hỏi mọi cá nhân làm việc căng thẳng, lao động cật
lực để có hiệu suất công việc cao nhất. Thời gian dành cho gia đình và cá nhân ít đi,
phụ nữ phải gánh chịu một áp lực công việc lớn hơn nam giới do phải đảm nhiệm
cùng lúc nhiều vai trò gia đình và xã hội. Việc xây dựng gia đình hạnh phúc, hòa
thuận, bình đẳng, sinh đẻ có kế hoạch, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, bảo đảm sức
khỏe và nhu cầu sinh hoạt như ăn, mặc, ở, giải trí cho cả gia đình... được xem là vai
trò của cả vợ lẫn chồng nhưng trên thực tế vẫn là nhiệm vụ chủ yếu của người phụ nữ.
Điều đáng nói thêm là, tuy phụ nữ là người giữ vai trò quan trọng trong gia
đình và ngoài xã hội, là người luôn chịu trách nhiệm và quan tâm đến sức khỏe của
các thành viên trong gia đình, song chính bản thân người phụ nữ lại chưa được quan
tâm đúng mức về sức khỏe, đặc biệt là SKSS.
Khi đề cập đến vấn đề SKSS, cả nam và nữ đều là chủ thể của vấn đề. Tuy
nhiên, việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặc quyền của người
phụ nữ, nên chủ thể trọng tâm của SKSS vẫn là phụ nữ.
15
16
gắn liền với quá trình sinh sản. Muốn có số dân hợp lý, chúng ta phải quan tâm đến
số con của mỗi gia đình. Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm hiểu xem quan niệm của
người dân về số con họ muốn như thế nào, từ đó có những chương trình kế hoạch
hóa gia đình cho hợp lý.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp chọn mẫu
* Mẫu đối với nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, một
phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu định lượng về cấu trúc gia đình.
Trong đó, chúng tôi chọn nghiên cứu 01 đơn vị là xã Nam Điền - 01 xã sát
biển của huyện. Để có sự so sánh những khác biệt về kiến thức, thái độ, hành vi về
SKSS của phụ nữ ven biển và phụ nữ không thuộc vùng ven biển, chúng tôi chọn
thêm thị trấn Liễu Đề - 01 đơn vị thuộc trung tâm huyện, cách biển 35km để so
sánh. Ngoài sự khác nhau về vị trí địa lý thì những tiêu chí chọn mẫu vẫn đảm bảo
sự giống nhau về khách thể nghiên cứu.
Tiêu chí chọn mẫu: phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) đã kết hôn và
sinh con, có hộ khẩu thường trú tại địa bàn nghiên cứu. Việc chọn mẫu dựa trên
danh sách phụ nữ 15-49 tuổi có chồng do cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ thị
trấn Liễu Đề và xã Nam Điền cung cấp.
Xác định cỡ mẫu: Do hạn chế về mặt thời gian, kinh phí thực hiện, nhân lực
hiện có nên chúng tôi chọn khảo sát 200 mẫu, trong đó mỗi xã/thị trấn là 100 mẫu.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng ba phương pháp nghiên cứu cơ bản:
- Nghiên cứu tài liệu sẵn có
- Nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định tính
Trong đó, chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng phương
phương pháp thu thập thông tin định tính, đó là phỏng vấn sâu một số người
dân và cán bộ Đội lưu động Y tế - dân số huyện, cán bộ Dân số-KHHGĐ tại
địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin giúp cho việc phân tích, lý giải
các nguyên nhân của vấn đề.
18