Header Page 1 of 126.
LUẬN VĂN:
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Hưng Yên
trong thời gian tới
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
Lời mở đầu
Đầu tư phát triển là một hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Nhiều học giả đã nhận định đầu tư là chìa khoá của sự tăng
trưởng kinh tế. Đầu tư tác động đến mọi mặt của nền kinh tế. Để phát triển kinh tế không
thể thiếu đầu tư.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển, trong việc tạo ra các
tài sản cố định, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh dịch vụ cho nền kinh tế.
Hưng Yên là một tỉnh mới được tái lập ngày (1/1/1997) được sự quan tâm của Nhà
nước, sự lỗ lực và cán bộ và nhân dân trong tỉnh trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận
lợi thu hút nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế. Đặc biệt là hoạt động đầu tư xây
dựng cơ bản. Thời gian qua tỉnh Hưng Yên đã đạt được một số thành tựu nhất định trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội nhưng bên cạnh đó lĩnh vực này cũng bộc lộ những mặt
hạn chế. Do vậy để nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung và đầu tư xây dựng cơ bản nói
riêng trong những năm tới, em xin chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới"
Đề tài này ngoài phần mở đầu và kết luận còn nội dung chia làm ba phần.
Chương I: Tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản .
Chương II: Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản Hưng Yên giai đoạn 1997-2000.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản trong
Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế,
xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài
sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định.
Các hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng cơ bản :
- Khảo sát thiết kế: Đây là hoạt động có chức năng mô tả hình dáng kiến trúc, và
nội dung kỹ thuật, nội dung kinh tế của công trình. Đây là khâu đầu tiên trong xây dựng cơ
bản.
- Xây lắp là hoạt động trực tiếp tạo ra các sản phẩm xây dựng cơ bản bao gồm; nhà
cửa, vật kiến trúc, công tác lắp đặt máy móc thiết bị, công tác sủa chữa lớn nhà cửa vật
kiến trúc, công tác thăm dò, khảo sát phát sinh trong quá trình thi công.
- Mua sắm máy móc thiết bị:
Đây là công tác mua sắm máy móc, dụng cụ cho sản xuất nghiên cứu hoặc thí
nghiệm.
2
Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản .
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó cũng
mang những đặc điểm của đầu tư phát triển.
Thứ nhất: Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi một khối lượng vốn, lao
động, vật tư lớn. Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Vì vậy trong
Footer Page 3 of 126.
Header Page 4 of 126.
quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý
đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công
trình hoàn thành trong thời gian ngắn, tránh lãng phí nguồn lực.
Header Page 5 of 126.
thuật, chính trị xã hội, an ninh quốc phòng... Những tác động chủ yếu của đầu tư xây dựng
cơ bản trên góc độ sau:
3.1.
Trên góc độ vĩ mô.
3.1.1. Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến tổng cung và tổng cầu.
- Về mặt tổng cầu:
Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các tác nhân của nền kinh tế sẽ
sử dụng tương ứng với một mức giá cả đã cho trong một thời kỳ nhất định.
Hàm tổng cầu được mô tả dưới dạng sau:
AD = C+I+G+X-IM
Trong đó: AD: là tổng cầu của nền kinh tế
C:
là tiêu dùng của dân cư
G:
là tiêu dùng của chính phủ
X, IM: là giá trị xuất nhập khẩu
I:
là đầu tư
AD
P0
AS
E1
AS’
E0
P2
E2
Q0
Q1
Q2
Trên hình vẽ cho thấy khi (K) tăng lên sẽ làm cho AS dịch chuyển sang phải AS’, giá
cả giảm xuống từ P1 đến P2. Giá cả giảm cho phép tiêu dùng tăng, tăng tiêu dùng lại kích
thích sản xuất phát triển. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản dể tăng tích luỹ, phát triển
kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động nâng cao đời sống của mọi thành viên
trong xã hội.
3.1.2.
Đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Đầu tư tác động đến sự mất cân đối của ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế. Kinh
Nếu ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. ICOR
phản ánh hiệu quả đầu tư. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như cơ cấu kinh tế, các
chính sách kinh tế xã hội. ở các nước phát triển, ICOR thường lớn (5-7) do thừa vốn, thiếu
lao động, do sử dụng công nghệ có giá trị cao, còn ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ
2-3 do thiếu vốn, thừa lao động để thay thế cho vốn, sử dụng công nghệ kém hiện đại giá rẻ.
