Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay - Pdf 42

B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR

PHM VN HIN

Phát triển KHOA HọC Và CÔNG NGHệ PhụC Vụ NÔNG NGHIệP
ở VùNG Đồng bằng sông hồng hiện nay

LUN N TIN S KINH T

H NI - 2017


MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP Ở VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ KINH NGHIỆM THỰC
TIỄN
1.1.
Lý luận chung về khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp
1.2.
Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát


11

31
31

44

1.3.

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

63

85
85

114

127
127
136
168
171
172
184


STT
01
02

Nhà xuất bản
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thực hành nông nghiệp tốt ở Việt Nam
Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của

Chữ viết tắt
CGCN
CNH, HĐH
USD
ĐBSCL
ĐBSH
ASEAN
KH&CN
KT-XH
EU
NCKH
R&D
Nxb
NN&PTNT
VietGAP
GlobalGAP
OECD

Liên Hiệp Quốc
Tổ chức Thương mại Thế giới
Tổng sản phẩm quốc nội

UNESCO


thải sinh hoạt phân theo vùng
Hình 2.5. Ước tính lượng rơm, rạ ngoài đồng ruộng

112

ở các tỉnh (thành phố) vùng ĐBSH năm 2013

112


5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp ở vùng
Đồng bằng sông Hồng hiện nay” là kết quả nghiên cứu độc lập của tác giả
trên cơ sở tham khảo hơn 100 công trình, tài liệu có liên quan dưới sự định
hướng, giúp đỡ tận tình của tập thể cán bộ hướng dẫn và sự tư vấn của nhiều
nhà khoa học kinh tế trong nước.
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tích cực chuẩn bị những điều kiện cần
thiết về tài liệu, thu thập số liệu thực tiễn và đăng các bài báo khoa học nhằm
công bố từng phần kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Đặc
biệt, đề tài có sự kế thừa và phát triển những nội dung mà tác giả tâm huyết
nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu trong luận văn thạc sĩ của chính tác
giả tại Học viện Chính trị.
Phát triển KH&CN phục vụ nông nghiệp ở vùng ĐBSH là một vấn đề
lớn có thể được tiếp cận theo nhiều phương diện khác nhau. Ở phạm vi đề
tài này, tác giả tiếp cận và giải quyết vấn đề dưới góc độ của chuyên ngành
kinh tế chính trị, xem xét nó với tư cách là một nguồn lực của sự phát triển
nông nghiệp. Theo đó, luận án tập trung giải quyết ba vấn đề lớn: Một là,

ĐBSH là một trong hai vùng nông nghiệp lớn nhất của cả nước với
những đặc điểm, lợi thế về địa lý tự nhiên, khí hậu thổ nhưỡng, truyền thống
canh tác, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực lại có Thủ đô Hà Nội và ở gần các
trung tâm nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo nên càng có nhiều khả năng
và điều kiện để nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu của khoa học công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Với sự ưu tiên, đầu tư của nhà nước, sự nỗ
lực cố gắng của các địa phương trong vùng, những năm vừa qua nhiều thành
tựu của khoa học công nghệ đã được nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất nông
nghiệp tạo nên những bước tiến quan trọng về năng suất, chất lượng và hiệu
quả của sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Tuy nhiên, thực trạng phát triển
của KH&CN phục vụ nông nghiệp ở vùng ĐBSH vẫn chưa thoát ra khỏi tình
trạng lạc hậu. Quy mô, tốc độ và trình độ phát triển của KH&CN còn cách xa
so với mức trung bình trong khu vực và trên thế giới. Rất nhiều vấn đề đặt ra


