TÀI LIỆU THAM KHẢO CÁCH NHÌN của mỹ về THẤT bại KHI TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH ở VIỆT NAM từ QUAN điểm của NHỮNG NHÀ CHÍNH TRỊ - Pdf 38

PHẦN I. MỸ VÀ VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH
ROBERT D. SCHULZINGER
Giáo sư Sử học và Giám đốc chương trình các vấn đề quốc tế của
Trường Đại học Colorado

Mỹ và Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến tranh 20 năm để khẳng định
mình. Vấn đề của người Việt Nam là rõ ràng: Ông Hồ Chí Minh và những cộng sự
trong Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thống
nhất đất nước. Từ năm 1947 đến 1975, Võ Nguyễn Giáp đã vạch lý luận về chiến
tranh trường kỳ của mình. Những người cách mạng Việt Nam có quan điểm trường
kỳ, không nôn nóng như kẻ thù của họ. Lòng tin của họ cuối cùng tỏ ra đúng. Dự
án xây dựng một quốc gia riêng rẽ, có thể đứng vững được trên một nửa nước Việt
Nam - một đất nước có lịch sử lâu đời - là không thể thực hiện được.
Vậy mà công cuộc xây dựng quốc gia như thế lại được giao cho một loạt các
quan chức Mỹ trong gần hai thập kỷ. Đối với Mỹ, vấn đề tham gia vào các công
việc ở Việt Nam khá phức tạp, mơ hồ và đối lập nhau. Cuộc chiến tranh ở Việt
Nam nói đúng ra chưa bao giờ là vì Việt Nam. Mỹ dính líu vào hoạt động chính trị
và cuối cùng chiến đấu ở đó là vì Chiến tranh lạnh. Trong hơn 40 năm kể từ sau
năm 1947, đẩy mạnh ngăn chặn Liên Xô được coi là nguyên tắc trung tâm của
chính sách đối ngoại của Mỹ. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ không nghĩ rằng tất cả các
sự kiện quốc tế gắn liền với Chiến tranh lạnh, chắc sẽ không có chiến tranh Việt
Nam của Mỹ. Những nhà lãnh đạo Mỹ một mực tin rằng khả năng đáng tin cậy của
họ bị lâm nguy ở đó.
Nhưng chỉ riêng Chiến tranh lạnh không giải thích được hoàn toàn quá trình
Mỹ dính líu vào Việt Nam. Tất cả các cuộc chiến tranh đều có yếu tố trong nước
và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam có nhiều hơn cả. Các hoạt động chính trị
trong nước, thời gian biểu của chu kỳ bầu cử Tổng thống và các thể chế chung của
Mỹ cuối cùng đã chi phối phương thức tiến hành chiến tranh của Mỹ. Các yếu tố
này đưa Mỹ vào chiến tranh cũng như ra khỏi cuộc chiến.
Duy trì khả năng đáng tin cậy của Mỹ hình như luôn luôn hết sức quan trọng
đối với những nhà vạch chính sách khi họ suy tính bước đi sắp tới ở Việt Nam. Từ

các nước Cộng sản khác không thể dùng chiến thắng của đồng minh của họ ở Việt
Nam làm nền tảng cho cuộc cách mạng thế giới. Nhưng các quan chức trong chính
quyền Giôn-xơn lại tin tưởng chắc chắn rằng hậu quả kinh khủng đó sẽ tiếp nối diễn
ra nếu những người cách mạng thống nhất được đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của ông Hồ Chí Minh.
Hãy quay lưng lại với những người lãnh đạo chóp bu và hãy xem xét kinh
nghiệm của những người Việt Nam và Mỹ trong cuộc chiến. Hoạt động chính trị
quốc tế, chính sách ngăn chặn và sự tín nhiệm ít quan trọng đối với họ. Nhưng thời
gian có tầm quan trọng hơn cả. Thời gian trôi qua cùng với những thay đổi đối với
những nhà vạch chính sách cấp cao khác nhau ở Oa-sinh-tơn, Hà Nội và Sài Gòn.
Thời gian trôi qua cũng không như nhau đối với những người lính. Đối với các
chiến sĩ miền Bắc Việt Nam, họ ở miền Nam lâu dài. Không người nào đi vào Nam
biết mình đi bao lâu. Nhiều người ở lại miền Nam nhiều năm hoặc không bao giờ
rời chiến trường. Nhiều người sống bí mật trong địa đạo hàng tháng hoặc hàng
năm. Binh sĩ chế độ Sài Gòn ít có sức chịu đựng bền bỉ như thế. Một số ít chiến
đấu tốt nhưng không đủ và chưa bao giờ chiến đấu trong một thời gian dài như
đối phương của họ. Quân Sài Gòn phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ mà Mỹ
cung cấp. Nền tảng xã hội của nhân dân Việt Nam ở miền Nam bị tan rã. Lối
sống truyền thống ở nông thôn của họ bị chiến tranh phá huỷ. Các thành phố ở
miền Nam quá đông người còn đồng ruộng thì bị ném bom. Sự phá hoại to lớn
này làm khó khăn rất nhiều cho việc huy động người dân bình thường tiếp tục
đóng góp cần thiết để chiến thắng trong cuộc chiến tranh kéo dài gần như bất
tận này.


