BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN HOÀNG LAN
MÔ HÌNH TÍNH TOÁN
GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH
TRONG NGÀNH NĂNG LƢỢNG VÀ LÂM NGHIỆP
THEO HƢỚNG XÃ HỘI CÁC BON THẤP
Chuyên ngành: Quản lý Công nghiệp
Mã số: 62340414
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội – 2017
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN VĂN BÌNH
PHẢN BIỆN 1:
PHẢN BIỆN 2:
PHẢN BIỆN 3:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá Luận án tiến sĩ cấp Trường họp
tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Vào hồi …..giờ, ngày……tháng…..năm ……
ký vào Hiệp ước khung về biến đổi khí hậu, ký và phê chuẩn Hiệp định Kyoto
vào 25 tháng 9 năm 2002. Việt Nam cũng tham gia các cam kết trong Hội nghị
thượng đỉnh khí hậu thế giới COP21. Việt Nam cam kết giảm 8% lượng phát
thải khí nhà kính vào năm 2030 và có thể tới 25% nếu có sự hỗ trợ về tài chính
từ quốc tế.
Như vậy, để đảm bảo sự phát triển kinh tế, việc sử dụng ngày càng nhiều năng
lượng và khai thác các nguồn tài nguyên là không thể tránh khỏi. Nhưng với xu
2
thế phát triển của thế giới trong tương lai là khai thác sử dụng tài nguyên đi đôi
với bảo vệ môi trường, giảm phát thải KNK hướng tới một xã hội các bon thấp.
Với định hướng như vậy, Việt Nam rất cần các nghiên cứu để thấy được các
bước đi trong lộ trình tiến tới một xã hội các bon thấp. Các nghiên cứu hiện tại
thường xem xét các ngành một cách riêng rẽ, như ngành năng lượng, nông
nghiệp, lâm nghiệp mà chưa có nghiên cứu nào đánh giá xã hội các bon thấp
như là một mối liên hệ tổng thể giữa các ngành. Như vậy Việt Nam cần một
nghiên cứu về xây dựng xã hội các bon thấp, nghiên cứu sẽ bao phủ các mảng
của phát thải khí nhà kính: các ngành liên quan đến sử dụng năng lượng và
không liên quan đến sử dụng năng lượng, các yếu tố liên quan đến công nghệ
và các yếu tố liên quan đến nhận thức hành vi của con người là hết sức cấp thiết
để đạt được các mục tiêu về giảm phát thải, giảm tác động của biến đổi khí hậu
đến Việt Nam.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra trong luận án này bao gồm:
Xã hội các bon thấp là gì và đặc trưng của xã hội các bon thấp?
Phát thải và hấp thụ khí nhà kính được tính toán như thế nào trong ngành năng
lượng và lâm nghiệp?
Sử dụng mô hình nào để phân tích giảm phát thải KNK theo hướng xã hội các
bon thấp?
Phương pháp phân tích, Phương pháp mô hình hóa và sử dụng phần mềm
MARKAL và FOREST làm công cụ hỗ trợ.
Do đặc thù của nghiên cứu, các số liệu sử dụng cho nghiên cứu là các số liệu thứ
cấp bao gồm các thông tin, số liệu sẵn có, được một cơ quan tổ chức thống kê. Các
số liệu này được thu thập từ các nguồn sau như các báo cáo của tổ chức (Tổng cục
thống kê, Viện năng lượng, Tổng cục lâm nghiệp, các cơ quan viện chuyên ngành
có liên quan) và hệ thống cơ sở dữ liệu của các nghiên cứu trước đây.
Phương pháp tư duy
Phương pháp tư duy được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp quy nạp và
diễn dịch nhằm để xây dựng và chứng minh các giả thuyết.
Phương pháp nghiên cứu định tính được tiến hành để xác định vấn đề, các giả
thuyết; xác định các vấn đề ưu tiên. Phương pháp nghiên cứu này không lượng
hóa các biến và không sử dụng các mô hình để đo lường
Phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến hành để xác định các biến liên
quan đến đối tượng nghiên cứu và lượng hóa mối quan hệ giữa các biến. Mô
4
hình sẽ được thiết lập để mô phỏng hệ thống thực tế.
Phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích: xử lý các số liệu đầu vào, đầu ra
cũng như xem xét, giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận án đã hệ thống hóa lý thuyết về phát thải KNK và xã hội các bon thấp, xây
dựng mô hình giảm phát thải KNK hướng đến mục tiêu xã hội các bon thấp,
trong mô hình xem xét đến hai ngành năng lượng và lâm nghiệp. Luận án đã
góp cho khoa học về phát triển kinh tế cùng với bảo vệ môi trường.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận án đã xây dựng bộ công cụ cho phép lượng hóa việc giảm phát thải KNK
và áp dụng vào điều kiện thực tế Việt Nam trong việc tính toán giảm phát thải
gây nóng lên toàn cầu” (global warming potentials – GWPs) của một tấn KNK
với một tấn CO2 trong khoảng thời gian xác định (100 năm). Các KNK chính
bao gồm: Các bon níc (CO2), Mêtan (CH4), Đinitơ mônôxít (N2O).
1.1.2 Khái niệm xã hội các bon thấp
Xã hội các bon thấp (Low-carbon society, LCS) là xã hội phát triển bền vững
trên cơ sở phối hợp một cách hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ
mội trường. Trong xã hội này, bảo vệ môi trường được xếp ngang bằng với các
mục tiêu kinh tế xã hội khác.
Xây dựng xã hội các bon thấp không chỉ tập trung vào giảm phát thải khí nhà
kính mà còn giúp đạt được các mục tiêu phát triển quốc gia đặc biệt là phát
triển bền vững và hiệu quả.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hƣ ng đến phát thải KNK
1.1.3.1
Yếu tố công nghệ
Các yếu tố liên quan đến công nghệ bao gồm: các công nghệ hiệu suất cao, tiết
kiệm năng lượng, công nghệ thu giữ các bon (carbon capture and storage CCS),
công nghệ sử dụng khí Hydro, công nghệ điện hạt nhân, công nghệ biến rác
thành năng lượng
1.1.3.2
Yếu tố phi công nghệ
Các yếu tố phi công nghệ có thể ảnh hưởng đến phát thải KNK bao gồm thuế
các bon, hận thức của xã hội, lưu trữ các bon trong các khu rừng
1.2
Điểm lại các nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc
trồng rừng trong việc giảm chi phí để đạt được các mục tiêu về ổn định mức
tăng bức xạ toàn cầu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra các nhân tố quan
trọng tác động đến lượng phát thải như dân số, tổng sản phẩm quốc nội, hệ số
phát thải và mức phát thải giả thiết của sử dụng đất.
Rừng được coi là một nguồn lưu trữ các bon đóng góp phần đáng kể vào việc
giảm lượng khí nhà kính trong khí quyển. Đã có một số các nghiên cứu về mô
hình lâm nghiệp ứng dụng ở phạm vi toàn cầu, quốc gia hoặc thành phố.
Trên phạm vi toàn cầu, mô hình xác định mức lưu trữ các bon trong rừng trong
nghiên cứu của Sohngen, B. et. Al. Với phạm vi quốc gia, trong nghiên cứu về
7
Hà Lan tác giả đã đề cập đến phát thải KNK từ sử dụng, chuyển đổi sử dụng
đất, và giải pháp lưu giữ CO2 ở các khu rừng. Trong nghiên cứu cho nước Mỹ,
tính toán chi phí lưu trữ các bon trong các khu rừng bằng việc xây dựng mô
hình tính chi phí và tính lượng các bon lưu trữ, từ đó tính toán được chi phí lưu
trữ trung bình cho 1 tấn các bon lưu trữ. Trong một nghiên cứu khác của Mỹ,
tác giả Stavins xây dựng mô hình lựa chọn sử dụng đất cho mục đích trồng rừng
hay sử dụng đất cho trồng cây nông nghiệp trên cơ sở tối đa hóa lợi ích thu
được của người sở hữu đất, áp dụng tính toán cho một số vùng được lựa chọn
của Mỹ và mở rộng kết quả tính toán cho toàn bộ quốc gia. Về phạm vi vùng,
thành phố, mô hình được xây dựng để chọn thời điểm khai thác tối ưu để cực
đại hóa lợi ích của người sở hữu rừng có tính đến giá các bon và ảnh hưởng
của nguy cơ cháy rừng (áp dụng tính toán cho khu vực Tây bắc nước Pháp. Mô
hình ước tính chi phí biên của lưu trữ các bon trong rừng vùng Tây Nam nước
Pháp dựa trên các giả định (i) chỉ khai thác gỗ trong rừng (ii) nếu người sở hữu
rừng kéo dài độ tuổi khai thác sẽ hưởng các ưu đãi từ chính sách thuế và trợ cấp
(iii) người sở hữu rừng tối đa hóa lợi ích quy về hiện tại, từ đó xác định tính
hiệu quả về mặt chi phí của hệ thống thuế các bon và trợ cấp.