7
cần phải giải quyết để sự phát triển của KH&CN phục vụ nông nghiệp xứng
tầm với đòi hỏi của một nền nông nghiệp sản xuất lớn, hiện đại và bền vững.
Mặt khác, ĐBSH là vùng có nhiều điểm nóng và là điển hình của vấn đề
nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở Việt Nam hiện nay. Nhiều vấn đề cấp
bách nếu không sử dụng KH&CN sẽ không thể giải quyết có hiệu quả như: ô
nhiễm môi trường nông nghiệp nông thôn; “thực phẩm bẩn”; bảo đảm an ninh
lương thực trong điều kiện tác động của biến đổi khí hậu và đô thị hóa; tìm thị
trường đầu ra cho nông sản; nghiên cứu bảo tồn và phát triển các giống cây
trồng, vật nuôi đặc hữu và các nguồn gene quý hiếm trong nông nghiệp,...
Trước thực trạng đó, phát triển KH&CN phục vụ nông nghiệp, làm cho
KH&CN trở thành phương tiện chủ yếu để nâng cao giá trị gia tăng và là
động lực cơ bản thúc đẩy phát triển nông nghiệp quy mô lớn, hiện đại và bền
vững ở vùng ĐBSH là vấn đề cấp thiết hiện nay. Từ những lý do trên, nghiên
cứu sinh lựa chọn vấn đề “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông

tiếp tục phát triển KH&CN phục vụ nông nghiệp vùng ĐBSH đến năm 2020
và tầm nhìn 2030.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng lý luận cơ bản của kinh tế
chính trị học Mác - Lê nin, tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh và quan điểm, đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế, phát triển KH&CN phục
vụ sự phát triển của các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp.
* Cơ sở thực tiễn: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở kế thừa những
thành tựu từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nước về KH&CN phục vụ nông nghiệp và thực tiễn phát triển KH&CN phục
vụ nông nghiệp ở vùng ĐBSH.
* Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của kinh tế
chính trị học Mác - Lê nin, tập trung chủ yếu vào các phương pháp sau:
Phương pháp duy vật biện chứng: Đây là phương pháp nghiên cứu
chung cho toàn bộ luận án. Theo đó, KH&CN phục vụ nông nghiệp ở vùng


9
ĐBSH được tiếp cận với tư cách là một nguồn lực cơ bản trong phát triển
nông nghiệp, liên tục vận động phát triển không ngừng và có mối quan hệ
biện chứng với các nguồn lực khác.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Với phương pháp này, luận án
chỉ tập trung nghiên cứu về KH&CN phục vụ nông nghiệp theo nghĩa hẹp
(KH&CN phục vụ trồng trọt và chăn nuôi) ở 11 tỉnh (thành phố) vùng
ĐBSH từ năm 2006 đến nay.
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tác giả nghiên cứu lý luận chung về
KH&CN phục vụ nông nghiệp trước khi nghiên cứu những vấn đề cụ thể về
phát triển KH&CN phục vụ nông nghiệp ở vùng ĐBSH. Các nội dung được
phân tích luận giải trong luận án luôn bám sát những nội dung cơ bản phản

cấp kinh nghiệm để có thể vận dụng cho các địa phương khác trong cả nước.
8. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, 3 chương
7 tiết, danh mục các công trình khoa học của tác giả, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.


11
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án
1.1. Các công trình nghiên cứu về phát triển khoa học và công nghệ
Shoichi Yamashita (chủ biên) (1994), “Chuyển giao công nghệ và quản
lý Nhật Bản ở các nước ASEAN”, [115]. Cuốn sách được tác giả Lưu Quý
Tân biên dịch. Nội dung cuốn sách đã bàn trực tiếp đến hoạt động CGCN từ
Nhật Bản vào các nước trong khối ASEAN (Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á). Cuốn sách đã chỉ ra, con đường chủ yếu để Nhật Bản CGCN vào
các nước ASEAN đó là thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp; phân tích làm
rõ cách thức quản lý kiểu Nhật Bản đối với hoạt động CGCN tại các nước
ASEAN trong những năm qua. Cuốn sách còn cho thấy, vấn đề quan trọng ở
đây không chỉ là các công nghệ được chuyển giao mà còn phải tổ chức triển
khai đến từng khâu, từng bước, giám sát chặt chẽ các quy trình, hướng dẫn
tỷ mỉ để đối tượng tiếp nhận nhanh chóng làm chủ các công nghệ được
chuyển giao. Đối với những nước đang phát triển và có nhu cầu lớn về nhập
khẩu công nghệ như nước ta thì bài học nêu trên rất có ý nghĩa nhất là đối
với khu vực nông nghiệp, nông thôn.
UNESCO (2010), “UNESCO Science Report 2010 -The Current Status
of Science around the World” (Báo cáo khoa học của UNESCO năm 2010tình hình thực tế của khoa học trên thế giới), [139]. Cuốn sách là tập hợp
những báo cáo của UNESCO về tình hình phát triển KH&CN trên thế giới
năm 2010. Sau khi trình bày về vai trò ngày càng tăng của tri thức khoa học

