TIỂU LUẬN kế THỪA và đổi mới các GIÁ TRỊ đạo đức TRUYỀN THỐNG của các MẠNG VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

2

I.

TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG

1.

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
Giá trị và thang giá trị đạo đức truyền thống

3
3

2.

Nội dung giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc việt nam

5

3.
II.

Hạn chế và tác động của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hiện nay
YÊU CẦU, NỘI DUNG KẾ THỪA VÀ ĐỔI MỚI CÁC GIÁ TRỊ

16

giàu lòng yêu nước, thương yêu con người, có tinh thần chịu đựng gian khổ, khó
khăn, tính cần cù, óc sáng tạo, trọng nhân nghĩa, kính thầy, ham học hỏi,...
Những đức tính đó đã trở thành truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế
hệ con người Việt Nam đã nâng niu, gìn giữ. Những giá trị tốt đẹp đó có tác
dụng củng cố, phát triển quan hệ xã hội, tạo ra sức mạnh cho con người vượt qua
khó khăn trong cuộc sống để phát triển xã hội và hoàn thiện nhân cách.
Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng đất nước, với quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế đòi hỏi chúng ta phải mỏ rộng quan hệ hợp tác kinh tế và giao
lưu văn hóa vói các nưốc trên thế giới. Thông qua việc mỏ rộng quan hệ,
chúng ta đã tiếp thu được nhiều thành tựu văn minh của nhân loại, làm phong
phú thêm nển văn hóa dân tộc. Nhưng cũng trong quá trình mở cửa hội nhập,
sự xâm nhập của văn hóa và lối sống ngoại lai làm cho văn hóa truyền thống
có nguy cơ bị mai một. Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc, cũng còn không ít vấn đề về đạo đức, lối sống
đang đặt ra đòi hỏi phải nhận thức và giải quyết. Đó là cuộc đấu tranh giữa hai
lối sống, lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, chăm lo lợi ích cộng
đồng, bảo vệ thành quả lao động với lối sống thực dụng, ích kỷ, dối trá, ăn
bám, chạy theo đồng tiền bất chính; những biểu hiện coi nhẹ những giá trị
truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh.
Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống là vấn
đề cần phải nhìn nhận nghiêm túc và có sự quan tâm đặc biệt trong giai đoạn
cách mạng hiện nay. Từ thực tế đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu phải gắn tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ đạo đức và cồng bằng xã hội, vừa phát triển kinh tế
thị trường, đồng thời phải bảo tồn và phát huy những giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.


3

I. TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG



4

cuộc sống của cộng đồng. Nó là sản phẩm của quá trình phát triển của mỗi dân
tộc. Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau. Cùng một dân tộc, qua
từng giai đoạn lịch sử khác nhau truyền thống cũng biểu hiện và có cách lý giải
khác nhau. Truyền thống vừa mang tính công đồng vừa mang tính giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều góp phần mình tạo dựng truyền thống
của dân tộc, quốc gia, Trong truyền thống của mỗi dân tộc có những truyền
thống tốt và cũng có những truyền thống xấu mà tiêu chuẩn đánh giá là nó có
đóng góp vào sự tiến bộ xã hội, có phù hợp với quy luật khách quan hay không.
Truyền thống, xét về mặt đặc trưng, là những gì đã trở nên ổn định, được đông
đảo mọi người thừa nhận và đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Truyền thống biểu hiện qua từng giai đoạn lịch sử nhất định
mà biểu hiện đầy đủ và cụ thể nhất là ở thời điểm hiện tại. Những giá trị được
hình thành từ hôm nay và ngày mai nếu trở thành phổ biến và ăn sâu vào đời
sống tâm lý, lối sống của cộng đồng thì sẽ tạo ra truyền thông mới.
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của
dân tộc ta. Trong hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, các giá trị đạo đức
chiếm vị trí nổi bật tạo nên cốt lõi của nó. Nói đến các giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc ta là nói đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm
chất tốt đẹp đã hình thành và được bảo lưu cho đến thời điểm hiện tại. Đó là các
gíá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có
tác đụng điều chỉnh hành vi giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và xã hội. Giá
trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là do cộng đồng người Việt Nam tạo
dựng trong lịch sử phát triển lâu dài trên dải đất Việt Nam với tất cả những điều
kiện lịch sử đặc thù tạo nên bản sắc độc đáo của nó.
Các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều kiện lịch

yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa2.
Còn trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các giá trị đạo đức
thường được đề cập đến và được coi là những giá trị nổi bật. Nghị quyết của
Bộ Chính trị về một số “định hưống lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”,
khẳng định: “Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt
Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý “thương
người như thể thương thân”, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao
động... Đó là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn để nhân dân ta xây dựng
1
2

Vũ Khiêu, Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, tr.74 - 86.
Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, tr.74.


