ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Vĩnh Phúc, ngày 5 tháng 9 năm 2014
ĐỀ ÁN
Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh vay vốn để đầu tư đổi
mới công nghệ, thiết bị sản xuất giai đoạn 2014 - 2020, thông qua hình thức
mở rộng quy mô Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc
(Kèm theo quyết định số 2419/QĐ-UBND ngày 05/9/2014 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc)
Phần thứ nhất:
CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
A. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN.
Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội khóa XI, kỳ
họp thứ 8 năm 2005 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13, ngày 18 tháng 6 năm
2013 của Quốc hội khóa XIII;
Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội
khoá XII;
Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm
2006 của Quốc Hội Khoá XI;
Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về một số
chính sách chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào KH&CN;
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp
phát triển DNNVV;
Đảng bộ tỉnh khóa XV về phát triển DNNVV).
2. Về vị trí, DNNVV là bộ phận cấu thành không thể thiếu được và chiếm
giữ vị trí rất quan trọng của nền kinh tế với những lợi thế như: bộ máy tổ chức gọn
nhẹ; không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư; việc đổi mới thay thế công nghệ, kỹ thuật sản
xuất dễ dàng và thuận tiện; có lợi thế là phân bổ đều khắp các vùng dân cư ở địa bàn
9 huyện, thành, thị; dễ thích nghi và thích ứng nhanh với những biến động của thị
trường. DNNVV có thể khai thác thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn và các tiềm năng
tại chỗ cho phát triển, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần
quan trọng trong xoá đói giảm nghèo, giải quyết nhiều việc làm cho người lao
động ở mọi lứa tuổi, nhất là độ tuổi khó tiếp cận khoa học, công nghệ cao nếu
được phát huy tốt sẽ đóng góp một phần cho ngân sách nhà nước và góp phần
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh. DNNVV phát triển tốt sẽ
liên tục tái đầu tư, mở rộng tạo ra nội lực cho nền kinh tế, là yếu tố cốt yếu cho sự
phát triển ổn định bền vững.
3. Hiện trạng các DNNVV trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế, khó khăn,
thách thức như: quy mô nhỏ, trình độ quản lý còn thấp, thiếu tính chuyên nghiệp,
tiếp cận vốn rất khó khăn, trình độ công nghệ, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, sức
2
cạnh tranh kém. Sự phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh chưa tương xứng với thế
mạnh của tỉnh và chưa được đặt đúng với vai trò và vị trí của nó.
Thực trạng này đã và đang đặt ra những thách thức lớn đối với năng lực
cạnh tranh của khu vực DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu
rộng hiện nay khi chúng ta phải tuân thủ các nguyên tắc trong lộ trình gia nhập
các tổ chức WTO, APEC và AFTA; đặc biệt sẽ không làm tốt việc giải quyết
việc làm, dư thừa lao động cho nhiều lứa tuổi, độ tuổi trong xã hội hiện nay.
4. Nhằm phát huy hơn nữa các thế mạnh và khắc phục những hạn chế nêu
trên của DNNVV, tận dụng những cơ hội và vượt qua thách thức đặt ra trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội và tái cơ cấu nền kinh tế, tỉnh Vĩnh Phúc đã có
Với sự tư vấn, giám sát của Quỹ thời gian qua đã tạo điều kiện cho Chủ
đầu tư mua sắm được công nghệ, dây truyền sản xuất hiện đại, giúp doanh
nghiệp hạ giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, do vậy thu được lợi
nhuận cao hơn và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Đồng thời với một lượng vốn vay không nhiều từ Quỹ, mang tính vốn
mồi, kích thích nguồn vốn tự huy động của các doanh nghiệp, đã hỗ trợ, giúp
Chủ đầu tư huy động được nhiều nguồn vốn khác để thực hiện Dự án đổi mới
công nghệ. Mặt khác với hình thức cho vay và phải bảo toàn vốn cũng là hình
thức đổi mới cơ chế tài chính hiên nay với mục tiêu đa dạng hóa và khai thác tối
ưu các nguồn vốn trong hoạt động KH&CN.
Phần thứ hai
THỰC TRẠNG, TRÌNH ĐỘ KH&CN CỦA CÁC DNNVV.
THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG QUỸ KH&CN
I. THỰC TRẠNG CÁC DNNVV TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
1. Khái quát chung
Kết quả nghiên cứu của các Đề án, Dự án về DNNVV trên địa bàn tỉnh
đến năm 2020 đã cho thấy hiện trạng như sau:
1.1. Về Quy mô
Hiện nay có tổng số 3.022 DNNVV đang hoạt động (đến tháng 6/2012), trong
đó:
Quy mô vừa: 75 doanh nghiệp (chiếm 2,48% so với tổng số); Quy mô nhỏ: 909
doanh nghiệp (chiếm 30,08% so với tổng số); Quy mô siêu nhỏ: 2.038 doanh nghiệp
(chiếm 67,44% so với tổng số).
1.2. Về tốc độ tăng trưởng
- Số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ bình quân giai đoạn 2006-2011 tăng 31,7%,
doanh nghiệp nhỏ bình quân tăng 12,25%, doanh nghiệp vừa bình quân tăng 15,05%.
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng chậm hơn so với tốc độ tăng doanh nghiệp
Lợi nhuận trước thuế: 2.085,5 tỷ đồng, trong đó công ty TNHH: 607,13 triệu
đồng; công ty cổ phần: 1.139,32 triệu đồng; DNTN: 339,05 triệu đồng.
1.6. Đóng góp vào ngân sách nhà nước
Kết quả thu nộp ngân sách Nhà nước hàng năm chiếm gần 4% tổng thu
ngân sách. Số lượng DNNVV hoạt động xuất khẩu tăng từ 45 doanh nghiệp năm
2005 lên 147 doanh nghiệp năm 2010, năm 2011 có 161 doanh nghiệp, chiếm
trên 3% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Giá trị xuất khẩu của các
DNNVV tăng từ 48 triệu USD năm 2005 lên 76,25 triệu USD năm 2010, năm
5
2011 đạt 79,8 triệu USD chiếm gần 14% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của
tỉnh.
(Nguồn: Báo cáo của sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các khu CN
qua các năm)
2. Đánh giá chung về các DNNVV trên địa bàn tỉnh:
2.1.Điểm mạnh
Sự phát triển tích cực của DNNVV trong thời gian qua đã khẳng định
đây là khu vực có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, là khu vực
thu hút nhiều việc làm (nhất là lực lượng lao động tại chỗ với nhiều thành phần
và độ tuổi, trình độ đào tạo khác nhau), đẩy nhanh quá trình chuyển dịch phần
lớn lao động nông nghiệp, nông thôn sang làm công nghiệp, dịch vụ giúp
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phát triển công nghiệp chế tạo và
ngành nghề mới, góp phần tích cực giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động nông thôn, người nghèo thành thị, từ đó nâng thêm mức
sống cho bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp, góp phần quan trọng trong xoá
đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội, góp phần cho tăng trưởng GDP và
nguồn thu ngân sách.
DNNVV có tính năng động, linh hoạt với sự biến động nhu cầu của thị
2.2. Điểm yếu
Bộ phận phần lớn các DNNVV trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ về cả
vốn và lao động; năng lực sản xuất, quản lý điều hành, quản trị hạn chế, năng
suất lao động thấp do thiếu đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, sức cạnh tranh
của hàng hóa còn hạn chế, chưa có được sự đầu tư theo chiều sâu về khoa học
công nghệ và thiết bị sản xuất tiên tiến. Hàm lượng khoa học - công nghệ trong
sản xuất các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm nông nghiệp của các doanh nghiệp
còn ở mức thấp. Quá trình sản xuất còn gây thất thoát và tiêu hao nhiều tài
nguyên, năng lượng, mẫu mã không đa dạng, chậm thay đổi so với thị hiếu của
khách hàng.