Ngoài ra còn các mô hình đánh giá lợi ích của việc phát triển cây/rừng trong
Một nghiên cứu về phát triển các bon thấp để thấy được khả năng thực hiện
mục tiêu tăng trưởng xanh của Việt Nam được tiến hành bởi Ngân hàng thế giới
[69]. Nghiên cứu đã xây dựng kịch bản BAU (Bussiness as Usual) và nhóm
kịch bản phát triển các bon thấp (LCD) cho giai đoạn 2010 – 2030 để phân tích
các khía cạnh cơ cấu ngành năng lượng, phát thải KNK và chi phí. Bằng
phương pháp tính toán kiểm kê, từ thông tin về dự báo nhu cầu điện năng và
các nhà máy điện sẽ được xây dựng theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia
[26], nghiên cứu đã xây dựng kịch bản BAU và tính toán lượng phát thải KNK
từ ngành năng lượng (ngành điện và các ngành sử dụng năng lượng như giao
thông vận tải, dân dụng, công nghiệp). Các kịch bản LCD xem xét việc áp dụng
các hành động giảm phát thải để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu của tăng
trưởng xanh. Với các giả thiết như vậy, kịch bản LCD sẽ được xây dựng và việc
tính toán sẽ cho thấy lượng KNK có thể giảm thải và chi phí thay đổi do áp
dụng các biện pháp này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tính toán chi phí
giảm phát thải biên (MACC), so sánh giữa kịch bản LCD và BAU để xếp các
biện pháp theo tiêu chí chi phí cho một đơn vị giảm phát thải theo thứ tự ưu tiên
từ thấp đến cao và từ đó xác định được lộ trình áp dụng các biện pháp để đạt tới
9
mục tiêu phát triển các bon thấp.
1.3
Các chính sách của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính và xã
hội cácbon thấp
Từ những năm đầu của thế kỉ 21, Việt Nam đã thông qua các luật và chính sách
hướng tới bảo vệ môi trường. Trong thời gian đầu, luật đưa ra các quy định
mang tính định hướng như trong Luật bảo vệ môi trường năm 2005. Các văn
bản luật liên quan đến bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng được
trên phương diện vĩ mô thông qua chỉ số về giá, thuế. Một số mô hình thường
được sử dụng như MARKAL, LEAP, AIM cho lĩnh vực năng lượng; COMAP,
FASOMGHG, CO2FIX, EFI-GTM, GAYA-JLP cho lĩnh vực sử dụng đất và
rừng.
Các mô hình trên đều đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đánh giá tác
động của các chính sách đến phát thải KNK trong các ngành nghiên cứu. Về
lĩnh vực năng lượng, mô hình MARKAL đã được hoàn thiện và ứng dụng trong
các nghiên cứu của Việt Nam. Qua đánh giá, mô hình MARKAL có cách tiếp
cận bottom-up, tối ưu chi phí sản xuất của cả hệ thống cung cấp năng lượng,
đánh giá tác động của các chính sách năng lượng cũng như chính sách giảm
phát thải KNK đến sự lựa chọn cơ cấu năng lượng, cơ cấu công nghệ. Mô hình
khung có sẵn, việc linh hoạt trong xây dựng mô hình chi tiết cho phép người sử
dụng lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh của mỗi trường hợp cụ thể. Do vậy,
MARKAL được sử dụng trong thiết lập mô hình chi tiết trong lĩnh vực năng
lượng.
Các mô hình trong lĩnh vực phi năng lượng chủ yếu được xây dựng ở các nước
phát triển trong đó ngành lâm nghiệp có tính đến sự sở hữu tư nhân. Do đó, mục
tiêu được xây dựng trong các mô hình này xem xét cả lợi ích lẫn chi phí từ bảo
tồn và khai thác rừng. Điều này chưa thực sự phù hợp với trường hợp các nước
đang phát triển. Mô hình COMAP được xây dựng cho các nước đang phát triển
nhưng thuộc dạng kiểm kê, không xem xét đến tính tối ưu của hệ thống. Do
vậy, cần thiết phải xây dựng một mô hình khác phù hợp hơn.