6

một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái” 3. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII của Đảng về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một lần nữa
khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự
cường dân tộc, tinh thần đoàn kết thúc cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính
cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tê trong ứng xử, tính giản dị trong lối
sống...” 2. Như vậy, từ quan điểm của các nhà khoa học cũng như của Đảng ta,
có thể khẳng định, dân tộc Việt Nam có một di sản giá trị đạo đức vô cùng
phong phú, trong đó, các giá trị điển hình là: Chủ nghĩa yêu nước; Lòng thương
người sâu sắc; Tinh thần đoàn kết cộng đồng; Đức tính cần kiệm; Lòng dũng
cảm, bất khuất, tính khiêm tốn, giản dị, trung thực, thủy chung, lạc quan.

phát triển chệch hướng theo chủ nghĩa sôvanh nước lớn, đại dân tộc hoặc sa
vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Đó là một trong những nguyên nhân sâu xa
của các xung đột sắc tộc và xung đột giữa một số quốc gia, khu vực trên thế
giới. Nhưng lịch sử cũng cho thấy sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yêu nước,
một khi nó được phát triển theo xu hướng lành mạnh, tích cực mà chủ nghĩa
yêu nước của nhân dân ta là một minh chứng đầy sức thuyết phục.
Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xưa đến nay.
Lòng yêu nước có nguồn gốc sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia
đình - làng xã - Tổ quốc. Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân
lên trên hết, là chăm lo xây dựng quê hương, đất nưóc, sẵn sàng chống đô hộ
và xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc. Đối với mỗi người, lòng yêu nước phát triển từ những tình
cảm bình dị và gần gũi đối với những người ruột thịt, dần dần phát triển thành
tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hương và cao hơn hết là tình yêu Tổ quốc,
lòng tự hào, tinh thần tự tôn dân tộc.
Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình
dị, đơn sơ của mỗi người dân. Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến
những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành
tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là
sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định.
Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước;
nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước. Trên thế giới,
hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước, chống xâm
lăng. Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân
tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam. Trong khoảng thời
gian từ thế kỷ III TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta đã dành
hơn nửa thời gian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống
ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc. Không có
một dân tộc nào trên thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như vậy và
với những kẻ thù mạnh hơn rất nhiều.

nghĩa yêu nước là một trong những giá trị cao quý và bền vững nhất của dân
tộc ta. Truyền thống yêu nước của dân tộc ta bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với
lòng thương yếu và quý trọng con người, nhất là người lao động.

1

Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.6. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.171.


9

* Lòng thương người của dân tộc Việt Nam
Lòng thương người của cha ông ta có nguồn gốc sâu xa từ sinh hoạt trong
công xã nông thôn, chế độ ruộng công, làng cùng họ từ thời cộng đồng nguyên
thủy và được củng cố phát triển qua quá trình chung lưng khai phá giang sơn,
giữ gìn đất nước. Mặt khác, xuất phát từ tình cảm yêu quý con người - “người ta
là hoa của đất”. Chính trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ
quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: con người là vốn quý hơn cả, không có gì có
thể so sánh được. Mọi người luôn luôn “thương người như thể thương thân” và
vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử hàng ngày, người Việt Nam luôn coi trọng tình,
luôn đặt tình nghĩa lên trên hết - “vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy”. Chữ “tình”
chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân. Trong gia đình, đó là
tình cảm vợ chồng “đầu gối tay ấp”, tình anh em “như thể tay chân”, tình cảm
đối với bố mẹ: “Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra”. Rộng hơn là tình cảm đối với làng xóm: “Sớm khuya tối lửa tắt đèn có
nhau”. Và, rộng hơn cả là tình yêu đất nước: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương.
Người trong một nước thì thương nhau cùng”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy
là khác giống nhưng chung một giàn”… Chính sự coi trọng chữ “tình” mà trong
những xung đột, người Việt Nam thường cố gắng giải quyết theo phương châm
“có lý có tình”, “chín bỏ làm mười”. Bởi với họ, tình cảm con người là cao quý

