HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT
MỘT SỐ ĐIỀU BẤT CẬP VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Văn bản qui phạm pháp luật chứa đựng các qui phạm pháp luật (các qui định
của pháp luật). Đó cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước giải quyết những vấn
đề phát sinh trong xã hội và sự vụ xảy ra trên thực tế. Để xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chú nghĩa Việt Nam (theo đúng tinh thần của Đại hội XI), một
nhà nước tôn trọng tính tối cao của pháp luật việc xác định hiệu lực của văn bản qui
phạm pháp luật là hết sức quan trọng và rất cần được quan tâm. Văn bản qui phạm
pháp luật nào được áp dụng?. Nếu văn bản qui phạm pháp luật này mâu thuẫn với văn
bản qui phạm pháp luật kia thì áp dụng văn bản nào?. Khi nào một văn bản qui phạm
pháp luật bắt đầu có hiệu lực, khi nào hết hiệu lực?...
Thực ra không có một văn bản nào chính thức xác định hiệu lực pháp lý của
văn bản qui phạm pháp luật, xem văn bản qui phạm pháp luật nào có hiệu lực pháp lý
cao, văn bản qui phạm pháp luật nào có hiệu lực pháp lý thấp. Trong Điều 2 Luật ban
hành văn bản qui phạm pháp luật năm 2008 (Luật này được thông qua ngày 03/6/2008,
có hiệu lực ngày 01/01/2009; sau đây gọi tắt là Luật 2008) chỉ liệt kê hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật, bao gồm:
1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
4. Nghị định của Chính phủ.
5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của
Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
7. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
10. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ
với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với
văn bản qui phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp để sửa đổi, bổ sung một văn bản
qui phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn?. Đối với những văn bản qui phạm
pháp luật khác thì xác định thuận lợi hơn: Luật có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định,
Nghị định cao hơn Thông tư, Thông tư cao hơn Quyết định của Ủy ban nhân dân …
Như vậy, theo đúng nguyên tắc trên thì khi phát hiện văn bản qui phạm pháp luật có
hiệu lực pháp lý thấp mâu thuẫn với văn bản qui phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý
cao hơn thì áp dụng theo văn bản qui phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.
2
Nhưng trên thực tế thì thường thấy tình trạng ngược lại, “cán bộ nhà nước” thường áp
dụng văn bản qui phạm pháp luật của cơ quan “gần” mình nhất, cơ quan trực tiếp quản
lý mình, tức là văn bản qui phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thấp hơn, còn trái với
văn bản của “ông trên” tính sau, đó không phải là trách nhiệm của mình. Ví dụ: cán bộ
của Ủy ban nhân dân huyện áp dụng văn bản qui phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân
tỉnh ban hành (dù văn bản này trái với Nghị định của Chính phủ); cán bộ của sở áp
dụng Thông tư của Bộ “mình” ban hành (cho dù Thông tư đó trái với Luật của Quốc
hội)… Nếu phát hiện hai Thông tư của cùng một Bộ ban hành (các văn bản qui phạm
pháp luật do cùng một cơ quan ban hành) trái ngược nhau thì áp dụng văn bản mới nhất;
nếu hai Thông tư mới nhất của hai Bộ ban hành trái ngược nhau thì vấn đề cần giải
quyết thuộc lĩnh vực, ngành nghề của Bộ nào quản lý sẽ áp dụng văn bản của Bộ đó.
Về vấn đề văn bản qui phạm pháp luật khi nào bắt đầu có hiệu lực thì Luật ban
hành Văn bản qui phạm pháp luật năm 2008 qui định: “Thời điểm có hiệu lực của văn
bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi
lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. ” (Đ.78). Qui định này đã khắc phục
được những bất cập của những văn bản trước đó Luật ban hành Văn bản qui phạm
pháp luật năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002) thì qui định có văn bản qui
phạm pháp luật có hiệu lực kể từ ngày người có thẩm quyền ký, có văn bản có hiệu lực
từ ngày đăng Công báo, có văn bản có hiệu lực sau khi đăng Công báo 15 ngày, 30
01/01/2009) thay thế luật Giao thông đường bộ năm 2001, nhưng chưa có nghị định
hướng dẫn thi hành của Chính phủ, nên cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn sử dụng
văn bản cũ là Nghị định 146/2007/NĐ-CP ngày 14/9/2007 (Nghị định 146 ban hành để
hướng dẫn thi hành Luật Giao thông đường bộ năm 2001) .
Một số kiến nghị:
- Phải qui định thứ bậc pháp lý của các văn bản qui phạm pháp luật phải rõ
ràng, cụ thể. Văn bản qui phạm pháp luật nào có hiệu lực pháp lý cao, văn bản qui
phạm pháp luật nàp có hiệu lực pháp lý thấp; và phải tuân thủ đúng nguyên tắc văn
bản qui phạm pháp luật thấp phải phù hợp với văn bản qui phạm pháp luật cao hơn,
cuối cùng phài phù hợp với Hiến pháp.
- Tiến hành rà soát hệ thống văn bản qui phạm pháp luật hiện hành; phát hiện
kịp thời và xử lý nhanh chóng những văn bản qui phạm pháp luật “nằm lệch” ra ngoài
hệ thống văn bản qui phạm pháp luật đồng bộ, thống nhất.
- Phải có qui định cụ thể về chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản thực hiện
thí điểm; sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, hủy bỏ văn bản qui phạm pháp luật.
- Ban hành một văn bản qui phạm pháp luật mới cần liệt kê cụ thể những văn
bản qui phạm pháp luật được thay thế.
4
- Ban hành Luật phải có đủ các văn bản hướng dẫn thi hành thì mới được áp
dụng Luật đó (Lúc ấy Luật mới có hiệu lực); hoặc ban hành Luật rõ ràng, cụ thể, dễ áp
dụng để không cần phải ban hành văn bản hướng dẫn thi hành.
- Nên hoàn thiện những qui định của pháp luật về ban hành văn bản qui phạm
pháp luật; không nên có 2 luật qui định về vấn đề này (Hiện nay có Luật ban hành văn
bản qui phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004)./.
5