Tài liệu tham khảo văn học địa phương tỉnh yên bái - Pdf 15

Gợi ý tìm hiểu một số bài thơ Yên Bái
Đêm Mờng Lò
"Đêm Mờng Lò
Trăng đang lên dần
Vào đi anh !
Tay cầm tay múa xoè cùng em.
Đừng sợ say
Đây tay ngà
Chén em dâng đầy
Chén đã dâng đầy
Dập dìu chân chàng
Dập dìu chân em
Ta tan dần trong vòng quay.
Kìa hội vui
Vào đây anh !
Đừng để em cô đơn một mình
Đêm Mờng Lò
Trăng dâng đầy
Đôi tay ngà đón chờ ngời ơi !
Vào đi anh
Xoè đi anh
Đêm không tàn
Sơng dâng mờ
Mai xa rồi
Trăng Mờng Lò anh mang về xuôi.
Mờng Lò 9/1
I/ nét về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bài thơ:
Tác giả Vũ Quý tên khai sinh Vũ Văn Quý, sinh năm 1952, quê Nam Định,
tốt nghiệp đại học s phạm lên dạy học ở Yên Bái. Anh dạy học, làm thơ, viết truyện
và viết báo, là hội viên Hội văn học nghệ thuật Yên Bái, hội viên Hội nhà báo Việt
Nam. Hiện là biên tập viên của tạp chí Văn nghệ Yên Bái. Vũ Quý đã nhiều năm

Khổ 3, khổ 4: Vòng xoè đã trở thành hội vui đặc biệt là với những ngời trẻ
tuổi. Tình yêu trong trắng hồn nhiên cũng bắt đầu từ đó. Sự giao cảm giữa con ngời
với con ngời trong một không gian đầy thiên nhiên - trữ tình và hoành tráng. Đó là
một nét độc đáo về tình cảm của con ngời miền núi nói chung và đồng bào Thái
Nghĩa Lộ, Văn Chấn nói riêng.
Bài thơ có cái đẹp của hình và nhạc. Cô gái Mờng Lò "Đôi tay ngà", "Chân
dập dìu"lời mời gọi hồn nhiên chân tình duyên dáng và mãnh liệt. Thiên nhiên trữ
tình: "Trăng dâng đầy/Sơng dâng mờ/ Đêm không tàn".Thiên nhiên vừa tạo nên một
không gian trữ tình, huyền ảo, bí ẩn làm nền cho đêm xoè, vừa đồng nhất để tôn vẻ
đẹp của cô gái Mờng Lò. "Đôi tay ngà"cũng là ngà ngọc của trăng và đều làm say
lòng ngời nh uống chén rợu - mà thực ra đó cũng là rợu rồi(!) Xây dựng những hình
ảnh này Vũ Quý không tả mà chỉ gợi; chính vì gợi nên anh mới nói đợc nhiều về vẻ
đẹp ấy, vẻ đẹp huyền ảo, lung linh và thẳm sâu
Về nhạc điệu: mở đầu các khổ thơ đều là những câu thơ 3 chữ, trong mỗi khổ
thơ có sự luân phiên đều đặn các câu thơ ngắn, dài, các câu thơ có cấu trúc song
hành, đối xứng (Dập dìu chân chàng/Dập dìu chân em ) ở đây nhịp điệu ngôn ngữ
đã tạo nên chất nhạc cho bài thơ. Đó là nhạc điệu của trái tim tuổi trẻ, nhạc điệu của
múa xoè rộn ràng, tng bừng nhng lại rất lắng dịu, êm ái và luyến láy.
Nhân vật trữ tình có lúc hoá thân vào cô gái Mờng Lò, có lúc lại xuất hiện với
t cách ngời lữ khách đầy đắm say tạo nên một sự song trùng chủ thể để diễn đạt
những cảm xúc trữ tình của con ngời khi đă bớc vào vòng xoè.
Đọc "Đêm Mờng Lò" của Vũ Quý vừa cảm nhận đợc một nét đẹp văn hoá
của ngời Thái Nghĩa Lộ, vừa cảm nhận đợc một hồn thơ giàu tính trữ tình gắn bó
với quê hơng và một kỹ thuật làm thơ khá tinh xảo. Bài thơ xứng đáng có mặt trong
tủ sách văn học địa phơng của các nhà trờng Yên Bái.