Lòng thương người đã trở thành một nếp nghĩ, một cách sống, một giá trị
đạo đức trong đời sống của người Việt Nam. Khi Phật giáo và Nho giáo thâm
nhập vào Việt Nam với những quan niệm từ bi bác ái, thương người thì chúng
càng khẳng định, củng cố thêm tư tưởng thương người của dân tộc Việt Nam.
Nhưng tư tưởng thương người của dân tộc Việt Nam không bị ảnh hưởng quá
nặng nề bởi quan niệm từ bi vượt thoát hiện thực của Phật giáo, vì người Việt
Nam vẫn chủ trương chú trọng nhiều đến những giá trị đời sống thường ngày; nó
cũng không bị ảnh hưởng nặng nề bởi chữ nhân quá thiên về lễ nghĩa của Nho
giáo, vì người Việt Nam hiểu chữ nhân như là một đạo làm người - đạo làm
người xuất phát từ chính bản chất của con người, chứ không phải với nghĩa là
trách nhiệm của bề trên đối với kẻ dưới như trong quan niệm Nho giáo.
Lòng thương người vốn có của dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, người đại bịểu chân chính cho lợi ích
của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, do Chủ tịch Họ
Chí Minh sáng lập và rèn l.uyên - kế thừa và phát triển rực rỡ trên cơ sở chủ
nghĩa Mác - Lênin và trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đúng như Đảng ta
khẳng định: “Người Việt Nam vốn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân


11

chủ, bình dạng trong quan hê giữa người với người. “Thương nước - thương nhà,
thương người - thương mình” là truyền thống đậm đà của nhân dân ta. Từ ngày
có Đảng, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu
nước va dân chủ của nhân dân ta được nâng lên một trình độ mới và phát huy
mạnh mẽ hơn hết”1 Lòng yêu nước, thương người là cơ sở sâu xa và vững bền
của chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa của chúng ta ngày nay.
* Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là nhân tố tinh thần hợp thành
động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Tinh thần đoàn kết

công Di), chính sách chia rẽ của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ.
Ý thức cộng đồng, tính thần đoàn kết của nhân đân ta là một điểm tựa
tinh thần vững chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công,
thành công, đại thành công”1. Trước lúc đi xa, Người còn khẳng định: “Đoàn
kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta” và yêu cầu
mỗi cán bộ, đảng viên “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như
giữ gìn con ngươi của mắt mình”2.
* Đức tính Cần kiệm
Cần kiệm là một giá trị đạo đức có từ bao đời của dân tộc ta. Cần cù là
biểu hiện thái độ của con người trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất,
tinh thần và các mặt hoạt động khác của con người. Nó là kết quả và là điểu
kiện không thể thiếu được của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài
người nói chung, dân tộc ta nói riêng. Lao động của con người, ngoài giá trị
kinh tế còn là hình thức để phát triển năng lực tinh thần, phương tiện để giáo
dục. rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp của con người.
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm cũng là một giá trị đạo đức nổi bật
trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Thực ra, để kiến tạo ra của cải vật chất thì
bất cứ dân tộc nào cũng phải lao động, cũng phải chịu khó, và họ cũng có thể tự
hào về những thành quả đã tạo dựng được của mình, nhưng dân tộc Việt Nam lại
là một trường hợp đặc biệt. Trong lịch sử, nhân dân ta đã tận dụng nhiều yếu tố
tự nhiên thuận lợi để phát triển sản xuất và đời sống, nhưng cũng gặp vô vàn khó
khăn, đòi hỏi phải nỗ lực khắc phục để tiến lên. Chính hoàn cảnh sản xuất và đấu
tranh xã hội qua bao đời đã hình thành trong con người Việt Nam.
Trong điều kiện thiên nhiên Việt Nam vừa hào phóng vừa rất khắc
nghiệt, lao động của con người chủ yếu dựa vào cơ hấp, nếu không cần cù và
1
2


cho đến ngày nay đều gắn liền với truyền thống cần kiệm đó.
Ngoài những giá trị chủ yếu trên, còn có những đức tính phổ biến hợp
thành hệ thống giá trị đạo đức truyền thống dân tộc: lòng dũng cảm, tinh thần
bất khuất, tính khiêm tốn, giản dị, trung thực, thủy chung, lạc quan. Lòng
dũng cảm, bất khuất, tinh thần tự tôn dân tộc và tự tin ở sức mình là những
phẩm chất khá nổi bật trong hệ giá trị văn hóa truyền thống. Những giá trị này
không tồn tại riêng rẽ mà liên quan đến nhau - đức tính này là điều kiện, là