CHƢƠNG 2.
PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT M
HÌNH GIẢM
PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH THEO HƢỚNG XÃ HỘI
CÁC BON THẤP
thấp cho Việt Nam
Mục tiêu của mô hình là lượng hóa lượng phát thải KNK của ngành năng lượng
và lâm nghiệp theo các yếu tố (loại năng lượng, loại công nghệ, loại rừng, tốc độ
phát triển và khai thác rừng) tương ứng với mỗi kịch bản phát triển kinh tế xã hội
năng lượng để đạt được mức phát thải chấp nhận được (ngưỡng phát thải)..
Mô hình sẽ cho phép xác định cơ cấu lâm nghiệp và năng lượng để đạt ngưỡng
phát thải cho phép. Cơ cấu lâm nghiệp bao gồm tổng diện tích đất rừng, tỷ
trọng các loại rừng, mật độ các bon của từng loại rừng. Cơ cấu năng lượng bao
12
gồm loại năng lượng, tỷ trọng các loại năng lượng, loại công nghệ năng lượng,
tỷ trọng các loại công nghệ năng lượng.
Mô hình sẽ giúp nhà hoạch định chính sách xác định các chiến lược cho ngành
phi năng lượng và năng lượng phù hợp để đạt được mục tiêu xã hội cácbon thấp.
Mô hình ENFOR (Hình 2 2) do tác giả đề xuất bao gồm 3 mô đun chính
- Mô đun ENERGY: thiết lập hệ thống năng lượng tối ưu, được tạo dựng trên
mô hình MARKAL
- Mô đun FOREST: thiết lập hệ thống rừng tối ưu, được tạo dựng trên mô hình
FOREST
- Mô đun COST: tính toán tổng chi phí hệ thống và chi phí giảm phát thải.
Hai mô đun ENERGY và FOREST có thể chạy độc lập hoặc kết hợp. Khi chạy
độc lập, hai mô đun sẽ cho kết quả về mức phát thải cơ sở (mô đun năng lượng)
và mức hấp thụ cơ sở (mô đun lâm nghiệp). Dưới dạng kết hợp (i) số liệu đầu
ra về hấp thụ các bon của mô đun FOREST sẽ là đầu vào cho mô đun
ENERGY hoặc (ii) số liệu đầu ra về phát thải các bon của mô đun ENERGY sẽ
là đầu vào cho mô đun FOREST.
Số liệu đầu vào
Chạy chương trình
• Ràng buộc về cân bằng năng lượng
• Cân bằng điện và nhiệt
• Ràng buộc về dự trữ đối với điện và nhiệt
• Ràng buộc về chạy nền (trong sản xuất điện)
• Hệ số khả dụng (đối với điện và nhiệt)
• Ràng buộc về phát thải
• Các ràng buộc khác (do người sử dụng thiết lập)
Mô hình FOREST cho ngành lâm nghiệp là mô hình quy hoạch tuyến tính ứng
dụng cho lĩnh vực lâm nghiệp do tác giả xây dựng.
Mô hình lâm nghiệp được xây dựng dưới dạng mô hình gồm hàm mục tiêu và
các điều kiện ràng buộc theo hai hướng tiếp cận khác nhau:
Mô hình lâm nghiệp 1:
Hàm mục tiêu: cực tiểu hóa chi phí đầu tư và chi phí hàng năm cho phát triển
rừng.
Hệ thống các ràng buộc bao gồm:
• Ràng buộc về diện tích đất rừng: Tổng diện tích đất rừng, Tổng diện tích đất
rừng tối đa.
• Ràng buộc về tốc độ khai thác rừng
• Ràng buộc về tốc độ chuyển đổi giữa các loại rừng
• Ràng buộc về mức hấp thụ các bon và phát thải KNK
Mô hình lâm nghiệp 2:
Hàm mục tiêu: Cực đại hóa khả năng lưu trữ các bon của rừng.
Các điều kiện ràng buộc:
Ràng buộc về diện tích đất rừng: Tổng diện tích đất rừng, Tổng diện tích đất
14
rừng tối đa.