Nguyễn Hiền Lơng
Khau phạ
Ngọc Loan
Khau Phạ
chiều nay

không gian tự nhiên trở thành một không gian nghệ thuật. Đất trời liền nhau nh
trong một mặt phẳng. Màu sắc của tạo hoá trở thành mằu sắc của hoạ sĩ. Một bức
tranh niều màu sắc: màu xanh của núi, của trời; màu trắng, hồng, tím của mây trời,
màu vàng tơi của nắng chiều. Một bức tranh vừa có chiều cao với nhiều tầng bậc (d-
ới chân là ruộng, lng đồi là nơng, trên đỉnh núi là những con đờng mờ ảo trong mây,
những đàn ngựa nhởn nhơ về bản) vừa có chiều rộng (trập trùng cao thấp ). Những
cảnh vật trong bức tranh ấy là "Ruộng" là "nơng" là "đàn ngựa", là "cầu vồng bảy
sắc" vừa gợi lên một không gian núi rừng, làng bản của ngời H'Mông, mang những
đặc trng của ngời H'Mông vừa thể hiện cuộc sống ấm no, tơi vui, sự thay đổi tập
quán sinh hoạt, sản xuất của ngời H'Mông hôm nay, ngời H'Mông theo Đảng, định
canh, định c, trồng lúa trên những thửa ruộng bậc thang. Những hình ảnh thơ ấy nh
những nốt nhạc vui khoẻ trong bản giao hởng hoành tráng của núi rừng và con ngời
Khau Phạ đã có từ ngàn đời và sẽ còn có mãi muôn đời .
Với cái nhìn lãng mạn của thi sĩ tác giả đã tạo nên nhng cặp đối xứng:
- Ruộng trập trùng , lúa chín ơm vàng đối xứng với trời mây
- Đàn ngựa nhởn nhơ đối xứng với mây chiều.
Đó là sự đối xứng giữa cái cụ thể, hữu hạn, trần gian với cái trừu tợng, vô hạn
của không gian vũ trụ, để diễn tả tầm vóc của con ngời, sự kỳ vĩ của con ngời, của
núi rừng. Một thế giới vừa thực lại vừa huyền ảo mang những vẻ đẹp độc đáo, đầy
chất Tây Bắc.
Về nhạc điệu: Sự ngắt dòng, tạo thành những nhịp ngắn, dài đan xen, câu thơ
bậc thang; nhịp thơ đã thể hiện nhịp điệu của bản khèn trữ tình với âm hởng dìu dắt
lúc trầm lắng, lúc dâng cao, lúc ngân dài cũng là nhịp điệu những điệu múa của
chàng trai, cô gái H'Mông trong những ngày hội xuân
Có thể nói bài thơ Khau Phạ có sự cân đối, hài hoà về hình và nhạc. Hình và
nhạc đã tạo chất thơ độc đáo khi viết về cuộc sống con ngời vùng cao.
Nhật vật trữ tình - con ngời thi sĩ Ngọc Loan trớc hết có một cái nhìn đầy
lãng mạn và khoẻ khoắn. Trong thi đàn đã có nhiều bài thơ viết về cảnh đèo đã trở
thành nổi tiếng nh: "Qua đèo Ngang" của bà huyện Thanh Quan, "Đèo Ba Dội" của
Hồ Xuân Hơng. Nhng "Khau phạ" của Ngọc Loan không vì thế mà không có một

I/ Vài nét về tác giả:
Vũ Chấn Nam - Tên khai sinh Vũ Văn Đình, sinh năm 1939 tại Lâm Thao,
Phú Thọ; trình độ chuyên môn: Đại học s phạm; lên dạy học tại Yên Bái từ khi tốt
nghiệp đại học; hiện nghỉ hu sống tại Thành phố Yên Bái. Hội viên hội văn học
nghệ thuật Yên Bái; Huy chơng vì sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.
Tác phẩm chính: Các tập thơ: "Những mùa hoa"; "Mùa hoa phợng"; "Đất
Vua Hùng"; "Sông quê".
Bài thơ "Chiều Tân Phợng" đợc tác giả sáng tác vào năm 1980 nhân một
chuyến đi thăm xã Tân Phợng huyện Lục Yên, một vùng quê có nhiều bà con dân
tộc Dao Đỏ sinh sống.
II/ Gợi ý tìm hiểu bài thơ:
Bài thơ có 3 khổ thơ, đợc cấu tứ theo cảm nhận của ngời lữ khách về thăm
bản Dao Đỏ Tân Phợng.