3.1.4.
Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế .
Tác động trực tiếp nàyđã làm cho tổng tài sản của nền kinh tế quốc dân không ngừng
được gia tăng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thuỷ
lợi, các công trình công cộng khác, nhờ vậy mà năng lực sản xuất của các đơn vị kinh tế
không ngừng được nâng cao. Sự tác động này có tính dây chuyền của những hoạt động kinh
tế nhờ đầu tư xây dựng cơ bản. Chẳng hạn như chúng ta đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông điện nước của một khu công nghiệp nào đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành
phần kinh tế sẽ đầu tư mạnh hơn vì thế sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nhanh hơn.
Footer Page 7 of 126.
Header Page 8 of 126.
3.1.5.
Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của
đất nước.
Có hai con đường để phát triển khoa học công nghệ, đó là tự nghiên cứu phát minh ra
Trên góc độ vi mô.
Footer Page 8 of 126.
Header Page 9 of 126.
3.2.1.
Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của các
đơn vị sản xuất kinh doanh.
Để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh của mình thì các Doanh nghiệp
cần tạo dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng mua sắm, lắp
đặt máy móc thiết bị trên nền bệ và thực hiện chi phí thường xuyên khác gắn liền với sự
hoạt động của cơ sở. Đối với các cơ sở xây dựng mới, còn đối với đơn vị có cơ sở vật chất
kỹ thuật lạc hậu, hư hỏng, để duy trì được hoạt động bình thường thì cần phải cải tạo sửa
chữa, thay mới cho thích ứng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của
nền sản xuất xã hội.
3.2.2.
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có tác động làm tăng cường khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trường quy luật cung cầu, quy luật giá trị,... Đây là những quy luật
thống trị nền kinh tế. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thì việc tạo ra sản phẩm có chất
lượng cao, mẫu mã đẹp để tăng khả năng cạnh tranh với các đơn vị kinh doanh khác thì chủ
thể kinh tế phải có chiến lược đầu tư thích đáng vào việc hiện đại hoá công nghệ, máy móc
nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của
nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư.
Vậy vốn đầu tư là gì? Đó chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào
sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới
cho nền sản xuất xã hội.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư,
bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị,
và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
2. Nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản .
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau:
Vốn đầu tư được hình thành từ các nguồn trong nước. Đây là nguồn vốn có vai trò
quyết định tới sự phát triển kinh tế của đất nước. Nguồn này chiếm tỉ trọng lớn nó bao gồm
từ các nguồn sau.
- Vốn ngân sách Nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương,
được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản và một số nguồn khác
dành cho đầu tư xây dựng cơ bản .
- Vốn tín dụng đầu tư (do ngân hàng đầu tư phát triển và quỹ hỗ trợ phát triển quản
lý bao gồm vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế và các tầng
lớp dân cư trong nước dưới các hình thức, vốn vay dài hạn của các tổ chức tài chính tín
dụng quốc tế và người Việt nam ở nước ngoài.
- Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế .
Vốn nước ngoài: Nguồn này có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguồn này bao gồm:
Footer Page 10 of 126.
Header Page 11 of 126.
Header Page 12 of 126.
Tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ
bản thành các tiêu thức khác nhau. Nhưng nhìn chung các cách phân loại này đều phục vụ
cho công tác quản lý tốt hơn đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Ta có thể xem xét một số cách phân loại sau đây:
Theo nguồn vốn: Gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư, vốn của các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; vốn vay nước ngoài, vốn hợp tác liên doanh với nước
ngoài, vốn của dân.
Theo cách này chúng ta thấy được mức độ đã huy động của từng nguồn vốn, vai trò
của từng nguồn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và sử dụng nguồn vốn cho đầu tư
xây dựng cơ bản có hiệu quả hơn.
Theo hình thức đầu tư: gồm vốn đầu tư xây dựng mới, vốn đầu tư khôi phục, vốn
đầu tư mở rộng đổi mới trang thiết bị. theo cách này cho ta thấy cần phải có kế hoạch bố trí
nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế và
tương lai phát triển của các ngành của các cơ sở.
Theo nội dung kinh tế :
- Vốn cho xây dựng, lắp đặt.
- Vốn cho mua sắm máy móc thiết bị.
- Vốn kiến thiết cơ bản khác.