Israel đạt được những thành tựu kỳ diệu. Hiện tại, Israel đang nắm giữ những
công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp.
Cuốn sách đã gợi mở cho nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu vào một
số vấn đề trọng yếu trong nông nghiệp như: vấn đề đầu tư cho KH&CN nhất
là công nghệ cao trong nông nghiệp; vấn đề phát huy nhân tố con người đặc
biệt là phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong nông nghiệp; vấn đề liên kết
“Năm nhà” gồm: Nhà nước - Nhà tư vấn - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp
- Nhà nông (mô hình liên kết đặc thù trong nông nghiệp kiểu Israel); vấn đề


13
đào tạo, bồi dưỡng nông dân những kiến thức làm nông nghiệp công nghệ
cao,...Đây thực sự là những kinh nghiệm quý được rút ra từ việc ưu tiên phát
triển KH&CN phục vụ nông nghiệp ở Israel mà các địa phương vùng ĐBSH
có thể nghiên cứu và vận dụng được.
The EU (2013), “Industrial R&D Investment scoreboard” (bảng đánh
giá đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghiệp), [137]. Cuốn sách là những
thống kê của Liên minh châu Âu (EU) về mức độ đầu tư vốn và lợi nhuận của
2.000 công ty hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) hàng
đầu trên thế giới trong năm 2012. Cuốn sách cho thấy, các nước như Mỹ,
Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Trung Quốc và nhiều nước trong Liên
minh châu Âu là những nước có mức độ đầu tư rất lớn cho hoạt động R&D.
Vì vậy, họ là những nước nắm giữ những công nghệ nguồn hàng đầu của thế
giới trên nhiều lĩnh vực (trong đó có khoa học nông nghiệp); xuất khẩu công
nghệ cao đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các công ty đó. Nội dung cuốn
sách gợi mở cho nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu về vấn đề đầu tư cho
KH&CN phục vụ nông nghiệp ở vùng ĐBSH hiện nay.
1.2. Các công trình nghiên cứu về phát triển khoa học và công nghệ
phục vụ nông nghiệp
Yujiro Hayami (1991), “The agricultural development of Japan” (Sự

đã chỉ ra, trong các chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện
nay (chính sách về vốn, thể chế, dịch vụ nông nghiệp, thông tin, tài nguyên...)
thì đầu tư cho KH&CN là “chìa khóa vàng” bảo đảm cho nông nghiệp, nông
thôn phát triển bền vững.
Beverly D. McIntyre (chủ biên) (2009), “International Assessment of
Agricultural Knowledge, Science, and Technology for Development ” (Đánh
giá quốc tế về kiến thức nông nghiệp, khoa học công nghệ và phát triển), [133].
Cuốn sách này đã cung cấp một bức tranh tương đối đầy đủ về tình hình
phát triển nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nội dung cuốn sách
cho thấy, hầu hết các nước có nền nông nghiệp phát triển đều rất quan tâm
và ưu tiên phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, coi đó là giải