Khổ 1: Đờng về Tân Phợng. Đó là một con đờng xuyên giữa núi rừng. Tác
giả sử dụng biện pháp trùng điệp ngôn ngữ để diễn tả cái trùng điệp của núi rừng.
Bên cạnh những nét vẽ gân guốc, khoẻ khoắn:"dốc chạm cằm", "ồ ồ con thác dội"
dể diễn tả đèo cao, vực sâu,đầy hiểm nguy nhng cũng rất hùng vĩ của núi rừng miền
Tây Bắc. Nhng đáng chú ý là trong không gian rừng chiều ấy có một hình
ảnh :"Ngựa dồn bớc phăm phăm". Hình ảnh ngựa dồn bớc đă làm cho rừng chiều
sôi động hẳn lên song điều đáng quan tâm là ngời cỡi ngựa. Tuy tác giả không nói
là ai, không tả dù chỉ một nét nhng bạn đọc cũng có thể cảm nhận thấy một sự khoẻ
khoắn, một tâm trạng đầy phấn chấn của con ngời về bản.
Khổ 2 : Bản Dao Tân Phợng. Lúc này đă vào thời điểm chiều tà. Thời điểm
này ở một vùng sơn cớc dễ tạo nên cảm giác buồn vắng.Nhng ở bản Dao Đỏ này thì
lại khác :"Mặt trời đi ngủ muộn", "Lúa kín đồng bậc thang", "Ngô đang kỳ phun
râu", "Tiếng đài vang khắp bản" và "Nồi cơm cời kênh vung".
Những hình ảnh thơ này gợi lên một cuộc sống đầy sinh khí đầy sức sống, sự
no đủ về vật chất, và tơi vui về tinh thần. Tác giả sử dụng lối nói dân gian: "Cơm c-
ời, ngời no" để nhấn mạnh tới một cuộc sống mới đã về với làng Dao xa đói nghèo
lam lũ, đồng thời cũng gợi lên sự hiếu khách của làng Dao.

1998
I/ Vài nét về tác giả:
Nguyễn Đức Long sinh năm 1943, tại Đại Đồng, Yên Bình, Yên Bái. Trình
độ chuyên môn: Cao đẳng s phạm. Dạy học tại huyện Yên Bình; hội viên Hội văn
học nghệ thuật Yên Bái với các bút danh Hoàng Kim Lê, Thu Phơng. Tác phẩm
chính: "Vùng quê hạ lu sông". Tập thơ - xuất bản 1998. Nguyễn Đức Long viết
nhiều thơ về vùng quê của mình, đó là một vùng quê trù phú bên dòng sông Chảy
với lối viết dung dị nhng tràn đầy cảm xúc yêu thơng. Các bài thơ của anh vừa vẽ
lên bức tranh quê hơng vừa hình tợng hoá tâm hồn anh bởi một vẻ đẹp dịu dàng và
chân chất. Bài thơ "Làng ven sông" là một trong những bài thơ nh thế.
II/ Gợi ý tìm hiểu bài thơ:
Nguyễn Đức Long sinh trởng tại Đại Đồng, một làng Việt cổ thuộc Châu Thu
Vật (nay là huyện Yên Bình) . Một vùng đất đẹp và giàu. Cách đây mấy thế kỷ
Nguyễn Hàng - một cao sĩ cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn c tại nơi đây và đã
viết: "Đại Đồng phong cảnh phú" nổi tiếng. Rất tiếc là phần lớn các làng Việt bên
bờ sông Chảy này đã là đáy hồ Thác Bà. Hạ lu sông Chảy nay chỉ còn một đoạn từ
thị trấn Thác Bà qua Hán Đà, Đại Minh về tới Đoan Hùng - Phú Thọ. Nhng cũng
chỉ cần một khúc sông quê ấy thôi cũng đã tạo nên những nguồn cảm hứng bất tận
cho các thi sĩ rồi. Tôi cũng vậy, không hiểu sao mỗi lần về Thác, vừa nhìn thấy con
sông Chảy là lòng tôi lại nôn nao nh vừa chạm vào một cõi linh thiêng. "Làng ven
sông" đợc viết bằng thể thơ 5 chữ, có 5 khổ thơ, mỗi khổ 4 câu, tròn trịa 20 câu thơ,
nh một bức ký hoạ với 20 nét vẽ thanh mảnh có hồn, vẽ nên hình hài vừa cụ thể vừa
huyền ảo của vùng quê hạ lu sông Chảy.