Như vậy hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói
riêng. Để phân tích cụ thể vai trò hoạt động này chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu phản ánh
kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
III.
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản .
thành.
Ivc= Qxi.Pi + Cin + W
Trong đó:
Qxi là khối lượng công tác xây dựng hoàn thành.
Pi là đơn giá dự toán.
Cin là chi phí chung.
W là lãi định mức.
Khối lượng công tác hoàn thành phải đạt các tiêu chuẩn sau:
* Khối lượng này phải có trong thiết kế dự toán, đã được phê duyệt phù hợp với tiến
độ thi công.
* Đã cấu tạo vào thực thể công trình.
Footer Page 13 of 126.
Header Page 14 of 126.
* Đã đảm bảo chất lượng quy định.
* Đã hoàn thành đến giai đoạn hoàn thành quy ước ghi trong tiến độ đầu tư .
* Được cơ quan tài chính chấp nhận thanh toán.
Đối với công tác lắp đặt máy móc, thiết bị: Phương pháp tính khối lượnng vốn đầu tư
thực hiện cũng tính tưng tự như đối với công tác xây dựng.
Ivl = Qli.Pi + Cin + W
- Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy móc máy
móc cần lắp, được xác định bằng giá mua cộng với chi phí vận chuyển đến địa điểm tiếp
nhận, chi phí bảo quản cho đến khi giao lắp từng bộ phận (đối với thiết bi lắp phức tạp)
hoặc cả chiếc máy đối với thiết bị lắp giản đơn. Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác
mua sắm trang thiết bị máy móc cần lắp được xác định giá mua cộng với chi phí vận chuỷên
là sản phẩm cuối cùng của công cuộc đầu tư xây dựng cơ bản, được thể hiện qua hai hình
thái giá trị và hiện vật.
- Đối với chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật như (số lượng nhà ở, bệnh viện, trường
học, nhà máy...). Công suất hoặc năng lực phát huy tác dụng của các tài sản cố định được
huy động (số căn hộ số m2 nhà ở, số giường nằm của bệnh viện, số km đường giao thông .
Để đánh giá toàn diện của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản chúng ta không những
dùng chỉ tiêu kết quả mà chúng ta phải sử dụng chỉ tiêu hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng
cơ bản.
2.
Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Tuỳ vào cấp độ quản lý và mục đích sử dụng các kết quả để tính toán trong đầu , cho
nên cần phải phân biệt hiệu qủa tài chính hay hiệu quả kinh tế - xã hội . Hiệu quả hoạt động
đầu tư xây dựng cơ bản có thể được phản ánh ở hai góc độ:
Dưới góc độ vi mô hiệu quả là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra của dự
án, đó chính là lợi nhuận mà dự án mang lại. Lợi nhuận là động lực hấp dẫn nhất của chủ
đầu tư .
Hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản dưới góc độ vĩ mô được hiểu như sau: Hiệu
quả đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là tỷ lệ giữa thu nhập quốc dân so
với mức vốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vật chất hoặc mức vốn đáp ứng được nhiệm vụ
kinh tế xã hội, chính trị.
Các kết quả thực hiện đầu tư
Hiệu quả
=
Tổng vốn đầu tư thực hiện
Đây là chỉ tiêu tổng quát phản ánh ảnh hưởng sự đầu tư xây dựng cơ bản tới nền
NPV
=
x
(Bi- Ci )
(1+r)i
NPV: Thu nhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản
chi phí của cả đời dự án, nó phản ánh quy mô lãi của cả đời dự án.
Bi : là thu nhập năm thứ i của dự án đầu tư .
Ci : là chi phí của dự án vào năm thứ i
Dự án được chấp nhận khi NPV> 0
2.3.
Hệ số hoàn vốn nội bộ ( IRR).
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của vốn đầu tư. Nó là mức lãi suất mà khi
dùng nó để tính chuyển các khoản tiền phát sinh về cùng mặt bằng hiện tại thì tổng số thu
bằng tổng số chi. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
IRR =
r1
+
Wpv: Lợi nhuận bình quân cả đời dự án
2.5.
Điểm hoà vốn:
Là điểm mà tại đó mà doanh thu từ bán hàng bằng các khoản chi phí phải bỏ ra
f
x
=
p-v
Trong đó: x là điểm hoà vốn của dự án
f: là tổng định phí
p: là giá bán cho một đơn vị sản phẩm
v: là biến phí cho một đơn vị sản phẩm
Ta có thể mô tả điểm hoà vốn bằng đồ thị sau:
O: đây là điểm hoà vốn của dự án
A: là điểm chưa thu hồi đủ vốn
B: là điểm dự án đã mang lại lợi nhuận
Footer Page 17 of 126.