14

biểu hiện của đức tính kia. Người ta không thể nói yêu Tổ quốc mà không yêu
thương con người, không có lòng nhân ái, bao dung. Thương người cũng là ý
thức về tính cộng đồng, về lý tưởng phục vụ cộng đồng, về việc biết đặt cái
chung lên trên cái riêng. Cũng chỉ có yêu nước, con người ta mới lao động
cần cù, tiết kiệm để kiến tạo cuộc sống của mình cũng như cuộc sống của con
cháu mình. Và, để thực hiện được những ước vọng đó, con người ta cần phải
đoàn kết lại để xây dựng, bảo vệ những thành quả do mình làm ra.
Chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã tạo nên lịch sử vẻ vang
của dân tộc Việt Nam. Chúng là nhân tố quan trọng định hướng tư tưởng, tình
cảm, hành động của con người Việt Nam trong suốt quá trình phát triển của
mình. Chúng đã tạo nên những con người biết sống xả thân vì nghĩa, vì đồng
bào, dân tộc, bất kể con người đó thuộc tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội.
Đặc biệt, từ khi giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện và bước lên vũ
đài lịch sử, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta đã được nâng lên một
tầm cao mới do hấp thu được hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại là chủ nghĩa
Mác - Lênin qua việc truyền bá của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự giáo dục, rèn
luyện của Đảng ta.
Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi phải nêu cao vai trò của đạo đức cách
mạng. Mặt khác, chính phong trào hành động cách mạng của quần chúng là

người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã
trở thành hiện tượng phổ biến của hàng triệu quần chúng thuộc mọi tầng lớp và
lứa tuổi khác nhau. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong kháng chiến
chống thực dân Pháp, trong cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu nước...chủ nghĩa
anh hùng cách mạng đã trở thành định hướng giá trị đạo đức cơ bản trong tư
tưởng và hành động của mỗi người Việt Nam.
Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Hàng loạt tấm
gương tiêu biểu đã xuất hiện trong phong trào hành động cách mạng sôi nổi của
quần chúng. Lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức làm chủ tập thể...
không chỉ là những khẩu hiệu động viên mà đã là những chuẩn mực chi phối suy
nghĩ và hành động của con người Việt Nam trong bước chuyển từ chiến tranh
sang hòa bình xây dựng đất nước. Được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã đánh dấu một bước phát
triển mới về chất trong nội dung của các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.
Có thể nói rằng, các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành và
được bồi đắp qua suốt chiều đài lịch sử và đã chứng tỏ vai trò to lớn của
chúng với với sự phát triển của dân tộc ta.


16

3. Hạn chế và tác động của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ
hiện nay.
Ở nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng và
quản lý của Nhà nước, bên cạnh những mặt tích cực, đã xuất hiện những cách
sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực của xã hội và thuần phong mỹ tục
của dân tộc. Trước đây, trong nội dung của các giá trị đạo đức mang truyền
thống dân tộc còn có những hạn chế nhất định, như: Tinh thần cộng đồng làng
xã dẫn đến tâm lý phủ định cá nhân, san bằng cá tính, dẫn đến chủ nghĩa bình
quân, địa phương, bè phái, cục bộ. Chủ nghĩa tình cảm dẫn đến thiếu duy lý,

