1
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
BÀI TẬP CÁ NHÂN
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Đề 4 : Phân tích, làm rõ hoạt động giải quyết khiếu nại về thi
hành án dân sự.
Hà Nội, 2016
2
LỜI MỞ ĐẦU
Thi hành án dân sự là một hoạt động rất quan trọng trong tố tụng dân sự,
hoạt động này nhân danh quyền lực nhà nước thực thi bản án, quyết định đã có hiệu
lực của Tòa àn trong thực tiễn. Nếu như một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương
xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
Tuy nhiên , hoạt động thi hành án dân sự hay bất kì hoạt động nào của cơ
quan nhà nước đều cần phải có sự giám sát của cá nhân, cơ quan tổ chức để phát
hiện những sai phạm và kịp thời sửa chữa. Bởi vì bất cứ cơ quan nhà nước hay
người thực thi quyền lực nhà nước nào đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của
mình đối với công dân.
Khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi của cơ quan thi hành án dân
sự là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan tổ
chức thì họ sẽ có quyền khiếu nại với các cơ quan nhà nước có thẩm và yêu cầu bảo
có quyền khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự, chấp hành viên, nếu có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là
trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.”
Qua đó lại càng khẳng định thêm việc Nhà nước ta ghi nhận các quyền năng
cơ bản của công dân, trong đó có quyền khiếu nại, thể hiện ý kiến, quan điểm của
người dân đối với nhà nước. Mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bị xử lí theo quy định của
pháp luật.
Như vậy, khiếu nại về thi hành án dân sự là hoạt động của cá nhân, cơ quan,
tổ chức có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến thi hành dân sự theo thủ tục do
luật định đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại các quyết định, hành vi
4
của thủ trưởng cơ quan thi hành án và chấp hành viên trong quá trình thi hành án
dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
b. Ý nghĩa của khiếu nại về thi hành án dân sự
Quyền khiếu nại như là một phương tiện tự bảo vệ khi các quyền, lợi ích hợp
pháp của chủ thể bị xâm phạm, là hoạt động có tính phòng ngừa nhằm bảo vệ và
ngăn chặn khả năng vi phạm pháp luật. Đây là hình thức đặc biệt quan trọng để
nhân dân lao động trực tiếp tham gia vào quản lý Nhà nước và quản lý xã hội, góp
phần phát huy dân chủ, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước,
có ý nghĩa là sự đấu tranh nhằm giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, củng
cố mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân. Đồng thời phòng ngừa, hạn chế và
đấu tranh với những vi phạm pháp luật về thi hành án, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa.
c. Chủ thể khiếu nại:
Người khiếu nại
- Cá nhân: công dân VN, người không quốc tịch, người nước ngoài
hành án không đúng thẩm quyền, thi hành án không đúng với nội dung bản án,
•
quyết định của tòa án v.v..
Ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định thi hành án không đúng
•
quy định tại điều 37 LTHADS.
Ra quyết định ủy thác thi hành án không đúng làm mất thời gian và gây phiền hà
cho đương sự như: vi phạm thời hạn, thủ tục ủy thác, ủy thác không đúng địa chỉ
•
người phải thi hành án cư trú, làm việc, có tài sản hoặc có trụ sở..;
Ra quyết định hoãn thi hành án không đúng quy định tại điều 48 LTHADS hoặc
không ra quyết định hoãn khi có yêu cầu của người có thẩm quyền theo quy định
•
•
của pháp luật mà không có lý do chính đáng…
Ra quyết định tạm đình chỉ không đúng quy định tại Điều 49 LTHADS.
Không ra quyết định tiếp tục thi hành án trong các trường hợp được quy định tại
•
được làm.
Vi phạm các quy định tại Điều 39 LTHADS về thực hiện việc thông báo về thi hành
•
án.
Vi phạm các quy định trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án,
•
biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Áp dụng quy định về tính lãi suất cũng như trượt giá không chính xác, không đúng
•
các quy định của pháp luật.
Trả các khoản tiền thu được của người phải thi hành án không đúng thứ tự thanh
•
toán quy định tại Điều 47 LTHADS.
Áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự không
3.
đúng quy định của pháp luật.
Thời hiệu khiếu nại về thi hành án dân sự
Việc quy định thời hiệu khiếu nại về thi hành án dân sự là để tránh trường
hợp người có thẩm quyền khiếu nại sẽ khiếu nại bất cứ lúc nào, khiếu nại tràn lan
biện pháp cưỡng chế thi thời hiệu khiếu nại là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết
•
định hoặc biết được hành vi đó
Đối với lần khiếu nại thứ hai thì thời hiệu khiếu nại là 15 ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền.
Như vậy, người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền khiều nại về thi hành án dân sự trong một thời
hạn nhất định, nếu hết thời hạn này mà người khiếu nại không khiếu nại thì không
còn quyền khiếu nại nữa, nếu vẫn khiếu nại thì không được tiếp nhận để xem xét,
giải quyết.
Tuy nhiên, thời hạn khiếu nại này có thể bị gián đoạn khi xảy ra những sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trong những trường hợp này pháp
luật quy định thời hạn khiếu nại bị tạm dừng, khoảng thời gian này không tính vào
thời hạn khiếu nại. Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
có quyền khiếu nại, khi nào sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan chấm
dứt thì thời hạn khiếu nại lại được tính tiếp từ thời điểm đó.
4.
Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại và người có thẩm
a.
quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự
Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại về thi hành án dân sự
8
9
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự là người
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết khiếu nại đối với các quyết
định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành
viên.