Mỹ tỏ ra kiên nhẫn hơn. Họ hy vọng nhiệm kỳ phục vụ 12 tháng ở Việt Nam
và trực thăng, máy bay tiêm kích-bom và hoả lực hạng nặng sẽ làm cho binh sĩ lục
quân chịu đựng được cuộc chiến đấu. Các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ lo sợ tổn thất
tăng lên và ý chí chiến đấu của binh lính Mỹ giảm sút. Chiến thuật tìm-diệt được
họ chấp nhận, cố ý giữ quân Mỹ tách rời quân Sài Gòn mà họ cho là phải được

Rõ ràng, sự nhiệt tình trông đợi của nhân dân vào một người anh hùng có thể
cứu họ khỏi thảm kịch Việt Nam cho thấy vết thương mà chiến tranh để lại đắng
cay như thế nào.
Vì vậy, liệu cuộc chiến tranh có đáng giá đối với Mỹ ? Tất nhiên, câu trả lời dễ
thấy nhất là không. Đã có 58.000 người chết và rất nhiều người bị thương. Nền
kinh tế Mỹ bị lạm phát nhiều năm do các chính sách của chính phủ theo đuổi trong
những năm chiến tranh Việt Nam. Cũng khó chứng tỏ rằng kết quả đầu tư cho
chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam có tác động đến sự sụp đổ của Liên Xô.


Những điều mỉa mai thì rất nhiều. Quân đội là tổ chức của nhà nước học được
nhiều bài học của chiến tranh Việt Nam nhất. Vào giữa những năm 70, danh tiếng
của quân đội ở điểm thấp nhất.
Cuối cùng, tình trạng thù địch và chủ nghĩa hoài nghi đối với những nhà lãnh
đạo và đối với các tổ chức của chính phủ trở nên thịnh hành mà phần nào là do hậu
quả của chiến tranh Việt Nam. Một khẩu hiệu chống chiến tranh Việt Nam trước
đây "Tôi yêu đất nước tôi và sợ chính phủ tôi" đã được lan truyền. Sự thô tục hoá
việc bàn luận chính trị trong thế hệ vừa qua phần nào bắt nguồn từ sự khốn khổ
của việc Mỹ dính líu vào Việt Nam.
Trích dịch trong cuốn "A Time For War: U.S. and Vietnam, 1941-1975" (Một
thời chiến tranh: Mỹ và Việt Nam 1941-1975). Oxford University Press, N.Y.,
1997, tr. 328-336.
PHẦN II. XEM XÉT LẠI CHIẾN TRANH VIỆT NAM TỪ KHÍA
CẠNH: CHIẾN TRANH VĂN HOÁ VÀ LỊCH SỬ
WRAY R. JOHNSON
Gần đây, suy nghĩ về chiến tranh Việt Nam, Jeffrey Record, một cựu quan
chức của Bộ Ngoại giao Mỹ từ 1968-69, trong một bài viết đăng trên tạp chí
"Parameters" số Đông 1996-97, đã kết luận rằng: nỗ lực chiến tranh của Mỹ bị thất
bại chẳng những do không đánh giá đúng sự phức tạp và tiến triển của cuộc chiến
mà còn dốt nát về đất nước, lịch sử và văn hoá của Việt Nam. Mặc dù có những lời

loại trừ lẫn nhau. Do đó, một khi đã gây ra chiến tranh, Mỹ theo đuổi quan điểm
"được ăn cả ngã về không", được đúc theo khuôn mẫu của cuộc thập tự chinh tinh