địa phương, bè phái mất đoàn kết khá phổ biến. Những tệ nạn đó gây sự bất
bình của nhân dân, làm tổn thương uy tín của Đảng, của Nhà nước”1
Hiện nay, kinh tế thị trường như một luồng gió mới ảnh hưởng không ít
đến quan điểm sống, đến định hướng giá trị của mọi người, nhiều khi người ta
quá chú trọng đến bản thân mình, không quan tâm đến người khác, làm giàu
bằng mọi giá, bất chấp đạo lý. Cùng với đó là làn sóng toàn cầu hoá tràn vào
Việt Nam. Những giá trị mang tính thực dụng, duy lý… của toàn cầu hoá, những
giá trị mà dường như trái ngược với những giá trị đạo đức truyền thống đã làm
cho nhiều người bị “choáng ngợp”. Từ sự tiếp nhận chúng như là một tất yếu
cho quá trình hội nhập đến việc đề cao thái quá đã làm cho tính tích cực của
những giá trị này mang cả tính tiêu cực. Tất cả những điều đó đã dẫn đến sự gia
tăng các hiện tượng xã hội không lành mạnh. Đó là thói vị kỷ, tình trạng tham ô,
tham nhũng, phạm pháp hình sự, tỷ lệ ly hôn, mâu thuẫn gia đình…
Trước tình hình đó xuất hiện những tư tưởng sai trái, có quan niệm cho
rằng, các giá trị đạo đức truyền thống không còn vai trò trong một xã hội phát
triển như hiện nay. Lại có quan niệm cho rằng, để khắc phục tình trạng trên,
chúng ta cần phải trở về sử dụng các giá trị dân tộc truyền thống. Thực ra, thái
độ phủ nhận mọi giá trị truyền thống hay bảo thủ trước những biến đổi của đời
sống đều gây nên những hậu quả tai hại. Bởi lẽ, mọi thứ không thể xuất phát từ
hư vô, nhưng cũng không thể không phát triển. Trước kia, các giá trị đạo đức
truyền thống có vai trò không nhỏ trong tiến trình xây dựng và phát triển nhân
cách con người Việt Nam, thì ngày nay, chúng sẽ vẫn có tác dụng. Nhưng chúng
ta phải có một thái độ thích hợp trong việc sử dụng chúng, sao cho chúng vẫn
phát huy được mặt tích cực trong điều kiện xã hội mới.
1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Sđd, tr.46-47.


18

giặc ngoại xâm, chống thiên tai...), nhưng trong các hoạt động mang tính chất
nghề nghiệp thì còn hạn chế. Do hiểu đoàn kết một chiều nên tinh thần đấu


19

tranh phê phán trong nội bộ kém. Thái độ “dĩ hòa vi quý” là nét phổ biến
trong cách hành xử của nhiều người. Người Việt Nam rất cần cù và tiết kiệm
trong sản xuất và đời sống, nhưng trong tâm lý của số đông, cần cù trong lao
động chân tay được đánh giá cao hơn cần cù trong lao động trí óc, cần cù
trong sản xuất được coi trọng hơn nhiều so với cần cù trong các hoạt động
thương mại. Kỷ luật lao động lỏng lẻo, tùy tiện... do đó, năng suất, chất lượng
và hiệu quả sản xuất thấp, đời sống vật chất và tinh thần chậm được cải thiện.
Như vậy, việc nhận rõ những mặt tích cực và tiêu cực trong đạo đức
truyền thống và cả những hạn chế mang tính lịch sử trong nội dung của các giá
trị đạo đức truyền thống là yêu cầu cần thiết đối với nhân tố chủ quan khi xử lý
những vấn để liên quan đến truyền thống, trong đó có đạo đức. Nó giúp xác định
rõ những mặt tích cực cần được kế thừa, bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu
cầu mới hiện nay và những mặt tiêu cực, hạn chế cần phải được loại bỏ dần,
những thiếu hụt cần được bổ sung. Có như vậy, truyền thống dân tộc mới thực
sự đóng vai trò cơ sở, động lực của sự phát triển xã hội trong điều kiện hiện nay.
Thái độ bôi đen hoặc tô hồng, phủ định sạch trơn hoặc bê nguyên xi truyền
thống, lẫn lộn giữa mặt tích cực và mặt tiêu cực hoặc không thấy hết những hạn
chế mang tính lịch sử trong nội dung của các giá trị đạo đức truyền thống đều là
phản khoa học và gây rối loạn trong sự định hướng việc kế thừa và đổi mới các
giá trị đạo đức truyền thống nhằm phục vụ cho yêu cầu của tiến bộ xã hội.
Hai là, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng ta trong việc kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức
truyền thống.
Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí

thống tốt đẹp của cha ông để lại, mà phải khôi phục và phát triển giá trị đích thực
của nó trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin và phục vụ cho yêu cầu của sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Người khẳng định:
“Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì
cũng làm mới.
Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ...
Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý.
Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…
Cái gì mới mà hay, thà ta phải làm”1 .