15
pháp cơ bản để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất
nông nghiệp. Từ cuốn sách này, nghiên cứu sinh thấy rằng việc bồi dưỡng
kiến thức KH&CN cho nông dân cần phải được tiến hành song song và
đồng thời với việc đưa tiến bộ KH&CN vào nông nghiệp nhất là lĩnh vực
nông nghiệp công nghệ cao. Đây cũng là vấn đề còn tồn tại nhiều bất cập ở
các địa phương vùng ĐBSH.
Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trung Quốc (2010), “Chính sách khoa học kỹ thuật nông nghiệp của Trung
Quốc đến năm 2010”, [114]. Đây là cuốn sách do Vụ Khoa học Công nghệ
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trung Quốc phát hành được tác
giả Nguyễn Quang Thọ biên dịch. Nội dung cuốn sách đã giới thiệu và
phân tích khá đầy đủ về những chính sách mà Chính phủ và chính quyền
các địa phương của Trung Quốc sử dụng để thúc đẩy sự phát triển của
KH&CN phục vụ nông nghiệp. Dựa trên bài học thành công trong việc gỡ
“nút thắt” về cơ chế, chính sách phát triển KH&CN trong nông nghiệp của
Trung Quốc, nghiên cứu sinh nhận thấy cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu

nông nghiệp, các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực phát triển
nông nghiệp, nông thôn và CGCN. Từ góc độ tiếp cận của kinh tế chính sách,
tác giả đã luận giải khá sâu sắc các vấn đề lý luận cơ bản như: Vì sao cần phải
đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp? Nhu cầu và
khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của nông dân nước ta hiện nay ra sao?
Hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân hiện nay
cần đạt được yêu cầu gì, hướng tới mục tiêu nào? Đây là những nội dung
rất thiết thực trong nông nghiệp hiện nay, đồng thời cũng là những hạn chế
và bất cập mà nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc thêm ở
các địa phương vùng ĐBSH.
Phạm Đức Nghiệm (chủ biên) (2011), “Đổi mới phương thức chuyển
giao công nghệ phát triển nông, lâm nghiệp vùng Tây Nguyên”, [73]. Nội
dung cuốn sách trình bày khá toàn diện cả về lý luận, thực trạng và quan


17
điểm giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng, CGCN phục vụ phát triển sản
xuất nông, lâm nghiệp vùng Tây Nguyên. Đặc biệt, các tác giả đã tập trung
phân tích khá sâu sắc lý thuyết về ứng dụng, CGCN; các phương pháp ứng
dụng, CGCN; kinh nghiệm của Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc về ứng
dụng, CGCN phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng bền vững, từ
đó rút ra bài học cho vùng Tây Nguyên.
Từ cuốn sách này, nghiên cứu sinh đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề ứng
dụng và CGCN vào sản xuất nông nghiệp; nghiên cứu về những vấn đề lý
luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tìm ra những hạn
chế, vướng mắc trong việc chuyển giao và ứng dụng KH&CN hiện đại vào
sản xuất nông nghiệp ở các địa phương vùng ĐBSH.
Tạ Bá Hưng (chủ biên) (2012), “Khoa học và công nghệ phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững”, [44]. Điểm nổi bật của
công trình này ở chỗ đã nghiên cứu tương đối có hệ thống về tình hình và xu

nghiệp bền vững cũng như xây dựng nông thôn mới ở vùng ĐBSCL.
Nguyễn Hữu Thụ (chủ biên) (2013), “Nhu cầu áp dụng thành tựu khoa
học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp và thái độ của nông dân đối
với chính sách thu hồi đất của nhà nước”, [104]. Nội dung cuốn sách đã đề
cập đến khá nhiều vấn đề cấp thiết trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn
nước ta hiện nay như: vấn đề đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho nông
dân sau khi bị thu hồi đất; vấn đề về hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và thu
nhập của nông dân hiện nay; vấn đề vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm của
nông nghiệp. Cuốn sách đã khẳng định, mặc dù có nhu cầu lớn đối với việc áp
dụng thành tựu của KH&CN tiên tiến vào sản xuất, song phần lớn nông dân
nước ta hiện nay vẫn chưa thể tiếp cận được với các loại công nghệ tiên tiến
hiện đại. Nguyên nhân của thực trạng trên gồm cả khách quan và chủ quan,
trong đó quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ bé, tính chất sản xuất vẫn còn
manh mún và phân tán, thiếu sự gắn kết giữa sản xuất với thị trường là những