thần để giành thắng lợi hoàn toàn đối với quân địch và sau đó quay trở lại trạng
thái hoà bình.
Do vị trí địa lý, Việt Nam là nạn nhân của nhiều cuộc xâm lược, chiếm đóng
của nước ngoài, đặc biệt là của Trung Quốc. Một số nhà văn hoá Mỹ nhấn mạnh
đến ảnh hưởng quân sự của phong kiến Trung Quốc, một số khác chú trọng đến ảnh
hưởng hiện nay của Trung Quốc (tức là Mao Trạch Đông). Có luận cứ tốt hơn cho
rằng lý luận quân sự của Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống quân sự đích
thực của Việt Nam có chịu ảnh hưởng của các nhà quân sự Trung Quốc trước kia hay
hiện nay một cách có ý thức hoặc không có ý thức. Mặc dù thế, Việt Nam vẫn giữ
được tinh thần dân tộc độc lập một cách mãnh liệt dưới thời bị phong kiến Trung
Quốc đô hộ, để lại một di sản chống ngoại xâm cho thế hệ sau.
Truyền thống chiến tranh du kích xuất hiện vào thế kỷ thứ 10 khi Việt Nam
đánh thắng cuộc xâm lược của quân nhà Đường Trung Quốc. Năm 1284, trong
công cuộc bảo vệ đất nước chống lại cuộc xâm lược Nguyên-Mông, quân Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo đã hoàn thiện kỹ thuật chiến tranh du
kích. Trong chống quân Minh, quân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi lại áp
dụng chiến tranh du kích và đã thắng lợi đánh bại quân Minh vào năm 1818. Gần
đây, có hai cuộc chiến tranh mà người Việt Nam tiến hành chống lại sự chiếm
đóng của người nước ngoài. Cuộc chiến tranh thứ nhất chống Pháp từ 1946-1954,
cuộc chiến tranh thứ hai chống Mỹ từ 1961-1975.
Giai đoạn chống Pháp được nhiều nhà phân tích nghiên cứu và trình bày. Các
nhà phân tích Mỹ lúc ấy kết luận rằng Pháp đã làm hỏng nỗ lực của Mỹ và do đó
mọi bài học rút ra có tính chất cảnh báo. Giai đoạn chống Pháp rất quan trọng vì
một lý do đặc biệt: bối cảnh cách mạng và chiến lược cơ bản của chiến tranh từ
1946-54 phản ảnh khái niệm chiến tranh của Việt Nam. Điều này thể hiện khá rõ
trong các tác phẩm "Cuộc cách mạng tháng 8" và "Trường kỳ kháng chiến nhất

Mỹ và để chấm dứt nó. Ở tầm chiến thuật, điều này có nghĩa là binh sĩ lục quân và
hải quân đánh bộ Mỹ gánh chịu trách nhiệm chiến đấu chống quân Cộng sản trên


chiến trường và về nghĩa đen cũng như nghĩa bóng, đặt phi công Mỹ ở ghế trước
và phi công Sài Gòn ở ghế sau trong máy bay chiến đấu.
Quan điểm lưỡng phân của Mỹ bắt nguồn từ cội rễ của đạo Do Thái-Cơ Đốc
Tin Lành (Protestant Judeo-Christan) của văn hoá Mỹ. Nói ngắn gọn là chỉ có
người phạm tội hoặc không phạm tội chứ không có nửa tội. Người Mỹ có xu
hướng coi các sự vật là trắng hoặc đen, A hay B, tốt hoặc xấu, đúng hoặc sai, ít khi
được coi là xám. Ví dụ, học thuyết xung đột cường độ thấp trong những năm 80
và đầu những năm 90 được diễn đạt chung là một phần của phổ xung đột, phổ
này được sắp xếp từ khủng bố và chiến tranh du kích - đầu thấp của phổ đến
chiến tranh qui ước và chiến tranh hạt nhân - đầu cao. Do xu hướng của Mỹ
đánh giá sự việc theo quan điểm lưỡng phân, cả hai đầu của phổ được coi là loại
trừ lẫn nhau. Nói một cách khác, người Mỹ coi xung đột hoặc là cường độ thấp
hoặc là cường độ cao.
Ở Việt Nam, Mỹ bất lực trong việc nhử Việt Cộng và quân chính qui Bắc Việt
Nam vào trận đánh quyết định. Ở tầm chiến lược, Mỹ không hiểu bản chất của nổi
dậy ở Việt Nam, phân tích nó như chiến tranh qui ước ở qui mô hạn chế (giống
như chiến tranh Triều Tiên) phù hợp với nhận thức về chiến tranh du kích của Mỹ,
được coi như là bộ phận phụ hay phần mở đầu của một cuộc xâm lược qui
ước. Ở tầm chiến thuật, Mỹ tập trung vào nâng cao khả năng quân sự của quân Sài
Gòn để chống lại một cuộc xâm lược của Bắc Việt Nam hơn là tập trung vào cải
cách toàn bộ bộ máy.
Ngược với Mỹ, thế giới quan của Việt Nam bắt nguồn từ quan niệm về thời
gian và lịch sử là có tính chu kỳ. Ví dụ, khái niệm về cách mạng, đối với Mỹ (vào
năm 1776) là sự cắt đứt với quá khứ, mở ra một điểm xuất phát mới. Đối với người
Việt Nam, tính chất chu kỳ của lịch sử coi các chế độ có thịnh có suy.
Về chiến lược của Việt Nam đối lại với chiến lược của Mỹ, ta chỉ cần xem xét