Nói tới các làng mạc ven sông Chảy thì không thể nào không nói tới con sông
Chảy. Sông Chảy trớc đây có tên gọi là Trôi Thuỷ. Một con sông bé và ngắn thôi,
chảy qua địa phận Lào Cai, Yên Bái rồi nhập vào Sông Lô ở phủ Đoan Hùng. Tên
sông cũng bình dị: Sông Chảy. ừ thì sông nào mà chả chảy, nhng sông Chảy không
thể lẫn đợc với bất kể con sông nào và chính nó đã tạo nên hình hài, hồn cốt những
làng mạc ven sông và cả tâm hồn, tính cách của ngời sông Chảy. Có thể nói có một
vùng văn hoá sông Chảy mà ở đó có cả tính chất của :"Sơn" và của "Thuỷ".

Từ xa xa đã có câu ca dao:
" Còn tiền chợ Ngọc, chợ Ngà
Hết tiền thì lại Thác Bà, Thác Ông.
Có thể nói hình ảnh những ngời bè gỗ nứa dài hàng mấy chục mét lợn chảy
theo dòng nớc sông Chảy, là một hình ảnh không thể thiếu nếu ai đó muốn vẽ hình
ảnh con sông này.
Nguyễn Đức Long đã vẽ thật bình dị nhng cũng rất gợi:
Hối hả chuyến bè xuôi
Chở rừng về với biển
Trên sông Chảy hôm nay còn có một nghề mới nữa, đó là nghề nuôi cá lồng,
một kiểu làng nổi, một nhịp sống mới nhng vẫn mang nét bình dị, trữ tình. Nét vẽ
mới nhng lại rất hài hoà với nét vẽ cổ điển của làng ven sông:
"Thuyền chiều đầy cỏ lác
Bến sông bè cá lồng "
Với một sự bình dị: Ngôn ngữ thơ bình dị, hình ảnh thơ bình dị, cho đến cái
"tôi" trữ tình của Nguyễn Đức Long cũng thật bình dị, nhng chính điều đó lại giúp
cho tác giả thể hiện đợc sự bình dị của một vùng quê hạ lu sông Chảy từ quá khứ tới
hiện tại. Ngoại cảnh ấy cũng là tâm cảnh. Đọc bài thơ ta có cảm giác nh đang lúc
nóng bức đợc uống một cốc nớc ma hứng từ những tàu cau, đựng trong những chum
sành, đậy nắp chum bắng những mo cau khô. Thơ ca kể cũng lạ có những cái rất vu
vơ thì lại nói đợc nhiều hơn những cái hiển ngôn.
Nguyễn Hiền Lơng
Đêm trăng Nà hẩu
Bá Khánh
Trăng vàng trên sờn núi
Thững thờ buông lùm cây
Mái nhà sơng giăng nhạt
Lấp loá trời sao đầy.
Xốn xang đờng về bản
Tiếng Sáo luồn trong mây

một cách cảm nhận, khám phá và thể hiện riêng của Bá Khánh. Không thể lẫn với
"Tân Phợng" của Vũ Chấn Nam, "Khau Pạ" của Ngọc Loan, hay "Lên Túc Đán"
của Ngọc Bái.
Khổ 1: Trăng ở Nà Hẩu. Trăng thì chỉ có một trăng là của chung. ánh sáng
trăng thì ở đâu cũng thế. nhng khi ánh sáng ấy chiếu xuống mặt đất, thì lại tạo nên
những vẻ đẹp khác nhau.
Nếu ở đồng bằng ánh trăng thờng gắn với luỹ tre với cánh đồng lúa bát ngát
thì ở Nà Hẩu là:
Trăng vàng trên sờng núi
Thững thờ buông lùm cây.
Thấy "trăng vàng trên sờng núi" là cái nhìn từ xa, thấy trăng "thững thờ buông lùm
cây" là cái nhìn gần. Đêm có trăng, cảnh vật khúc xạ ánh trăng trở nên đẹp hơn. ở
miền núi không thể nào khác là núi rừng và cây cối, tiếc là ở đây thiếu một dòng
suối, hay một con thác đầu nguồn trong ánh trăng. Nhng cứ đòi hỏi thế thì vô cùng
lắm, và biết đâu lại là vô duyên nữa.