Phần lớn lao động trong các DNNVV có tay nghề thấp, thiếu lao động kỹ
thuật có trình độ cao. Đội ngũ cán bộ quản lý còn yếu về năng lực tư duy xây
dựng kế hoạch và xác định tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh. Đó là nguyên
nhân khiến việc xác định mục tiêu tăng trưởng và khả năng đầu tư mở rộng sản
xuất kinh doanh trong dài hạn của doanh nghiệp thiếu sáng tạo, thiếu năng động,
do vậy chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm quản lý, quản trị hiện đại. Điều kiện
môi trường, phương tiện làm việc còn khó khăn và chưa chuyên nghiệp. Chưa đáp
ứng được các tiêu chuẩn của các hệ thống quản lý chất lượng (bao gồm cả ISO
9001-2000, HACCP) và xây dựng thương hiệu. Quan hệ hợp tác, sự phối hợp, liên
doanh trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp còn hạn chế. Do vậy, kiến
thức và kinh nghiệm quản lý, quản trị hiện đại và điều kiện môi trường làm việc
chuyên nghiệp chưa có tác động lan tỏa giữa các doanh nghiệp với nhau. Tình trạng
cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực
7
nên khó tạo được sức mạnh tổng hợp của cả khu vực kinh tế này trên cơ sở phát huy
lợi thế so sánh của từng doanh nghiệp.
Khả năng tích tụ vốn thấp và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ
Xuất xứ công nghệ chủ yếu là của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan một
vài công ty có công nghệ hoàn toàn của Việt Nam.
1.5.Lĩnh vực điện, điện tử
Xuất xứ công nghệ yếu là của nước ngoài như: của Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trung Quốc
1.6. Về lĩnh vực khác
Xuất xứ công nghệ chủ yếu là của các nước trong khối EU, Hàn Quốc,
Nhật Bản.
2. Về mức độ tiên tiến hiện đại của dây chuyền thiết bị:
2.1.Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng:
Qua khảo sát, dây chuyền thiết bị của các doanh nghiệp vừa, phần lớn các
công đoạn của quá trình sản xuất đều được cơ giới hoá, vì vậy số lượng công
nhân trong mỗi ca làm việc rất ít, chỉ vài chục người, chủ yếu ở công đoạn phân
loại, vận chuyển sản phẩm vào kho.
2.2. Lĩnh vực cơ khí
Qua khảo sát, dây chuyền thiết bị của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cơ
khí còn mới (từ 1 đến dưới 10 năm) là 25/31DN (80,6%). Ở một số doanh nghiệp
đã ứng dụng công nghệ cao thiết bị điều khiển lập trình bằng máy vi tính, ứng
dụng các thiết bị bức xạ hạt nhân để kiểm tra chất lượng sản phẩm .... Tuy nhiên,
mức độ tự động hoá của các doanh nghiệp chưa cao, vẫn còn nhiều công đoạn
thủ công.
2.3.Lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, thực phẩm
Qua khảo sát, dây chuyền thiết bị của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực chế
biến nông lâm sản rất thấp.
2.4.Lĩnh vực dệt may, da giầy, giấy
Qua khảo sát, dây chuyền thiết bị của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dệt
may nhìn chung là thấp, phần lớn là các máy may đơn lẻ, sử dụng nhiều lao
động.
2.5.Lĩnh vực điện, điện tử
doanh nghiệp được điều tra, khảo sát chưa cao. Thể hiện ở chỗ mức độ tự động
hóa thấp, sử dụng nhiều lao động thủ công.
3.6. Về lĩnh vực khác
100% các doanh nghiệp cho rằng với công nghệ và thiết bị là phù hợp,
nhưng chỉ có 14/17 doanh nghiệp (82,4%) cho rằng, công nghệ, thiết bị đồng bộ.
4. Về chất lượng thiết bị:
4.1. Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng:
10
Chất lượng thiết bị ở đây được đánh giá theo tỷ lệ % còn lại so với thiết bị
mới. Qua điều tra, khảo sát, thì phần lớn thiết bị của các doanh nghiệp còn lại
khoảng 70 -80%. Tuy nhiên, số doanh nghiệp mà giá trị thiết bị còn lại dưới 70%
cũng không nhỏ (8 doanh nghiệp, chiếm 40% so với tổng số doanh nghiệp điều
tra), một số thiết bị được sản xuất từ năm 1990-1992.
4.2. Lĩnh vực cơ khí
Chất lượng thiết bị ở đây được đánh giá theo tỷ lệ % còn lại so với thiết bị
mới. Qua điều tra, khảo sát, thì phần lớn thiết bị của các doanh nghiệp 19/31DN
còn lại khoảng 70 -80%; có 6 DN thì giá trị thiết bị còn lại 80 - 90%. Tuy nhiên,
số doanh nghiệp mà giá trị thiết bị còn lại dưới 70% cũng có 6 doanh nghiệp,
chiếm 19,4% so với tổng số doanh nghiệp điều tra.