trình nổi bật của các tác giả Việt Nam, song các cuộc tranh luận về bài học của
chiến tranh Việt Nam diễn ra trong hai thập kỷ qua chủ yếu là của các nhà bình
luận Mỹ và theo quan điểm của Mỹ. Kinh nghiệm của Mỹ ở Việt Nam tác động
sâu sắc đến tư tưởng quân sự của Mỹ và định hướng cho cuộc thảo luận trong
những năm 80 về học thuyết xung đột cường độ thấp. Một bên là những người cho
rằng học thuyết quân sự và việc thực hiện thất bại các hoạt động chiến đấu bắt
nguồn từ sự hiểu sai bản chất và đặc điểm của chiến tranh cách mạng và chiến
tranh không qui ước. Chống lại quan điểm này là những người quả quyết rằng thất
bại xuất phát từ thiếu ý chí chính trị để kiên trì nỗ lực và không tuân thủ các
nguyên tắc chiến tranh.
Tuy nhiên các nhà phân tích Mỹ thường không nắm được điểm chiến lược cốt
lõi: những người cộng sản Việt Nam theo đuổi một chiến lược đích thực là Việt
Nam và nó không giống với cả hai quan điểm của Mỹ. Về sau này, Giáo sư sử học
John Gates chỉ ra rất đúng là sai lầm mà các nhà sử học và các nhà phân tích phạm
phải trong phản ảnh tính chất của chiến tranh cách mạng là không xem xét hiện
tượng bằng con mắt của những nhà thực hành. Các nhà phân tích Mỹ lý giải một
cách máy móc lời của Mao là chiến tranh cách mạng phải được thực hiện như một
đường thẳng từ du kích đến vận động chiến thông qua 3 giai đoạn.
Trong khi đó, Việt Nam hình thành chiến lược của bản thân họ theo truyền
thống văn hoá và quân sự của riêng họ. Mặc dù ông Trường Chinh viết: Nguyên
tắc bao trùm là "chiến tranh trường kỳ" như Mao nói, song về mặt tác chiến ông
Trường Chinh áp dụng sự phối hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh vận
động. Việc Cộng sản chuyển tiếp từ tiến công chiến thuật sang phòng ngự chiến
thuật và trở lại tiến công là hoàn toàn phù hợp với chiến lược và truyền thống quân sự
của Việt Nam. Hary Summers than phiền là "mỉa mai thay, thắng lợi chiến thuật của
chúng ta không ngăn được thất bại chiến lược của chúng ta". Điều này, càng rõ hơn
khi ta thấy ông Trường Chinh đã từng viết "để thành công, trước hết chiến lược
phải đúng. Nếu chiến lược đúng mà chiến thuật có sai thì chiến tranh chưa hẳn thất
bại hoàn toàn".
Cuối cùng, sai lầm của Mỹ là tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu Mỹ chống

thì họ đã hiểu sai tính chất của chiến tranh cách mạng và không đánh giá đúng cuộc
chiến tranh trong bối cảnh của văn hoá, lịch sử và truyền thống quân sự. Do đó,
quân Mỹ cố gắng tiến hành một cuộc chiến tranh qui ước kiểu phương Tây chống
lại một đối thủ không qui ước, hoàn toàn phi phương Tây bằng các nguyên tắc của
Clao-dơ-vít về chiến tranh trận địa được rút ra từ truyền thống quân sự phương Tây
có cội rễ từ Hy Lạp cổ điển. Cộng sản Việt Nam theo đuổi chiến lược trên cơ sở
lịch sử, văn hoá và truyền thống quân sự của mình.
Kết luận
Từ khi xảy ra sự kiện bi thảm tháng 10 năm 1993 ở Mô-ga-đi-su (Xô-ma-li)
khi 18 lính Mỹ bị giết chết trong chiến đấu, các nhà vạch chính sách và lãnh đạo
quân sự Mỹ bị ám ảnh bởi bóng ma không kém gì bóng ma của chiến tranh Việt
Nam. Nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân cơ bản đã đẩy nhanh thất bại của Mỹ ở
Xô-ma-li là học thuyết quân sự của Mỹ tiếp tục dựa vào truyền thống Clau-dơ-vít.
Người ta có thể cho rằng có nhiều lý do về sự gắn bó chặt chẽ của quân đội Mỹ
với các nguyên tắc chiến tranh qui ước nhưng lý do căn bản là văn hoá: văn hoá
quân sự và học thuyết quân sự của Mỹ phản ảnh văn hoá của Mỹ và phương Tây.