Khổ 2, 3: ánh trăng với con ngời. Ngời ở thành phố nhiều khi chỉ biết trăng
qua lịch, nhiều khi vô cảm với trăng còn ngời ở làng quê thì đêm trăng và ánh trăng
là ý nghĩa lắm. Những đêm có trăng khác hẳn với những đêm không trăng. Có một
nhịp sống khác, một không khí khác vào những đêm trăng sáng, và giả dụ nếu vì
một lý do thời tiết nào đó mà vào tuần trăng lại không có trăng sáng thì họ tiếc nuối,
ca cẩm nhiều lắm. ánh trăng với con ngời đồng bằng và miền núi vừa có những
điểm giống nhau, nhng cũng có những độc đáo khác nhau. Bá Khánh đã diễn tả đợc
cái riêng đó ở vùng cao:
Tiếng sáo luồn trong mây
Khèn lá ai gọi bạn
Đàn môi ai tỏ bày
Thanh niên nam nữ ở đâu cũng vậy, những đêm trăng sáng là những đêm hò
hẹn, thổ lộ tình yêu, hoặc chí ít cũng là trò chuyện vui vầy. Nhng ở vùng núi, dân
tộc thì những sự hò hẹn, mời gọi, tỏ bầy ấy có nét riêng. Họ nhờ tiếng sáo, điệu
khèn lá, tiếng đàn môi để nói lên lòng mình. Những nhạc cụ sáo, đàn, khèn mang

một ai, bất cứ ai đợc sống trong một đêm trăng sơn cớc nh thế cũng đều say đắm
đến ngẩn ngơ.
Với lối viết dung di nhng có chiều sâu của cảm xúc, với cái nhìn tinh tế và
giầu chất thơ Bá Khánh đã phần nào lột tả đợc cái thần của đêm trăng trên những
bản làng vùng cao.
Nguyễn Hiền Lơng
Thổ cẩm
Văn Thà
Em ngồi bên khung dệt
Tay đan sợi chỉ hồng
Con thoi đa theo nhịp
Nắng trời tràn mênh mông
Thổ cẩm dài thêm mãi
In vầng trăng lỡi liềm
Cánh hoa văn mầu tím
Núi giăng thành mờ xanh
Suối Thia trào dâng lên
Lúa mợt mà lợn sóng
Đất Mờng Lò nghìn năm
Điệu xoè mời tha thiết
Tay nâng tấm thổ cẩm
Thầm nhó về cha ông
ơn đất trời nhân hậu
ơn tình ngời bao dung
Văn chấn 1999
I/ Vài nét về tác giả:
Tên khai sinh Nguyễn Văn Thà, bút danh Văn Thà, sinh 1953 tại Hà Tây,
trình độ chuyên môn: Cao đẳng s phạm. Hội viên Hội văn học nghệ thuật Yên Bái.
Tác phẩm chính: Cô gái Mờng Lò (Tập thơ NXBVHDT)
Văn Thà đã nhiều năm dạy học tại Than Uyên, Văn Chấn. Cuộc đời dạy học và

đôi bàn tay mềm mại khéo léo đã tạo nên màu sắc, đờng nét hoa văn trên từng
vuông thổ cẩm. Thổ cẩm không phải chỉ đệp ở màu, ở sắc, ở hình, ở nét mà thổ cẩm
đẹp vì nó toát lên hồn sông , hồn núi và hồn con ngời miền núi.
Chính vì vậy mà tác giả đã kết bài thơ bằng cảm xúc:
Tay nâng tấm thổ cẩm
Thầm nhớ về cho ông
ơn đất trời nhân hậu
ơn tình ngời bao dung.
Cảm xúc này của Văn Thà không phải là cảm xúc của ngời lữ khách trầm trồ
trớc vẻ đẹp của thổ cẩm - muốn có một mảnh thổ cẩm làm kỷ niệm hay làm quà cho
ngời thân mà là cảm xúc của ngời trong cuộc. Có nh vậy mới thấy đợc đất trời nhân
hậu, tình ngời bao dung, và những sáng tạo văn hoá đã có từ lâu đời lặn chìm trong
từng vuông thổ cẩm.
Nguyễn Hiền Lơng
Lên Túc Đán
Ngọc Bái
Chọn ngày cuối năm lên Túc Đán
Thử xem tết nhất của ngời Mông
Dốc cao thăm thẳm vẫn còn dốc
Ma nhẹ trời buông lạnh nh không.