Ràng buộc về tốc độ khai thác rừng
Ràng buộc về tốc độ chuyển đổi giữa các loại rừng.
đương/người vào năm 2010 lên 3,9922 kg CO2 tương đương/người vào năm
2015. Cường độ phát thải trên một đơn vị năng lượng tiêu thụ cũng tăng từ 0.14
kg CO2 tương đương/MJ lên 0.15 kg CO2 tương đương/MJ.
15
3.2 Các giả thiết của mô hình giảm phát thải KNK theo hƣớng xã hội các
bon thấp
Để lượng hóa việc giảm phát thải KNK theo hướng xã hội các bon thấp, luận án
xây dựng kịch bản gốc và kịch bản xã hội các bon thấp. Kịch bản gốc phản ánh
xã hội phát triển bình thường, kịch bản xã hội các bon thấp được xây dựng trên
giả thiết có các chính sách về giảm phát thải như đặt mục tiêu phát thải, thuế
các bon, chính sách bảo tồn rừng. Việc so sánh kết quả của kịch bản xã hội các
bon thấp và kịch bản gốc sẽ cho thấy tác động của từng chính sách này hoặc tác
động tổng hợp của các chính sách này đến cơ cấu ngành, lượng phát thải KNK
có thể giảm được và quan trọng là chi phí phải trả để đạt được ngưỡng phát thải
đó.
Kịch bản gốc:
Kịch bản gốc mô tả xã hội theo phương án phát triển bình thường, được ký hiệu
là BASE. Trong kịch bản này không xét đến ràng buộc về phát thải KNK.
Năm cơ sở được lựa chọn là 2010. Thời kỳ nghiên cứu 2010-2030 được chia
thành các thời đoạn với độ dài bằng nhau, mỗi thời đoạn là 5 năm.
Kịch bản xã hội các bon thấp: gồm các kịch bản sau
Kịch bản tối đa hóa lưu trữ các bon trong rừng FMC
Kịch bản này xem xét khả năng lưu trữ tối đa của rừng trong điều kiện quỹ đất
dành cho rừng bị hạn chế. Lượng KNK lưu trữ trong rừng tăng thêm so với
kịch bản gốc chính là lượng KNK giảm thải được của cả hệ thống năng lượng
và lâm nghiệp.
Kịch bản ngưỡng phát thải trong ngành năng lượng ENRC
Kịch bản này xem xét khả năng giảm phát thải trong ngành năng lượng với mức
Phân tích kết quả tính toán với kịch bản gốc khi không có ràng buộc
hạn chế về phát thải KNK
Các phân tích trong phần này dựa trên các kết quả của kịch bản xã hội phát
triển bình thường (kịch bản gốc - BASE). Trong kịch bản gốc, không có bất cứ
chính sách về giảm phát thải KNK kính nào được xem xét.
Bảng 4.1: Năng lượng sơ cấp kịch bản gốc giai đoạn 2010 – 2030
(đơn vị: PJ)
2010
2015
2020
2025
2030
Than
653
869
1781
3262
5972
417
895
Thủy điện
316
648
811
908
871
Năng lượng tái tạo
604
843
831
1058
1437
Điện nhập khẩu
Tổng năng lƣợng sơ cấp
Tốc độ tăng trưởng bình quân (%)
Tổng năng lượng sơ cấp tăng nhanh từ 2653 PJ năm 2010 lên 12332 PJ năm 2030
17
với tốc độ tăng trưởng trung bình là 8%. Tỉ trọng tiêu thụ than và dầu lần lượt là
25% và 26% trong năm 2010; đến 2030 lần lượt là 48% và 21%. Có thể thấy tỉ
trọng dùng than tăng đáng kể trong giai đoan 2010 – 2030 do chi phí sử dụng than
rẻ tương đối so với sử dụng các loại năng lượng khác. Thủy điện là nguồn năng
lượng đã được khai thác khá nhiều trong các năm qua và gần đạt tới mức tối đa
của tiềm năng thủy điện. Do đó hiện này thủy điện là nguồn năng lượng chiếm
đến 12% tổng năng lượng sơ cấp vào năm 2010 và tăng đến 18% vào năm 2015
nhưng sẽ giảm dần còn 7% vào năm 2030. Năng lượng tái tạo bao gồm năng
lượng sinh khối, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, địa nhiệt và thủy điện nhỏ
chiếm 23% tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp. Việc sử dụng năng lượng tái tạo đặc
biệt năng lượng sinh khối chủ yếu trong khu vực dân dụng, lượng sử dụng cho
phát điện là khá hạn chế. Nhiệt điện than vẫn chiếm phần lớn trong cơ cấu điện
sản xuất, đến 65% vào năm 2030. Năng lượng tái tạo chỉ chiếm một phần khá
khiêm tốn trong tổng điện năng sản xuất chỉ 1.98% vào năm 2010 và tăng lên trên
5% vào các năm tiếp theo.