Di sản của phương thức tác chiến kiểu Hy Lạp kéo dài là một chất ma túy mà Mỹ
không từ bỏ được. Mỹ cần phải nhớ bài học về đặc điểm duy nhất của từng cuộc
chiến tranh. Việc thực hiện gần như hoàn hảo chiến tranh vùng Vịnh sẽ không dễ
dàng tái diễn ở bất kỳ nơi nào khác. Một năm sau tướng Mô-ha-mét Ai-đít đã
chứng minh điều này.
Cuối cùng, chiến lược can thiệp quân sự mà không chú ý một cách có ý
thức hay không ý thức đến văn hoá của dân tộc mình sẽ chuốc lấy thất bại. Đồng
thời, một chiến lược bất chấp văn hoá và lịch sử của khu vực diễn ra cuộc can thiệp
cũng đem lại tai hoạ như Mỹ đã thất bại ở Xô-ma-li. Lary Cable phác hoạ các yêu
cầu về tình báo đặc biệt như đánh giá cơ bản về văn hoá, chính trị, xã hội, lịch sử
và tri thức. Hơn bao giờ hết quân nhân cần có trình độ hiểu biết văn hoá về các đối
thủ trên thế giới. Mỹ đã bỏ qua khía cạnh này trong chiến tranh Việt Nam.

của chiến tranh phải đi liền với mặt chính trị và phục tùng mặt chính trị (Duiker,
1995, Văn Tiến Dũng, 1968, 1969, Võ Nguyên Giáp 1970). Họ gọi nỗ lực của họ
là "Chiến tranh nhân dân". Mặc dù lối nói hoa mỹ này thường có vẻ khó nghe và
nặng về tuyên truyền đối với phương Tây song nó là một thực tế đóng góp một
cách cơ bản vào nỗ lực chiến tranh của họ.
Những người cách mạng Việt Nam khẳng định rằng cuộc chiến tranh chống
Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn của họ là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, giống như
các cuộc chiến tranh chống Pháp và Nhật Bản của họ trước đây, không kể đến các
cuộc đấu tranh chống sự đô hộ của Trung Quốc trong lịch sử gần 2.000 năm. Được
thôi thúc bởi nhận thức về một cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhân dân miền Bắc
cũng như miền Nam Việt Nam được động viên với số lượng rất lớn và quyết tâm
rất cao để kháng chiến.
Nói một cách cụ thể là những viên chức dân sự đóng góp rất nhiều giờ công
đào hầm cá nhân và tập thể. Đóng quân dọc theo Đường Hồ Chí Minh, các Đội
thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, phần lớn là nữ thanh niên, nhanh
chóng sửa chữa những hư hại do bị Mỹ ném bom. Dân quân tự vệ gồm nông dân,
công nhân, sinh viên được tập hợp trong các cuộc đánh trả bằng vũ khí nhẹ vào
máy bay ở tầng thấp. Nhân dân Việt Nam ủng hộ cách mạng ngay cả khi phải đối
mặt với hoả lực ưu thế của quân đội Mỹ và đồng minh của Mỹ và không sợ những
tổn thất lớn mà Mỹ gây ra.
Các đồng minh nước ngoài
Trong cuộc chiến tranh VNDCCH nhận được viện trợ đáng kể từ các nước
khác, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Có 3 yếu tố trong cung cấp viện trợ của
2 nước này cho VNDCCH:
1. Quan điểm chính trị chung của họ tức là chủ nghĩa cộng sản và sự chống đối
khối tư bản chủ nghĩa do Mỹ lãnh đạo.
2. Nhận thức sự đúng đắn của sự nghiệp của những người cách mạng Việt Nam
3. Sự ganh đua giữa Liên Xô và Trung Quốc làm người lãnh đạo cách mạng
thế giới.
Thêm vào đó giới cầm quyền Mỹ lo ngại rằng các biện pháp quân sự thái quá

