MỤC LỤC
1
A. MỞ BÀI
Luật Tố tụng hành chính năm 2010 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010 và có
hiệu lực vào 01/07/2011 là một bước phát triển trong quá trình hoàn thiện hệ
thống pháp luật nước ta nói chung và pháp luật Tố tụng hành chính nói riêng,
thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính số 49/1996/PLUBTVQH9 ngày21/05/1996. Luật tố tụng hành chính đã sử dụng phương pháp
loại trừ kết hợp với liệt kê để mở rộng đáng kể phạm vi các việc thuộc thẩm
quyền xét xử hành chính sơ thẩm. Mặc dù Luật tố tụng hành chính đã có hiệu
lực thi hành hơn 4 năm nhưng việc đánh giá về sự kế thừa, phát triển và những
hạn chế của các quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính theo quy định của Luật này là cần thiết để có thể kịp thời đưa ra
những giải pháp hợp lý cho việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện Luật có hiệu
quả trong thực tiễn.
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên cũng như nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu
của bản thân, bài tiểu luận này của em xin được trình bày về vấn đề “Thẩm
quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật tố tụng hành
chính năm 2010 và đánh giá tính hợp lý của các quy định này”.
2
B. NỘI DUNG
I. Khái quát thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm
1. Hội đồng xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên của Tòa án khi đã có đủ căn cứ pháp
luật, với mục đích là xác định rõ bản chất vụ án, đưa ra phán quyết đúng pháp
Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;
Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc
-
-
toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy
-
định của pháp luật;
Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố một số hoặc toàn
bộ các hành vi hành chính là trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp
-
luật;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái
pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ
-
theo quy định của pháp luật;
Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc
toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu
nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết lại vụ việc theo quy định
-
thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh,
danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.”
Hợp pháp tức là đúng với pháp luật hay không trái pháp luật. Mọi vấn đề
thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật được coi là có tính hợp pháp khi và chỉ
khi nó được thực hiện theo đúng những yêu cầu mà pháp luật đặt ra. Trong quá
trình quản lý nhà nước, pháp luật đòi hỏi các quyết định hành chính, hành vi
hành chính phải đảm bảo cả hai yêu cầu về tính hợp pháp (phù hợp với quy định
của pháp luật) và tính hợp lý (phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước). Trong
xét xử vụ án hành chính, Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp của các đối tượng
khởi kiện. Khi xét xử vụ án hành chính, Hội đồng xét xử không được làm thay
đổi nội dung của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện mà chỉ có quyền phán quyết về tính hợp
pháp của chúng mà thôi.
Quyết định hành chính là quyết định do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm
quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh
trong hoạt động quản lý, điều hành. Quyết định hành chính luôn luôn mang tính
mệnh lệnh, áp đặt, bắt buộc các đối tượng bị quản lý phải phục tùng, chấp hành.
Do lĩnh vực quản lý, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước rất rộng
lớn, đa dạng cho nên các quyết định hành chính cũng rất đa dạng và phong phú.
5
Tuy nhiên, chỉ những quyết định hành chính nào là quyết định hành chính cá
biệt và phải tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức mới có thể trở thành đối tượng khởi kiện theo Luật Tố tụng hành
chính.
được pháp luật giao cho các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện,
nhưng trong lĩnh vực quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, ngoại giao thì
không phải mọi quyết định hành chính, hành vi hành chính đều liên quan đến bí
mật của nhà nước mà có một số quyết định hành chính, hành vi hành chính
mang tính chất hành chính thông thường. Do vậy, chỉ những quyết định hành
chính, hành vi hành chính liên quan đến bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc
phòng, an ninh, ngoại giao thì mới không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính.
+ Thứ hai, những quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính
nội bộ của cơ quan, tổ chức cũng không phải là đối tượng khởi kiện hành chính.
Các quyết định hành chính, hành vi hành chính này, về bản chất, vẫn là quyết
định hành chính cá biệt hoặc các hành vi do cơ quan hành chính nhà nước,
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành, thực hiện
nhưng lại điều chỉnh các vấn đề trong nội bộ cơ quan áp dụng cho các thành
viên của cơ quan, tổ chức. Đó là các quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều
hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức
đó. Lý do quy định các quyết định, hành vi mang tính nội bộ của cơ quan, tổ
chức không thuộc đối tượng khởi kiện để giải quyết vụ án hành chính tại Toà án
là:
- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính này điều chỉnh các quan
hệ nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, phân công trách nhiệm, quản lý,
điều hành giữa thủ trưởng và nhân viên, phân công trách nhiệm giữa các bộ
phận trong cơ quan hành chính nhà nước chú không điều chỉnh mối quan hệ
giữa cơ quan hành chính với công dân, cơ quan, tổ chức khác (Ví dụ như: việc
điều động, luân chuyển cán bộ, đề bạt, khen thưởng, phân công nhiệm vụ giữa
người đứng đầu cơ quan, tổ chức với cấp phó của họ, giữa lãnh đạo cơ quan, tổ
chức với các phòng ban trong nội bộ cơ quan…). Nếu coi các quyết định hành
chính, hành vi hành chính trên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thì sẽ
7
tham gia phiên toà, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà
-
và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp
Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có
người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có
-
đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội
đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.
8
-
Thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người phiên
-
dịch bị thay đổi mà không có người thay thế ngay;
Người giám định bị thay đổi;
Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiện
được ngay tại phiên toà.
Các trường hợp hoãn phiên tòa phần lớn liên quan đến sự vắng mặt và không
có người thay thế của người tiến hành tố tụng, của đương sự, của người làm
chứng, người giám định, người phiên dịch.