Kết quả trong kịch bản gốc chỉ ra xu thế tăng diện tích rừng trồng có xu thế tăng
trong giai đoạn 2010 – 2030, các loại rừng khác có xu thế giảm dần. Tổng diện
tích rừng cũng tăng với tốc độ chậm, từ 13388 nghìn hecta vào năm 2010 lên
15498 nghìn hecta vào năm 2030, điều này khiến tỉ lệ che phủ rừng chỉ tăng từ
40.6% lên 47% trong giai đoạn 2010 – 2030.
Khi không xem xét đến hấp thụ KNK từ lâm nghiệp, tổng phát KNK từ năng
lượng giai đoạn nghiên cứu là 9246 triệu tấn CO2 tương đương. Mức phát thải
130.09
166.76
289.74
471.89
790.75
Hấp thụ KNK từ lâm nghiệp
22.50
33.37
50.38
51.67
53.15
Phát thải KNK
107.59
133.39
239.36
19
0.94 USD/tấn CO2 tương đương. Con số này cũng khá phù hợp với khoảng chi
phí được đưa ra trong Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường về biến đổi
khí hậu, từ 0.9 USD/tấn CO2 tương đương đến 1.3 USD/tấn CO2 tương đương.
4.3
Phân tích kết quả tính toán với kịch bản ngƣỡng phát thải trong
ngành năng lƣợng
Kịch bản ENRC xem xét mức giảm phát thải trong ngành năng lượng tương
đương với mức tăng hấp thụ trong kịch bản tối đa hóa lượng hấp thụ KNK từ
lâm nghiệp.
Tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp giảm 72PJ, 77PJ và 88PJ vào các năm 2020,
2025 và 2030. Trong các loại năng lượng tiêu thụ, loại năng lượng có hệ số
phát thải cao như than có xu hướng giảm, thay vào đó là loại năng lượng phát
thải ít các bon như thủy điện, điện nguyên tử và năng lượng tái tạo. Tiêu thụ
than giảm 225PJ vào năm 2030 khi so sánh kịch bản ENRC và kịch bản gốc.
Thủy điện và năng lượng tái tạo tăng thêm 167PJ, 71PJ và 56PJ vào các năm
2020, 2025 và 2030.
tỉ trọng sử dụng than vẫn là lớn nhất, chiếm đến 47% vào 2030. Tỉ trọng NLTT
có xu hướng giảm từ 17% năm 2020 xuống 12% năm 2030. Sự giới hạn khả
năng khai thác tối đa của các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió và
mặt trời chính là nguyên nhân khiến cho tỉ trọng của năng lượng tái tạo có xu
thế giảm trong tương lai.
Lượng phát thải KNK từ ngành năng lượng trong kịch bản ENRC là 8561 triệu
tấn CO2 tương đương, giảm 685 triệu tấn CO2 tương đương (7.4%) so với kịch
bản gốc. Việc giảm phát thải từ ngành năng lượng làm tổng phát thải KNK
giảm còn 7506 triệu tấn CO2 tương đương, mức giảm là 8.4%.
Tổng chi phí gia tăng trong kịch bản ENRC là 1479 triệu USD từ mức 994887
trong kịch bản gốc lên 37% trong kịch bản AEL25 vào năm 2030. Điện sản
xuất từ thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo cũng tăng thêm trong kịch bản
AEL25, từ 4% của kịch bản gốc lên 6% trong kịch bản giảm phát thải 25%.
Nếu xem xét cả thủy điện lớn, thì tổng điện sản xuất từ năng lượng tái tạo sẽ
chiếm 19% trong kịch bản AEL25 thay vì mức 15% ở kịch bản gốc vào năm
2030.