19
nguyên nhân cơ bản làm cho sức sản xuất của nông nghiệp thấp, khả năng
cạnh tranh của ngành nông nghiệp không cao và cản trở việc áp dụng
KH&CN hiện đại vào sản xuất.
Đường Hồng Dật (2013), “Xây dựng và nhân rộng mô hình ứng
dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và
nông thôn”, [22]. Cuốn sách đã trình bày cơ sở lý luận của việc đưa
tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp, làm rõ những tác động tích
cực của việc xây dựng và nhân rộng mô hình ứng dụng các tiến bộ
KH&CN vào sản xuất nông nghiệp và nông thôn. Đồng thời, tác giả
cuốn sách còn làm rõ tình hình xây dựng và nhân rộng các mô hình
tiến tiến trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong những năm vừa
qua; chỉ ra các yếu tố đảm bảo thành công cho việc xây dựng mô hình
ứng dụng công nghệ mới và tác dụng của mô hình đó; các yếu tố và

và đề xuất một số giải pháp để phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam
trong những năm tới.
Hồ Đức Việt (chủ biên) (2010), “Xây dựng, phát triển thị trường khoa
học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
[113]. Cuốn sách đã đề cập tổng quan về tình hình nghiên cứu và phát triển thị
trường KH&CN; phân tích cơ sở khoa học, các yếu tố và điều kiện thúc đẩy
sự hình thành và phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam. Đồng thời, cuốn
sách cũng trình bày các phân tích, đánh giá về cơ chế, chính sách kinh tế nói
chung, cơ chế chính sách về KH&CN nói riêng có tác động đến sự hình thành
và hoạt động của thị trường KH&CN nước ta hiện nay. Ngoài ra, cuốn sách
đã đề cập đến kinh nghiệm tổ chức thị trường KH&CN ở một số nước trên thế
giới, phân tích hiện trạng một số mô hình thị trường KH&CN đang hoạt động
ở nước ta và trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp hợp lý để tổ chức và
quản lý thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới. Nội dung cuốn
sách đã gợi mở để nghiên cứu sinh đi sâu nghiên cứu về thực trạng hoạt động


21
của thị trường KH&CN trong nông nghiệp ở vùng ĐBSH, trên cơ sở đó
làm rõ quan hệ cung - cầu về các sản phẩm KH&CN phục vụ nông nghiệp
ở các địa phương trong vùng.
Trần Văn Khanh (chủ biên) (2010), “Công nghệ sau thu hoạch lúa
gạo ở Việt Nam”, [49]. Đây là cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu dưới góc
độ kinh tế kỹ thuật. Nội dung cuốn sách phản ánh khá toàn diện về công
nghệ sau thu hoạch lúa gạo ở nước ta. Sau khi đánh giá tổng quan về tình
hình sử dụng công nghệ sau thu hoạch lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam,
các tác giả đã tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng, chỉ ra thành tựu, hạn
chế và nguyên nhân trong phát triển công nghệ sau thu hoạch lúa gạo ở nước
ta hiện nay. Đồng thời, các tác giả đã xây dựng mô hình giả thiết và tính toán
một cách kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế của việc áp dụng công nghệ sau thu