1

Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr 112 - 113.


21

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng sáng tạo
trong quá trình xây dựng đời sống đạo đức - văn hóa của con người và xã hội
Việt Nam. Quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng ta về kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa của văn
hóa nhân loại là vấn để có ý nghĩa lý luận và phưong pháp quan trọng giúp
chúng ta định hưởng đúng đắn việc kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong điều kiện hiện nay. Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn để cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển
các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi
đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”1.

được chọn lọc và định hình thành bản sắc dân tộc với những đặc điểm, đặc
trưng phân biệt văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, cộng đồng người
này với cộng đồng người khác. Bản sắc văn hóa dân tộc được kết tinh trong
các thành quả vật chất và tinh thần của dân tộc, trong các giá trị vững bền tạo
nên tiềm lực nội sinh của dân tộc ta.
Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống đòi hỏi phải tiếp
cận và tiếp nhận có chọn lọc các giá trị nhân văn mà loài người tiến bộ đang
hướng tới. Đó là thái độ sống tích cực, coi con người là giá trị cao nhất, phát
triển con người bền vững là “mệnh lệnh cao nhất của thế kỷ XXI”; yêu hòa
bình và chống chiến tranh xâm lược; thấm nhuần tư tưởng khoan dung, chống
kỳ thị dân tộc; xác lập và tăng cường quan hệ hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi
giữa các quốc gia dân tộc.
Như vậy, việc quán triệt các yêu cầu cơ bản nêu trên đánh giá đúng truyền
thống trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bám
sát mục tiêu góp phần xây dựng con người và nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và các giá trị
nhân văn của thời đại là điều kiện cần thiết để tự giác hóa quá trình kế thừa và
đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong giai đoạn hiện nay.
2. Một số nội dung cơ bản kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
* Chủ nghĩa yêu nước, như đã khẳng định, là giá trị hàng đầu, giá trị
định hướng của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam. Chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam hình thành từ rất sớm, phát triển cùng với sự phát triển của
dân tộc và luôn được bổ sung để thành một hệ thống với những nội dung xác
định. Đó là một giá trị vững bền nhất của dân tộc ta. Song, cũng như các giá
trị khác, sự bền vững đó không có nghĩa là cố định, bất biến mà nó có sự biến


23



Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội,
2006, tr. 112.


24

Trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc
tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải luôn chú ý giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc. Đảng ta khẳng định rằng: “Đi vào kinh tế thị trường, mở
rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp thu những
tinh hoa của nhân loại, song phải luôn luôn coi trọng những giá trị truyền
thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thành bóng
mờ hoặc bản sao chép của người khác”2.
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta trước đây được phát huy cao độ
trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Trước yêu cầu mới của đất nước hiện nay,
một mặt, phải thường xuyên chăm lo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mặt
khác, phải dồn sức cho nhiệm vụ xây dựng đất nước với ý thức coi nghèo nàn lạc
hậu là nỗi nhục không kém gì nỗi nhục mất nước. Các thế hệ trước đây đã “rửa
được nỗi nhục nô lệ cho dân tộc”, thế hệ ngày nay “phải tiếp nối sự nghiệp của lớp
người đi trước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước
nhà để rửa nỗi nhục nghèo khổ”, mở ra chương sử mới rạng rỡ cho non sông Việt
Nam vinh quang sánh vai cùng các dân tộc khác trên thế giới.
Yêu nước hiện nay là nâng cao lòng tự hào dân tộc, tin tưởng ở tiền đồ
tươi sáng của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu thực
hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Như vậy, Yêu nước hiện nay là phải gắn độc lập dân tộc với sự nghiệp
đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tinh thần
tự tôn dân tộc, từng bước xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, phấn đấu thực hiện mục

Giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc thực sự cho con người
là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là ý nghĩa
cao quý của chủ nghĩa nhân đạo mácxít. Xác định mục tiêu và động lực chính
của sự phát triển là vì con người, do con người, Đảng ta khẳng định quan
điểm đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (Bô sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “Con người là
trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng
và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân
tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” 1. Đồng thời, Đảng chỉ rõ: "Phải
bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người
được phát triển toàn diện"2.
Như vậy, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, truyền thống
1 ,2

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđđ, tr.76, 100.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status