thải ra không khí.
Ban ngày hầu như không có sự đi lại của xe cộ trên các đường mòn và đường
giao thông kể cả đường Hồ Chí Minh, nhưng khi màn đêm buông xuống và việc
phát hiện bằng máy bay gặp khó khăn hơn, việc đi lại của xe cộ trở nên sôi động.
Xe tải dùng đèn gầm. Những chỗ nóng trên xe tải được phủ lá chuối hoặc tre để
tránh bị phát hiện bằng tia hồng ngoại và lá nhôm được bao quanh các bộ đánh lửa
ngăn cản việc phát hiện bằng sóng điện từ. Tán lá rừng ngăn cản việc trinh sát từ
trên không. Ở nơi nào tán lá thưa thớt sẽ được tăng cường bằng các giàn mắt cáo
hay các lưới mắt cáo phủ đầy cây cỏ được buộc lại với nhau bằng dây leo để che
giấu tốt hơn đường xá. Việt Nam ngụy trang mặt đường bằng tro, cát, lá cây hay
ngay cả bằng cây trồng trong chậu.
Không quân Mỹ chú trọng đánh phá cầu cống của Việt Nam và người Việt Nam
đã nghĩ ra một số phương pháp để che giấu. Họ làm cầu tre hay cầu cáp, dễ dàng tháo
dỡ một đầu cho biến mất dưới nước và ban đêm cầu lại được nâng lên bằng tời quay
tay. Các cầu khác được làm bằng cáp và ván gỗ hay đoạn tre đặt trên các phao dễ
dàng tháo rời một đầu có thể thả trôi sông và nằm dọc theo bờ sông dưới tán cây cối
và do đó không thể nhìn thấy từ trên không. Việt Nam cũng bắc cầu chìm có thể đi
qua được nhưng gần như không phát hiện được từ trên không.
Vải và hầm hào bảo vệ


Trẻ em ở miền Bắc đội mũ rơm và mặc áo tơi để tự bảo vệ, chống bom bi và
mảnh bom sát thương.
Trong toàn bộ biên niên sử chiến tranh, Việt Nam phải được xếp vào hàng đầu
hoặc gần hàng đầu về kỹ thuật công trình quân sự. Họ đào hàng dặm hàng dặm
đường hào, địa đạo, hầm hố cá nhân lẫn tập thể để bảo vệ chống tiến công đường
không. Các quan chức chỉ đạo đào những kiểu hầm tốt nhất. Kiểu thường thấy là
hầm chữ A. Các ống bê tông hình trụ với các nắp đậy bằng sậy bện hay bê tông
được đặt ngầm dọc theo các vỉa hè đường phố Hà Nội làm hầm cá nhân. Nhiều
triền núi được đào hầm để đặt nhà máy.

mà quân Mỹ và quân Việt Nam Cộng hoà sử dụng để đánh dấu bãi đỗ cho trực
thăng, mặc quân phục của phi công bị bắn rơi và bắn pháo hiệu của anh ta hoặc


không bắt ngay phi công bị bắn rơi do đó phi công có cơ hội gọi cấp cứu. Lực
lượng cách mạng tiến công trực thăng và kíp lái bằng cách đóng cọc, gài mìn trên
bãi đỗ và bắn súng phóng lựu tự tạo vào bãi đỗ.
Quân Giải phóng và QĐNDVN cũng in sách giáo khoa, sản xuất phim và huấn
luyện bằng các mô hình để cải thiện kỹ thuật bắn máy bay của họ. Sách giáo khoa
và phim này chỉ ra rằng trực thăng dễ bị bắn rơi nhất khi bay ở độ cao thấp, hạ độ
cao, bay tại chỗ, hạ cánh hay cất cánh.
PHÒNG THỦ CHỐNG MÁY BAY
Phối hợp các hệ thống phòng thủ
Ở miền Bắc, QĐNDVN đã xây dựng hệ thống phòng thủ chống máy bay "tinh
vi và hiệu quả nhất" trong lịch sử. (Pike, 1986). Đó là hệ thống phòng thủ nhiều
cấp được phối hợp năng động bao gồm các hệ thống báo động bằng ra-đa, máy bay
tiêm kích phản lực MiG, tên lửa đất đối không, pháo phòng không các cỡ và hoả
lực vũ khí nhỏ. Hệ thống này tạo ra một môi trường uy hiếp mà máy bay đối
phương khó có thể áp dụng chiến thuật nào để phòng tránh. Để tránh bị ra-đa phát
hiện, tránh bị hoả lực của pháo phòng không, tên lửa phòng không SA-2 Guideline
và MiG tiến công, khi có thể, phi công Mỹ trước tiên bay thấp, sát địa hình, khi
bay vào không phận của miền Bắc Việt Nam. Gần đến mục tiêu, họ sẽ "bất ngờ vọt
lên" để nhận biết mục tiêu bằng mắt thường và bổ nhào cắt bom. Tuy nhiên, cách
bay thấp này có nhiều bất lợi vì nó đẩy máy bay vào tầm của hoả lực vũ khí nhỏ
dày đặc (súng trường, trung liên) của công nhân, nông dân và sinh viên, đó là mối
đe doạ thực sự cho máy bay ở độ cao đến 450m.
Để tránh hoả lực vũ khí nhỏ, phi công Mỹ bay ở độ cao lớn hơn nhưng điều này
biến họ thành mục tiêu của các loại vũ khí phòng không khác. Ra-đa của QĐNDVN
phát hiện máy bay ở độ cao này, tước đi yếu tố bất ngờ và dẫn đường cho máy bay
MiG đánh chặn. Ở độ cao lớn hơn, máy bay cũng bị rơi vào vòng hoả lực có hiệu quả