4.3. Lĩnh vực chế biến nông, lâm sản, thực phẩm
Nhìn chung, thiết bị của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này còn rất thấp.
Qua đánh giá có 5 doanh nghiệp (41,7%) chất lượng thiết bị còn lại dưới 70% .
4.4.Lĩnh vực dệt may, da giầy, giấy
Qua đánh giá, phần lớn các doanh nghiệp (10/13, chiếm 76,9%) chất
lượng thiết bị còn lại 70 - 80%.
4.5. Lĩnh vực điện, điện tử
Nhìn chung, chất lượng thiết bị của các doanh nghiệp trong lĩnh vực điện,
điện tử còn giá trị từ 70% trở lên chiếm tỷ lệ cao.
6.2. Với các quy định trên đây, chỉ có 20/100 doanh nghiệp (20%) cơ bản
đáp ứng. Mặc dù, số doanh nghiệp mà công nghệ, thiết bị còn lạc hậu chiếm tỷ lệ
cao (80%), nhưng số doanh nghiệp đề xuất đổi mới công nghệ cũng thấp chỉ có
15/100 doanh nghiệp (15%).
- Xuất xứ công nghệ của tất cả các lĩnh vực đa phần từ các nước châu Á,
như Trung quốc, Đài Loan, Nhật bản, Hàn Quốc... một số ít thuộc các lĩnh vực
sản xuất vật liệu xuất sứ từ châu Âu và Mỹ.
- Doanh nghiệp sử dụng công nghệ đa phần là công nghệ thấp do vậy tạo ra
giá trị gia tăng thấp, chưa có tiềm lực để phát triển; doanh nghiệp hoạt động trong
ngành công nghiệp hỗ trợ còn chiếm tỷ lệ thấp.
6.3. Điểm hạn chế của các doanh nghiệp là chưa đầu tư mạnh vào nghiên
cứu và phát triển công nghệ. Các lao động trong tỉnh không được tiếp cận các
công nghệ hiện đại, tiến tới làm chủ và nắm bắt các công nghệ tương tự. Về sản
xuất thì chưa tạo ra được các sản phẩm có giá trị hiệu quả kinh tế cao.
- Công tác bảo vệ môi trường tuy đã được các doanh nghiệp chú ý, nhưng
ở một số doanh nghiệp, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức
12
khỏe người lao động như bụi, tiếng ồn, nhiệt độ còn cao; xử lý nước thải sản xuất
chưa triệt để.
6.4. Nguyên nhân của các hạn chế thì có nhiều nguyên nhân như cơ chế
chính sách của Nhà nước về đầu tư và phát triển khoa học công nghệ còn chưa
được cụ thể hóa, chưa khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công
nghệ, nhưng nguyên nhân lớn nhất là thiếu vốn. Trừ các doanh nghiệp FDI còn lại
hầu như các Doanh nghiệp DDI đều không đủ vốn để đầu tư mua sắm các dây
chuyền thiết bị và công nghệ hiện đại.
Vì nguồn vốn hạn chế nên các DNNVV trên địa bàn tỉnh hoạt động chủ yếu
trong các ngành có giá trị gia tăng thấp và sử dụng nhiều lao động. Thực tế đầu tư của
Giúp việc cho Cơ quan Điều hành có Văn phòng Quỹ. Văn phòng Quỹ do
Hội đồng quản lý bổ nhiệm. Ngoài ra Quỹ còn phối hợp với Ngân hàng Thương
mại trong việc triển khai cho vay và thu hồi vốn vay, xử lý vi phạm và rủi ro...
- Hội đồng thẩm định do Hội đồng quản lý bổ nhiệm, là cơ quan tư vấn
cho Hội đồng quản lý Quỹ để thẩm định nội dung công nghệ và tài chính các hồ
sơ xin tài trợ, vay vốn của Quỹ. Trong Hội đồng thẩm định có thành viên là các
chuyên gia và kỹ sư có trình độ cao về khoa học và công nghệ và tài chính, ngân
hàng.