2010. Trường hợp này Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem
xét lý do vắng mặt mà đương sự đưa ra có chính đáng để quyết định có hay
không tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính. Tuy nhiên, pháp luật cũng có
9
quy định các trường hợp vắng mặt đương sự nhưng Tòa án vẫn tiến hành xét xử
-
tại Điều 132 Luật TTHC 2010.
Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan.
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính là việc Tòa án ra
quyết định chấm dứt việc giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ theo quy
định của pháp luật và có thể được ban hành ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình
tố tụng hành chính.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 120 Luật TTHC 2010, Tòa án quyết
-
định đình chỉ vụ án hành chính trong các trường hợp:
Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa
kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng;
Khác với trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án, trong trường hợp này
nếu không có chủ thể nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng thì Tòa án phải ra
quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
-
+ Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;
+ Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;
+ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;
+ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật;
+ Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án;
+ Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu
nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật TTHC 2010;
+ Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 của
Luật TTHC 2010 mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại Điều 108 của Luật TTHC 2010;
+ Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật
TTHC 2010 mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm
ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
4. Xem xét yêu cầu khởi kiện và đưa ra phản hồi
Bác yêu cầu khởi kiện nếu yêu câu đó không có căn cứ pháp luật
Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật TTHC 2010 thì một trong số
những nội dung chính của đơn khởi kiện là “Các yêu cầu đề nghị Tòa án giải
quyết”.
Hội đồng xét xử cần xem xét tính có căn cứ pháp luật của yêu cầu khởi
kiện của người khởi kiện. Nếu những yêu cầu đó hoàn toàn không có căn cứ
pháp luật thì Hội đồng xét xử được quyền từ chối và bác yêu cầu khởi kiện.
11
Như đã nêu ở trên, theo quy định tại khoản 1 Điều 163, “Hội đồng xét xử
xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết
Tương tự như trường hợp trên đối với hành vi hành chính. Hành vi hành
chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền
12
trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ,
công vụ theo quy định của pháp luật. Hành vi hành chính được coi là trái pháp
luật khi cơ quan, cá nhân thực hiện việc mà pháp luật không cho phép hoặc
không thực hiện việc mà pháp luật yêu cầu. Theo đó, Hội đồng xét xử sẽ yêu cầu
cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, cụ thể là
người có hành vi hành chính trái pháp luật phải chấm dứt hành vi trái pháp luật
đó và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái
pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ
theo quy định của pháp luật;
Nếu xét thấy yêu cầu của người khởi kiện hoàn toàn có căn cứ thì Hội
đồng xét xử sẽ tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật và yêu
cầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị coi là trái pháp luật nếu quyết định đó áp
dụng cho đối tượng không có các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của
pháp luật mà thuộc một trong các hình thức xử lý kỷ luật khác nhẹ hơn; hay
quyết định đó sai về thẩm quyền xử lý kỷ luật,…
-
Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc
toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
trái pháp luật; buộc cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu
Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;
Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;
Mức bồi thường;
Hình thức bồi thường.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,
trách nhiệm bồi thường được xác định thông qua các căn cứ sau đây:
-
Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi
hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy
định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà
-
nước;
Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra
đối với người bị thiệt hại.
Đối tượng khởi kiện hành chính chiếm đa số là các quyết định hành chính,
hành vi hành chính. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước diễn ra phức tạp, đa
dạng, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thế nhưng không phải bất
cứ hoạt động quản lý hành chính nào cũng đều có thể phát sinh trách nhiệm bồi
thường. Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quy định các
14
trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp
luật của người thi hành công vụ gây ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà
nước.
Bên cạnh việc bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử có thể khôi phục lại
bản án và quyền kháng cáo. Trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì
sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang
ngôn ngữ mà họ biết.
III. Đánh giá tính hợp lý của các quy định về Thẩm quyền của Hội đồng xét
xử sơ thẩm vụ án hành chính
Luật Tố tụng hành chính 2010 hiện hành đã có hiệu lực thi hành hơn 4 năm
qua và đã thể hiện nhiều ưu điểm cũng như hạn chế. Tuy vậy, việc dành ra 1
điều riêng quy định về Thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành
chính là hoàn toàn hợp lý. Cụ thể tại Điều 163 Luật TTHC 2010 quy định Hội
đồng xét xử sơ thẩm có quyền xem xét tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện;
bác bỏ hoặc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi
kiện dựa trên các căn cứ pháp luật. Nhận thấy, Tòa án nhân dân là cơ quan xét
xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, khi
phát hiện quyết định hành chính trái pháp luật có quyền hủy và yêu cầu cơ quan
hành chính nhà nước giải quyết lại là hoàn toàn hợp lý, vì thực tế, việc sửa đổi
quyết định hành chính là nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà
nước.
Tuy nhiên, như đã phân tích trong bài, ngoài các quyền được quy định tại
Điều 163 Luật TTHC 2010 thì Hội đồng xét xử còn có thẩm quyền khác như
hoãn phiên tòa; đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính;... Vì vậy, cần
xem xét đưa các quyền này quy định thêm trong điều về Thẩm quyền của Hội
đồng xét xử và có thể trích dẫn sang các điều quy định riêng về từng quyền đó
để đảm bảo tính thống nhất, hợp lý trong các quy định của Luật Tố tụng hành
chính.
16
C. KẾT LUẬN
Như vậy, qua bài tiểu luận trên, chúng ta đã phần nào hiểu rõ hơn về
số quy định của Luật Tố tụng hành chính;
6. Ths. Vũ Thị Hòa Giảng viên – Tư vấn viên Trung tâm Tư vấn pháp luật –
Học viện Tư pháp, Đối tượng khởi kiện và thẩm quyền xét xử theo Luật
Tố tụng hành chính 2010.
18