Header Page 18 of 126.
P
B
O
A
Header Page 19 of 126.
Khi phân tích hiệu quả kinh tế xã hội phải tính đầy đủ các khoản thu chi, xem xét và
điều chỉnh các khoản thu chi mang tính chuyển khoản, những tác động dây chuyền nhằm
phản ánh đúng những tác động của dự án.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án đầu tư xem xét ở tầm vĩ mô.
-
Giá trị gia tăng ròng ký hiệu là NVA.
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư. NVA là mức
chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào (đầu vào chỉ tính chi phí vật chất không tính
chi phí về lao động)
NVA = O – (MI + Iv)
O: Giá trị đầu ra.
MI: Chi phí thường xuyên.
Iv :Vốn đầu tư ban đầu.
- Chỉ tiêu lao động có việc làm của dự án: Được tính bằng số lao động trực tiếp trong
dự án cộng với số lao động tăng thêm của các dự án có liên quan trừ đi số lao động bị mất
tại các dự án.
- Mức tiết kiệm ngoại tệ: Để tính chỉ tiêu này chúng ta phải tính được các khoản thu
chi ngoai tệ của dự án và các dự án liên đới, cùng với số ngoại tệ tiết kiệm được do sản
xuất thay thế hàng xuất khẩu, sau đó quy đồng tiền về cùng mặt bằng thời gian để tính được
số ngoại tệ do tiết kiệm từ dự án.
- Chỉ tiêu giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư (những người có vốn hưởng lợi tức,
những ngời làm công ăn lương , Nhà nước thu thuế...). Chỉ tiêu này phản ánh các tác động
điều tiết thu nhập giữa các nhóm dân cư hoặc các vùng lãnh thổ. Để xác định chỉ tiêu này,
trước hết phải xác định được nhóm dân cư hợc vùng lãnh thổ được phân phối giá trị tăng
thêm (NNVA giá trị thu nhập thuần thuý quốc gia) của dự án, tiếp đến xác định được phần
giá trị tăng thêm do dự án tạo ra mà nhóm dân cư hoặc vùng lãnh thổ thu được. Cuối cùng
tính chỉ tiêu tỷ lệ gia tăng của mỗi nhóm dân cư hoặc mỗi vùng lãnh thổ thu được trong tổng
Đặc điểm tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội
1. Đặc điểm tự nhiên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng, được tái lập từ 01/01/1997, nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải
Dương). Đặc điểm tự nhiên không có biển và đồi núi tiếp giáp với 6 tỉnh là: Nà Nội. Hà
Tây, Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương. Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính, 9 huyện (Kim
Động, Mỹ Hào, Văn Giang, Văn Lâm, Khoái Châu, Phủ Cừ, Tiên Lữ, Yên Mỹ), một thị xã.
Thị xã Hưng Yên là một trung tâm văn hoá, chính trị của tỉnh đã từng vang tiếng một thời
“thứ nhất kinh kỳ thứ nhì Phố Hiến”. Tỉnh lỵ Hưng Yên đặt tại thị xã Hưng Yên, cách Hà
Nội 64 km, cách Thành Hải Dương 48 km và quốc lộ 1 khoảng 20 km. Là một tỉnh đất chật
người đông, diện tích tự nhiên 890 km2, dân số 1,1 triệu người, mật độ dân số trung bình
1227 người/km2.
Hưng Yên là một tỉnh thuần nông 80% dân số làm nông nghiệp, không có biển và đồi
núi nhưng có nhiều sông ngòi như sông Hồng, sông Thái Bình và hệ thống sông nội đồng
khác... Cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên chịu ảnh hưởng của
nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều nắng và có mùa đông giá lạnh.
Về tài nguyên thiên nhiên: Hưng Yên có một tài nguyên đất nông nghiệp phong phú,
màu mỡ. Diện tích đất nông nghiệp khoảng 62000 ha. Tài nguyên nước ngọt dồi dào do nằm
trong hệ thống sông Hồng. Tuy nhiên, Hưng Yên lại có rất ít khoáng sản, khoáng sản chủ
yếu là nguồn cát đen ven sông Hồng và nguồn than nâu ( khoảng 30 tỷ tấn) phân bố ở độ
sâu trung bình từ 600 đến 1000m, khó khai thác.