pháo của họ ở gò cao và theo hình tam giác trên các con đường vào các khu vực
này.
Chiến thuật của tên lửa đất đối không (SAM)
Giống như các vị trí pháo phòng không, các tên lửa đất đối không cũng được
cơ động khắp nơi và một số vị trí được bố trí tên lửa giả để nghi binh đánh lừa. Khi
máy bay Mỹ được trang bị tên lửa chống ra-đa để đánh phá các trận địa tên lửa của
Bắc Việt Nam, để đối phó với vũ khí này, các kíp trắc thủ ra-đa của QĐNDVN
thực hiện mở-tắt ra-đa hay chỉ cho ra-đa dẫn đường đoạn cuối của tên lửa SAM.
Để chống lại các biện pháp đối phó điện tử, bộ đội Việt Nam phóng tên lửa đất
đối không thành hàng rào khi máy bay đến gần khu vực mục tiêu và gần như phá
vỡ đội hình tốp (pod formation) của máy bay. Năm 1967, bộ đội Việt Nam bổ sung
các thiết bị theo dõi quang học nhằm phá các biện pháp đối phó điện tử. Trong các
cuộc ném bom của B-52 trong chiến dịch Linebacker II, các kíp phóng tên lửa đất
đối không của QĐNDVN có ý định khắc phục sự rối loạn của các hệ thống dẫn
đường ra-đa bởi các biện pháp đối phó điện tử của Mỹ, bằng cách cho máy bay
MiG bay bên cạnh B-52 và chuyển tiếp thông tin về độ cao và hướng bay của
chúng cho các đại đội tên lửa. Vì sau đó, các đội hình B-52 bay trên cùng một
đường, độ cao và hướng và các điểm ngoặt như những đội hình lúc đầu, bộ đội
Việt Nam đã theo dõi các đội hình ban đầu và sử dụng các thông số bay đó để
phóng các hàng rào tên lửa vào các đội hình sau này mà không cần cho ra-đa của
họ hoạt động.
CHIẾN THUẬT CỦA MÁY BAY MIG
Mặc dù tốc độ chậm hơn nhiều so với các máy bay F-4 của Mỹ bay bảo vệ máy
bay tiêm kích-bom, song máy bay MiG-17 có ưu thế về khả năng cơ động và là
mối đe doạ thật sự. Máy bay MiG-17 bay ở độ cao thấp, nên khi máy bay Mỹ sử
dụng tên lửa không đối không tiến công chúng, các hiện tượng nhiễu trên mặt đất
sẽ làm rối loạn sự dẫn đường của các tên lửa không đối không của Mỹ. MiG-21


thường hoạt động ở độ cao lớn, do vậy ra-đa thám sát điều khiển trên mặt đất

Trong bài viết trên tạp chí "Quốc phòng" (Pháp) tháng 4 năm 1999, tướng Becna Đơ Brêt-xy (Bernard de Bressy) cho rằng:
"Mỹ còn chưa thực sự quên thất bại của họ ở Việt Nam. Chẳng phải vì tổn
thất của họ đặc biệt nặng nề (theo tỷ lệ dân số, tổn thất không bằng 1/2 tổn thất của