Tổng chi phí trong kịch bản AEL25 là 999625 triệu USD, tăng thêm 4738 triệu
USD so với kịch bản gốc. Để giảm được một tấn CO2 trong kịch bản AEL25,
chi phí phải trả ra bình quân là 2.72USD/tấn CO2 tương đương. Chi phí giảm
phát thải của riêng ngành lâm nghiệp là 0.94USD/tấn CO2, riêng ngành năng
lượng là 3.86USD/tấn CO2.
21
Bảng 4.15: Chi phí và chi phí giảm phát thải kịch bản AEL25
Chỉ tiêu
Tổng chi phí (2010-2030) (triệu USD)
Kịch bản gốc
Kịch bản AEL25
994887
999625
8191
6446
23% (kịch bản gốc) lên 28% (kịch bản T650) vào năm 2020, 17% lên 19% vào
năm 2025 và 11% lên 13% vào năm 2030.
Việc đánh thuế các bon làm lượng tiêu thụ năng lượng sơ cấp giảm xuống và
gây ra sự dịch chuyển từ dạng năng lượng phát thải nhiều KNK sang dạng năng
22
lượng phát thải ít KNK hơn. Điều đó khiến cho lượng KNK phát thải từ ngành
năng lượng giảm xuống, mức phát thải là 231 triệu tấn CO2 tương đương so
với mức 290 triệu tấn CO2 tương đương ở kịch bản cơ sở vào năm 2020, 518
triệu tấn CO2 tương đương so với mức 791 triệu tấn CO2 tương đương vào
năm 2030. Tổng lượng phát thải là 5775 triệu tấn CO2 tương đương, giảm 2416
triệu tấn CO2 tương đương (29%) so với kịch bản gốc.
Chi phí giảm phát thải trung bình trong kịch bản T650 là 6.68 USD/tấn CO2
giảm được. Với mức thuế 40 USD/tấn CO2, mức thuế tương đương cho 1 tấn
than sẽ là 11USD/tấn than. Vậy khi áp thuế sẽ khiến giá than tăng lên 10% lần
so với mức giá nếu không áp thuế các bon. Đối với các sản phẩm dầu, mức thuế
này sẽ khiến giá sản phẩm dầu tăng thêm là 0.13 USD/lít sản phẩm. Với mức
thuế 88USD/tấn CO2, mức thuế tương đương cho 1 lít sản phẩm dầu sẽ vào là
0.26USD/lít sản phẩm. Mức thuế môi trường hiện tại là 3000VNĐ/lít xăng
(tương đương 0.15 USD/lít)[18] và dự kiến đánh thuế tăng đến mức cao nhất là
8000VNĐ (tương đương 0.4 USD)/lít. Mức thuế môi trường hiện nay đối với
than là khá thấp khoảng 1.5USD/tấn than (30000VNĐ/tấn than). Như vậy, với
mức thuế các bon để đảm bảo mức độ ổn định các bon trong khí quyển là
650ppmv là có thể chấp nhận được. Như vậy để đạt được các mức giảm phát
thải lớn, việc đánh thuế các bon cao là không thể tránh khỏi nhưng cần phải có
lộ trình tăng thuế phù hợp để tránh gây ra các biến động về giá khiến ảnh
hưởng đến các ngành kinh tế.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Luận án đã thực hiện được các vấn đề sau:
lượng), FOREST (lâm nghiệp) và COST (chi phí). Sự kết hợp trong việc chạy
mô đun ENERGY và FOREST sẽ đưa ra các kết quả liên quan đến cơ cấu năng
lượng, cơ cấu lâm nghiệp, lượng phát thải và hấp thụ KNK, chi phí ngành. Mô
đun COST sẽ cho các kết quả liên quan đến tổng chi phí, tổng phát thải, chi phí
giảm phát thải và chi phí trung bình giảm phát thải.
4. Luận án đã ứng dụng mô hình vào điều kiện thực tế Việt Nam giai đoạn 2010
– 2030, luận án đã thu được các kết quả đáng lưu ý. Để đạt được mục tiêu giảm
25% lượng KNK phát thải đòi hỏi phải có sự đóng góp từ cả lĩnh vực năng
lượng và lâm nghiệp. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra để đạt được các mục tiêu
giảm phát thải cũng như phục hồi và bảo tồn rừng, việc gia tăng chi phí là điều
không thể tránh khỏi. Trong đó, tăng lưu trữ các bon thông qua tăng diện tích