- Ban Kiểm soát do Hội đồng quản lý bổ nhiệm, có trách nhiệm và quyền
hạn: kiểm tra và báo cáo Hội đồng quản lý Quỹ về tình hình thực hiện Quy chế
điều lệ của Quỹ, các quyết định của Hội đồng quản lý.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ:
Quỹ có chức năng nhiệm vụ: tài trợ, cho vay để khuyến khích các hoạt
động khoa học công nghệ do tổ chức, cá nhân đề xuất, góp phần tích cực thúc
đẩy phát triển KH&CN, KT - XH trên địa bàn tỉnh.
1.3. Địa vị pháp lý
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ tỉnh trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh,
có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà
nước và các ngân hàng thương mại. Trụ sở của Quỹ đặt tại Thành Phố Vĩnh Yên
- Tỉnh Vĩnh Phúc. Sở Khoa học và Công nghệ được UBND tỉnh ủy quyền quản
lý nhà nước các hoạt động chung của Quỹ.
2. Kết quả hoạt động:
Sau 5 năm đi vào hoạt động, cho đến nay, Quỹ đã cho vay đầu tư được 14
Dự án ứng dụng KH&CN trên địa bàn tỉnh (đều là các Dự án ứng dụng kết quả
nghiên cứu KH&CN từ các Đề tài của tỉnh và của Bộ Khoa học và Công nghệ);
với tổng số vốn cho vay hơn 5,3 tỷ đồng, thuộc các lĩnh vực trọng điểm trong Kế
hoạch phát triển KT - XH của tỉnh như: Phát triển làng nghề truyền thống (Rắn
Vĩnh Sơn; Gạo Long Trì); Nuôi trồng các giống cây, con đặc sản của từng vùng,
miền (Lợn rừng, cá Tầm Tam Đảo); Chăn nuôi an toàn sinh học (Trang trại chăn
nuôi tổng hợp); Sử dụng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường (Lò gạch liên
vốn đầu
tư (%)
1
Mở rộng mô hình nuôi rắn hổ mang sinh sản
2009
2.000
500
25
2
Mở rộng mô hình nuôi lợn rừng sinh sản
2010
1.000
320
32
3
Xây dựng lò nung gạch liên tục kiểu đứng hiệu
2.000
350
17,5
6
Xây dựng trang trại chăn nuôi lợn thịt theo
hướng công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường
2010
1.500
350
23,3
7
Xây dựng lò nung gạch liên tục kiểu đứng hiệu
suất cao tiết kiệm năng lượng
2011
2.500
500
Đầu tư xây dựng, cải tạo dây truyền sản xuất bia 2011
Winger, nhằm tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu ô
nhiễm môi trường.
3.200
500
15,6
11
Ứng dụng KH&CN để sản xuất chế phẩm EM 2012
thứ cấp phục vụ Nông nghiệp và sử lý môi
trường nông thôn trong tỉnh
700
300
42,8
12
Mở rộng mô hình nuôi rắn hổ mang sinh sản giai 2013
đoạn 2
3.000
500
8.33
5.800
18,78
3. Những đóng góp của Quỹ:
3.1. Góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về KH&CN:
Việc thành lập Quỹ thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo UBND tỉnh và lãnh
đạo các cấp, các ngành đối với lĩnh vực KH&CN. Đã hiện thực hóa được mục
tiêu đẩy mạnh áp dụng các kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu khoa học,
các sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh. Tập trung vào các thế
mạnh cây con của các vùng miền, lợi thế các DN; hay các vấn đề bức xúc hiện
nay trong xã hội như: Tiết kiệm năng lượng, hạn chế chất thải BVMT; Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng; Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân...
Với một lượng vốn vay mới từ Quỹ, với lãi suất thấp mang tính hỗ trợ, và
uy tín của công nghệ hiện đại, đã giúp doanh nghiệp huy động được nhiều nguồn
vốn khác để thực hiện Dự án. Mặt khác với mục đích cho vay và phải bảo toàn
vốn cũng là hình thức đổi mới cơ chế tài chính và đa dạng các nguồn vốn trong
hoạt động KH&CN.
3.2. Đã hình thành được một kênh tài chính mới đáp ứng cho nhu cầu
thực hiện nhiệm vụ KH&CN.