Pháp ở Đông Dương từ năm 1946 đến 1954) mà vì nó là một sự nghiệp thất bại,
điều chưa từng thấy trong lịch sử Mỹ.
Các phương tiện thông tin đại chúng như điện ảnh đã khai thác hết mức những
điều thực sự diễn ra: Hội chứng Việt Nam đã phá hoại dư luận Mỹ. Vì vậy chỉ cần
một xe tải chất nổ làm 243 người chết ở Bây-rut năm 1983 đã làm cho Mỹ rời khỏi
Li-băng. Và chỉ 29 người chết mà trong đó 18 người trong chỉ 1 ngày vào đầu
tháng 10 năm 1993 đã làm cho Mỹ bỏ rơi Xô-ma-li”.
Thiệt hại của Mỹ trong các cuộc xung đột khác nhau gần đây:
Tên nước
Việt Nam

Năm
1961-75

Số chết

Số bị thương

58.148
(47.364 trong chiến đấu)

304.000

260
Li-băng

Giáo sư WILLIAMSON MURRAY
(Đại tá không quân về hưu)
trong bài "The Emerging Strategic Environment: An Historian's Thoughts",
“Strategic Review", 1999, No1 (Đông).
Chúng ta có thể sử dụng "ý chí" và "tình báo" để phân tích kết quả trong chiến
tranh Việt Nam. Đầu tiên, Việt cộng và Bắc Việt Nam có thuận lợi về ý chí vì họ
đã chiến đấu dưới hình thức này hay hình thức khác trong hơn 20 năm trước khi
người Mỹ can dự cuộc chiến và họ không sẵn sàng chấp nhận bất kỳ điều gì ngoài
thắng lợi hoàn toàn. Mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam có thể coi là mơ hồ. Thứ hai là Việt
cộng và Bắc Việt Nam cũng có thuận lợi về tình báo. Những nhà lãnh đạo của họ hiểu
rõ đất nước, văn hoá, ngôn ngữ và họ có học thuyết quân sự về chiến tranh cách
mạng. Mỹ hiểu quá ít.
Cuối cùng là sức mạnh. Trong toàn bộ cuộc chiến, chúng ta coi Mỹ "mạnh
hơn" trong cuộc xung đột với Cộng sản Việt Nam. Nhưng nếu chúng ta xem xét
sức mạnh của cả hai phía thì sẽ thấy một bức tranh khác nổi lên. Trước tiên, sức
mạnh quân sự của Mỹ không có ý nghĩa gì nhiều; điều quan trọng là sức mạnh đó
được sử dụng bao nhiêu ở Đông Nam Á. Mỹ có 3 triệu người mặc quân phục trong
chiến tranh nhưng chỉ khoảng 626.000 người ở Đông Nam Á vào lúc cao điểm của
cuộc chiến. Mỹ có hoả lực hạt nhân khổng lồ nhưng về mặt chính trị không thể sử
dụng được ở Việt Nam. Mỹ có ưu thế trên không và hoả lực khủng khiếp nhưng
hai yếu tố này bị hạn chế về hiệu quả. Thứ hai, các binh sĩ trang bị nhẹ, cơ động
nhanh của đối phương không phải là mục tiêu tốt cho ném bom qui ước. Về phía
mình, Mỹ có một đội quân rất lớn của Việt Nam Cộng hoà, nhưng tổ chức này
cũng được Mỹ trang bị, huấn luyện theo kiểu Mỹ. Một khi các yếu tố này được
xem xét, sức mạnh của đối phương thực sự ngang tài ngang sức hơn người ta
tưởng.


HUBERT P. VAN TUYLL
trong cuốn America's Strategic Future, Connecticut, Green Wood Press, 1998.

tranh Việt Nam. Đối với nhiều dân thường, cả người Mỹ nói chung và các chính trị
gia ở Oa-sinh-tơn nói riêng, "bài học" đầu tiên của Việt Nam là phải thận trọng khi
dính líu vào bất kỳ một cuộc chiến tranh hay cuộc xung đột nào ở nước ngoài. Đối
với tôi, có một bài học nữa, đó là Mỹ cần phải nghiên cứu thật kỹ các nước khác,
đặc biệt là lịch sử và nền văn hoá của họ trước khi tham chiến để Mỹ biết được
những gì mà Mỹ phải thực sự đương đầu và những gì Mỹ có thể đạt được. Nếu Mỹ
hiểu rằng Việt Nam là một dân tộc tự hào với 50 triệu dân và một lịch sử lâu dài
đấu tranh giành độc lập từ các nước lớn hơn như Trung Quốc, Nhật Bản và Pháp
thì Mỹ có thể cân nhắc kỹ hơn khi dính líu vào Việt Nam.


Trích "Trả lời phỏng vấn" của phóng viên FOX BUTTERFIELD, đã từng
thường trú tại Việt Nam trong những năm 1971-1975 về cuộc chiến tranh Việt
Nam đăng trên mạng điện tử báo
"The New York Times".




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status