Về tài nguyên nhân văn: Hưng Yên là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử nổi tiếng,
đặc biệt là quần thể di tích Đa Hoà- Dạ Trạch( Khoái Châu) thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung,
khu di tích phố Hiến, khu tưởng niệm lương y Hải Thượng Lãn Ông và hàng trăm di tích đã
Footer Page 21 of 126.
Tốc độ tăng DS
Footer Page 22 of 126.
Đơn vị
1997
1998
1999
2000
%
1,402
1,333
1,263
1,2
Header Page 23 of 126.
Tốc độ tăng trưởng
%
41
-Công nghiệp
%
20,26
22,0
25,94
28
-Dịch vụ
%
27,87
26,78
28,90
31
Tỷ đồng
2239
vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế. Đến hết năm 2000 Hưng Yên đã thu hút được 35 dự
án lớn, đặc biệt đã thu hút được 8 dự án đầu tư nước ngoài, 27dự án đầu tư của ngoại tỉnh
với tổng số vốn đăng ký là 130 triệu USD , đến nay đã có 4 dự án đầu tư nước ngoài và 12
dự án đầu tư ngoại tỉnh đi vào hoạt động. Vốn thực hiện 70 triệu USD, giá trị sản xuất công
nghiệp của tỉnh tăng lên rất nhanh từ 605 tỷ đông năm 1997 lên 2.300 tỷ đồng năm 2000 Đời
sống của nhân dân trong tỉnh ngày càng được nâng cao. Những thành tựu trên nhờ một phần
lớn tác dụng của đầu tư xây dựng cơ bản. Để thấy rõ vấn đề này, trước tiên chúng ta xem xét
nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Hưng Yên thời kỳ 1997-2000.
II. Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản của Hưng Yên thời kỳ 1997-2000
Footer Page 23 of 126.
Header Page 24 of 126.
3.
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thời kỳ 1997-2000.
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò hết sức qua trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội của mỗi một quốc gia nói chung và mỗi địa phương nói riêng. Hoạt động
này tạo ra cơ sở hạ tầng: Đường giao thông, bưu điện, trường học và các tiềm lực vật chất
phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như : máy móc thiết bị, nhà xưởng... Do đó vốn
đầu tư xây dựng cơ bản luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của xã hội và được
hình thành chủ yếu từ các nguồn: vốn Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, vốn huy
động của các doanh nghiệp, vốn đóng góp của nhân dân, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong đó vốn ngân sách Nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong nguồn vốn đầu tư xây dựng
cơ bản của cả nước.
Là một tỉnh mới được tái lập (01/01/1997), nên hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh, tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng
164,76 tỷ đồng và năm 2000 là 145,380 tỷ đồng, với tỷ trọng chiếm tương ứng là 42,3% và
35,9%.
+ Nguồn vốn khác: Đây là nguồn vốn của nhân dân đóng góp để bổ sung cho hệ thống
giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương nội đồng. Nguồn vốn này kết hợp với nguồn
vốn của Nhà nước để xây dựng kết cấu hạ tầng tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội.
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Trong quá trình phát triển kinh tế nguồn vốn
nước ngoài có vị trí quan trọng, nguồn vốn này thường đầu tư vào phát triển ngành công
nghiệp của cả nước nói chung và Hưng Yên nói riêng. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã thu hút
được 8 dự án đầu tư nước ngoài, trong đó có 4 dự án đã đi vào hoạt động như công ty liên
doanh LG-Sel, liên doanh sản xuất phụ tùng ô tô xe máy, liên doanh sản xuất mút xốp, liên
doanh sản xuất nước khoáng.
Mặc dù khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực này chiếm tỷ trọng nhỏ
so với tổng số vốn đầu tư đăng ký. Song các công ty này đóng góp giá trị sản xuất công
nghiệp lớn nhất của tỉnh, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn.
Nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, cùng với Quảng Ninh, Hải
Phòng,... trong những năm qua Hưng Yên đã tạo được những bước phát triển quan trọng
nhờ vào việc chuyển đổi cơ cấu đầu tư và thu hút một nguồn vốn đầu tư vào phát triển kinh
tế.
Footer Page 25 of 126.