vấn đề ô nhiễm môi trường trong nông nghiệp và nông thôn; mức độ thu
nhập của lao động nông nghiệp. Những hạn chế của nông nghiệp, nông dân
và nông thôn mà cuốn sách đã chỉ ra là rào cản không nhỏ đối với quá trình
chuyển giao và ứng dụng tiến bộ KH&CN vào nông nghiệp ở nước ta.
Lê Xuân Định (chủ biên) (2014), “Khoa học và công nghệ Việt Nam
2014”, [35]. Cuốn sách là những thống kê về kết quả hoạt động KH&CN
cùng với sự quản lý của nhà nước về KH&CN ở nước ta trong năm 2014.
Cuốn sách đã tập hợp những số liệu điều tra chính thức của nhà nước về
hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và nguồn nhân lực KH&CN
của nước ta cho đến thời điểm cuối năm 2014. Đồng thời, cuốn sách
cũng cung cấp một số kết quả chủ yếu của hoạt động KH&CN trong năm
2014 của nước ta trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa
học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học nông nghiệp,
khoa học y - dược và một số kết quả điều tra nhận thức của công chúng
về KH&CN. Đây là những cứ liệu quan trọng để nghiên cứu sinh tiến
hành phân tích, so sánh và làm nổi bật mức độ quan tâm, đầu tư của nhà
nước và toàn xã hội đối với sự phát triển của KH&CN phục vụ nông
nghiệp nói chung, ở vùng ĐBSH nói riêng.


23
2.3. Các công trình đề cập về giải pháp phát triển khoa học và công
nghệ phục vụ nông nghiệp
Lê Cao Thanh (2003), “Các giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn
2003-2010”, Luận án tiến sĩ kinh tế, [93]. Đây là công trình nghiên cứu khá
tỷ mỉ về vấn đề chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất lúa ở vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Tác giả luận án đã đề xuất một hệ giải pháp tương
đối đồng bộ và đầy đủ nhằm đẩy mạnh hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật cho sản xuất lúa trên các vấn đề như: hoàn thiện cơ chế, chính sách

nông nghiệp của nông dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội chợ
công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp. Cuốn sách đã giúp nghiên cứu sinh
có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động của thị trường KH&CN trong nông nghiệp - một trong những
giải pháp mà luận án sẽ trình bày.
Đoàn Xuân Thủy (chủ biên) (2011), “Chính sách hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp ở Việt Nam Hiện nay”, [105]. Trong hệ thống các chính sách hỗ trợ sản
xuất nông nghiệp mà cuốn sách đã trình bày, chính sách về KH&CN được các
tác giả phân tích khá sâu sắc. Trên cơ sở đánh giá về thực trạng của chính sách
KH&CN phục vụ nông nghiệp trong thời gian qua, nhóm tác tác giả đã đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách này trên những vấn đề cơ
bản như: tăng đầu tư ngân sách cho phát triển KH&CN, đổi mới cơ chế quản lý
nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học; tập trung nghiên cứu những vấn đề
trọng tâm, tạo nhiều đột phá về KH&CN để đưa vào sản xuất; cải tổ các cơ
quan nghiên cứu công lập; hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách và
quản lý của hệ thống khuyến nông, khuyến ngư; phát triển đội ngũ cán bộ khoa
học kỹ thuật cho nông nghiệp, nông thôn. Tuy mới chỉ dừng lại ở dạng những
kiến nghị, song những giải pháp nêu trên là những gợi ý quan trọng để nghiên
cứu sinh tiến hành xây dựng hệ thống các giải pháp mang tính tương đối đồng
bộ và hoàn chỉnh nhằm thúc đẩy KH&CN phục vụ nông nghiệp ở vùng ĐBSH.


25
Phạm Bảo Dương (2012), “Chính sách nghiên cứu, chuyển giao và ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật: Chìa khoá phát triển nông nghiệp thế kỷ XXI”, [26].
Đây là cuốn sách chuyên khảo phục vụ cho các nhà lãnh đạo, quản lý, các
nhà khoa học và những người làm công tác nghiên cứu. Nội dung cuốn sách
đã trình bày một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của hoạt động
nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để phát triển nông
nghiệp trong điều kiện mở rộng hội nhập. Sau khi phân tích làm rõ cở khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status