Quyền và nghĩa vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy
định tại Điều 145 LTHADS.
II.
1.
Giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự
Các cơ quan nhà nước, người đứng đầu các cơ quan nhà nước phải chịu trách
nhiệm về mọi hành vi, hoạt động công vụ do cán bộ công chức của cơ quan mình
và cấp dưới thực hiện. Vì vậy thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án dân
sự được xác định theo các nguyên tắc sau:
•
Đối với khiếu nại về quyết định hành vi trái pháp luật trong thi hành án của nhân
viên thuộc cơ quan thi hành án dân sự nào thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
•
sự đó có trách nhiệm giải quyết.
Đối với khiếu nại về quyết định, hành vi trái pháp luật trong thi hành án của thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới thì do cơ quan thi hành án dân sự cấp
trên trực tiếp hoặc người đứng đầu cơ quan thi hành án cấp dân sự cấp trên trực tiếp
giải quyết
quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ tư pháp đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại.
Quyết định này có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ tư
pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự cấp tỉnh và thủ trưởng cơ quan thi quản lý thi hành án dâ sự
•
thuộc Bộ tư pháp.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quan khu có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của chấp hành viên cơ quan thi hành án
•
cấp quân khu.
Thủ trường cơ quan quản lý thi hành án thuộc BỘ quốc phòng có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành
án cấp quân khu, giải quyết khiếu nại mà thủ trường cơ quan thi hành án cấp quân
•
khi đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại. Quyết định này có hiệu lực thi hành.
Bộ trưởng Bộ quốc phòng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ
quan quản lý thi hành án thuộc Bộ quốc phòng đã giải quyết nhưng còn có khiếu
nại. Quyết định này có hiệu lực thi hành
Theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định của Chính phủ số 58/2009/NĐCP ngày 13/07/2009 quy định về thủ tục thi hành án dân sự thì Bộ trưởng Bộ quốc
phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cơ quan
quản lý thi hành án thuộc Bộ quốc phòng trong những trường hợp sau đây:
11
3.
-
Theo điều 147 LTHADS, việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại.
Đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày tháng năm khiếu nại; họ tên địa chỉ của người khiếu
nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải quyết. Đơn khiếu nại phải
do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
•
Trường hợp người khiếu nại không viết đơn mà đến khiếu nại trực tiếp thì người có
trách nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn
12
hoặc ghi lại các nội dung như đã nói ở trên, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người
•
khiếu nại.
Trong trường hợp việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người
có thẩm quyền phải yêu cầu người đại diện xuất trình giấy tờ chứng minh tính hợp
pháp của việc đại diện và kiểm tra xem việc khiếu nại của người đại diện có theo
đúng thủ tục như quy định đối với người khiếu nại không.
Ngay sau khi nhận được đơn khiếu nại của người khiếu nại, người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án phải làm xem xét nội dung khiếu nại có
thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không, yêu cầu, nội dung của người khiếu
nại. Nếu thấy việc khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trả lời
cho người khiếu nại biết hoặc trong đơn khiếu nại nội dung, yêu cầu khiếu nại chưa
rõ thì gặp gỡ, tiếp xúc với người khiếu nại để yêu cầu bổ sung hoặc làm rõ nộ dung
đơn khiếu nại.
thân người khiếu nại có hợp lệ không, cũng có thể khai thác thêm phần nào những
thông tin liên quan đến vụ việc bị khiếu nại.
Người giải quyết khiếu nại cần phải thu thập các văn bản pháp lý liên quan
đến giải quyết vụ việc để làm căn cứ giải quyết khiếu nại. Đó có thể là các văn bản,
tài liệu liên quan đến quyết định, hành vi bị khiếu nại hay những văn bản, tài liệu
mà nội dung đơn thư khiếu nại đã đề cập đến như là những căn cứ để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hoặc những văn bản pháp luật điều chỉnh
về lĩnh vực có liên quan đến vụ việc phát sinh.
Khi xác định được việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc
cơ quan của mình và không thuộc một trong các trường hợp không thụ lý để giải
quyết quy định tại Điều 141 LTHADS năm 2014 thì người giải quyết khiếu nại
quyết định thụ lý việc khiếu nại.
Theo điều 148 LTHADS, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, người giải quyết khiếu
14
nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại
biết. Có thể xảy ra các trường hợp sau:
•
•
•
Nhận đơn
Trả đơn
Hướng dẫn chuyển cho cơ quan có thẩm quyền
• Thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết khiếu nại
Thẩm tra, xác minh thu thập chứng cứ là khâu rất quan trọng có tính chất
quyết định đối với quá trình xem xét giải quyết vụ việc khiếu nại. Việc thu thập đầy
đủ các tài liệu chứng cứ là cơ sở để̀ giải quyết việc khiếu nại chính xác và đúng
Quyết định này phải được mọi cá nhân, cơ quan tổ chức tôn trọng. Khi quyết định
giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật thì phải được cá nhân, cơ quan tổ chức
hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành, nếu không thi hành sẽ bị xử lý nghiêm minh,
người bị thiệt hại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp và được bồi thường thiệt
hại theo quy định của pháp luật.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Luật khiếu nại tố cáo năm 2011
Luật xử lý vi phạm hành chính 2013
Quyết định 1420/ qđ GQKNTC
Qđ 255/2013/QĐ- VKSTC- V10
Giáo trình Luật Thi hành án Dân sự Việt Nam
http://hdnv.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tai-lieu.aspx?itemid=1469
MỤC LỤC
17