Ngời Mông "lù cở" đầy chất ngọn
Chợ xa mua sắm cũng chỉ vừa
Vất vả quanh năm chân đạp núi
Cỏ cây phóng túng gió mây thừa.
Quanh bếp lửa hồng ngồi vui chuyện
Bánh dầy thịt nớng chỉ vậy thôi
Ngày thờng đã rợu tết càng rợu
Đợc chúc mừng nhau đủ vui rồi.
Đêm xuống tiếng rừng làm bầu bạn
Khèn khuya vắt vẻo lng sờn non

thơ để giới thiệu về Ngọc Bái quả là không thể đủ, nhất là cha phải đó đã là một bài
thơ hay nhất của anh. Nhng biết làm sao đợc, vì anh bao giờ cũng thích bình đẳng
với mọi ngời bạn dù anh xứng đáng là một cột cờ. Vả lại, do yêu cầu của nhà trờng
cần phải giới thiệu một bài thơ hay viết về Trạm Tấu và "Lên Túc Đán" đã thoả mãn
đợc yêu cầu đó.
II/ Gợi ý tìm hiểu bài thơ:
"Lên Túc Đán" đợc viết bằng thể thơ 7 chữ, có cái nền tự sự là kể lại một
chuyến lên Túc Đán vào dịp tết Mông (Ngời Mông ăn tết sớm hơn tết Nguyên Đán
của ngời Kinh; tết Mông vào dịp đầu tháng Chạp, đó là lúc mùa cũ đã xong, chuẩn
bị bớc vào mùa mới, phải ăn tết để kịp vào mùa. Đồng bào có kinh nghiệm xem hoa
Tớ dảy (hoa đào rừng) nếu hoa mới nở lác đác vài bông là chuẩn bị có ma xuân,
phải bắt đầu vụ mới ngay, nếu hoa Tớ dảy đã nở rộ là lo muộn, sợ làm không đợc
ăn. Song tự sự chỉ là cái nền, trên cái nền sự việc ấy nhà thơ đã thể hiện cảnh vật và
cuộc sống tinh thần, văn hoá, tính cách của ngời Mông.
Túc Đán là một xã thuộc huyện vùng cao Trạm Tấu, ở đó có 100% dân c là
ngời Mông, làng bản của họ trên những sờn núi, nhng lng dốc; ở đó sinh hoạt tinh
thần vẫn mang đậm chất văn hoá của dân tộc Mông. Cho nên nói về Túc Đán cũng
có nghĩa là nói về ngời Mông nói riêng và cả miền Tây Bắc hùng vĩ và trữ tình nói
chung.
Xét về kết cấu: Bài thơ có 6 khổ thơ, nếu tách riêng mỗi khổ đã đứng thành
một bài thất ngôn tứ tuyệt, nếu ghép hai khổ lại đợc một bài bát cú, còn nếu ghép cả
6 khổ sẽ là một bài trờng thiên. Trờng thiên nhng vẫn có một kết cấu khá chặt nh
kiểu kết cầu 4 phần: Đề, thực, luận, kết của một bài thơ theo luật đờng.
- Khổ 1 (đề) giới thiệu về không gian, thời gian
- Khổ 2, 3 (Thực) nói về cảnh sắc
- Khổ 4, 5 (Luận) nói về con ngời.
- Khổ 6 (Kết) gói ý toàn bài và mở ra nhiều liên tởng, suy ngẫm
Bây giờ ta lần lợt đi theo bớc đi của tác giả mà xem xét từng khổ thơ.
Khổ 1: Thời điểm nhà thơ đến với Túc Đán là cuối năm, là tết Mông (tức là
vào khoảng đầu tháng Chạp,( ở một số vùng Mông bà con vẫn có tục ăn tết gần cả

thơ nên nó chỉ cần vài ba hình ảnh. "Lù cở đầy chất ngọn", cái "Lù cở" một vật
dụng đan bằng tre nứa, dùng để gùi hàng, đeo lù cở cũng giống nh đeo ba lô. Lù cở
gắn bó mật thiết với cuộc sống của ngời Mông. Ra khỏi nhà đi nơng, đi chợ đều có
cái lù cở trên lng. Ngày thờng nó đựng lúa, đựng ngô, đựng rau còn ngày tết thì nó
đựng hàng tết mua từ chợ huyện về. Hình ảnh "Lù cở đầy chất ngọn" cho thấy sắm
tết nh thế cũng khá, ăn tết nh thế cũng to. Nhng cả cái tết của một gia đình "cõng"
đợc ở trên lng, vì:"Chợ xa mua sắm cũng chỉ vừa".
Tôi thích câu thơ: " Vất vả quanh năm chân đạp núi
Cỏ cây phóng túng gió mây thừa"
Nó không chỉ nói cái ý vất vả quanh năm rồi giờ tết về là lúc nghỉ ngơi, vui chơi, ăn
tết. Tôi thích vì những hình ảnh: "Chân đạp núi", "Cỏ cây phóng túng", "Gió mây
thừa" nó gợi lên nhiều về cuộc sống, về tính cách của ngời Mông. Và đây nữa
không khí của một cái tết Mông:
Quanh bếp lửa hồng ngồi vui chuyện
Bánh dầy thịt nớng chỉ vậy thôi
Ngày thờng đã rợu tết càng rợu
Đợc chúc mừng nhau đủ vui rồi.
Vật chất đâu phải là "sơn hào, hải vị", chỉ bánh dầy, thịt nớng. ăn uống ngày
tết cũng có khác ngày thờng là mấy; tơi hơn, nhiều hơn một chút, "rợu" hơn một
chút nhng vẫn là "quanh bếp lửa hồng"; song nó vẫn có một không khí khác, đó là
không khí tết, đó là: "Đợc chúc mừng nhau đủ vui rồi". Thì ra là vậy tết đến đâu chỉ
là chuyện ăn chuyện uống. Tết đến là đem một không khí tinh thần khác, ngời ta
nhớ, nhớ về cội nguồn, tổ tiên, quá khứ; ngời ta mong, mong những điều tốt lành,
ngời ta chúc, chúc những điều may mắn. Điều ấy giản dị nh ánh lửa, mà cũng bền
vững thiêng liêng nh ánh lửa. Dân tộc nào mà chả có ngọn lửa thiêng ấy.
Những ngời già cả thì hay ngồi bên bếp lửa nh vậy, còn những ngời trẻ tuổi
thì tết còn là ngày hội của tình yêu:
Khèn khuya vắt vẻo lng sờn non
Chừng nh núi cũng say tình tự
Thu cả vùng cao vào câu hát

"Thu cả vùng cao vào câu hát
Gập ghềnh đồi núi cũng hồn nhiên".
Chính tiếng hát tình yêu trong ngày xuân, làm cho đất trời thêm xuân, cho
con ngời thêm yêu cuộc sống, vì họ đã hát những lời:
Hát không hát lời nặng
Hát không hát tiếng đau
Hát để ngời già không ghét
Hát theo đờng vui, không hát đờng buồn
(Dân ca Mông)
ở đây cảnh đất trời trong mùa xuân cũng thật diệu huyền. Mùa xuân không
chỉ con ngời biết giao cảm mà vạn vật cũng biết giao cảm với nhau:
Chừng nh núi cũng say tình tự
Thỉnh thoảng sơng rơi động góc vờn.
Khi thể hiện cảnh vật và con ngời vùng cao, Ngọc Bái có nhiều sáng tạo:
"Khèn khuya vắt vẻo", "Núi say tình tự", "Thu cả vùng cao vào câu hát". Nhờ đó mà
tiếng khèn, câu hát có hồn hơn.
Khổ thơ kết bài:
Có gì níu chân ngời Túc Đán
Nào có còn đâu những bóng đa
Lau trắng giăng ngang nơng lúa cũ
Vẫn một vầng mây mấy nóc nhà.
"Nào có còn đâu những bóng đa", tiếng Mông "Túc Đán" có nghĩa là "đa", những
cây đa. Lên Túc Đán hôm nay không còn thấy "đa" nhng lại vẫn là:
Lau trắng giăng ngang nơng lúa cũ
Vẫn một vầng mây mấy nóc nhà.
Cuộc sống đúng là đã có những đổi thay nhng cũng còn nhiều cái cha đổi
thay. Túc Đán hôm nay đã có một gơng mặt mới rồi, khác rồi nhng mới chỉ khác
thôi, còn thiếu thốn lắm, còn cần nhiều thứ lắm. "Có gì níu chân ngời Túc Đán" ?
Cả khổ thơ là một sự bùi ngùi chia sẻ của nhà thơ. ừ thì cuộc sống cũng có cái phải
níu giữ lại đó là những bản sắc văn hoá nhng cũng cần phải đa những bản sắc ấy lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status