Từ trước khi Quỹ ra đời, kinh phí dành cho nhiệm vụ KH&CN chủ yếu là
cấp phát, cho không. Với Quy chế Tài chính được vay - phải trả, bắt buộc các
đơn vị thực hiện nhiệm vụ KH&CN phải tăng cường hoạt động quản lý để bảo
tồn và phát triển nguồn vốn của mình, do đó các nhiệm vụ KH&CN sẽ hiệu quả
hơn rất nhiều.
Ngoài ra với nguồn vốn vay được từ Quỹ sẽ giúp các đơn vị huy động
thêm được nhiều vốn hơn từ các nguồn khác, đáp ứng cho nhu cầu đổi mới công
DNNVV để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh
trên thị trường mở rộng quy mô đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Góp
phần giải quyết nhiều việc làm và đa dạng trong đối tượng tham gia làm việc;
góp phần ổn định an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
1.3. Hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu; đẩy mạnh chuyển giao, đầu tư
đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, tạo điều kiện ưu tiên cho các doanh
nghiệp bước đầu áp dụng công nghệ cao vào sản xuất; đẩy nhanh việc thực hiện
các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến tới
các DNNVV, khuyến khích hợp tác và chia sẻ công nghệ giữa DNNVV, doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI.
1.4. Phấn đấu trong 5 - 10 năm liên tục tạo ra một bộ phận, hệ thống
DNNVV có vốn đầu tư trong nước (DDI) đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh tạo ra sản
phẩm có giá trị gia tăng ngày càng cao, đóng góp được nhiều cho ngân sách nhà
nước.
2. Mục tiêu cụ thể:
17
2.1. Góp phần thực hiện mục tiêu của Kế hoạch 4589/KH - UBND triển
khai thực hiện NQ 04/TU:
- Đến hết năm 2015 DNNVV đóng góp từ 11 - 15% GDP của tỉnh; từ 6 8% tổng thu ngân sách tỉnh. Tạo thêm từ 25 đến 30 nghìn việc làm mới.
- Đến năm 2020: DNNVV đóng góp từ 15 - 20% GDP của tỉnh; từ 10 15% tổng thu ngân sách tỉnh. Tạo thêm 60 - 70 nghìn việc làm mới.
2.2. Các mục tiêu cụ thể của Đề án:
2.2.1. Từ năm 2015 đến 2017: Mỗi năm thẩm định, phê duyệt từ 15 đến 18
Doanh nghiệp (DN) vay vốn. Trong 3 năm sẽ cho vay được khoảng 50 Dự án.
Tổng số tiền là 100 tỷ đồng.
2.2.2. Từ năm 2018 đến 2020: Mỗi năm thẩm định phê duyệt từ 25 đến 30
DN vay vốn. Trong 3 năm sẽ cho vay được khoảng 70 Dự án. Tổng số tiền là
140 tỷ đồng.
nghiệp trong năm vay vốn, không tính những người có thời gian làm việc dưới
03 tháng.
- Lĩnh vực sản xuất: là khu vực hoạt động tạo ra cơ sở vật chất trong nền
kinh tế quốc dân bao gồm: chế biến, chế tạo, lắp ráp và các ngành công nghiệp
hỗ trợ.
- Khoa học: là hệ thống tri thứcphản ánh về bản chất, quy luật tồn tại và
phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Công nghệ: là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không
kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
- Công nghệ sản xuất: được chia thành bốn nhóm thành phần cơ bản:
Nhóm thiết bị công nghệ thể hiện trong máy móc, công cụ, phương tiện viết tắt
là T (Technoware); nhóm nhân lực thể hiện trong năng lực tiếp thu kỹ thuật công
nghệ phục vụ sản xuất viết tắt là H (Humanware); nhóm thông tin thể hiện trong
các tài liệu, dữ liệu thông tin viết tắt là I (Infoware); nhóm tổ chức, quản lý thể
hiện trong công tác tổ chức, quản lý viết tắt là O (Orgaware).
- Dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào sản
xuất: là việc đầu tư mua sắm trang thiết bị, máy móc, bản quyền phát minh, sáng
chế, sở hữu trí tuệ... để sử dụng kết quả từ các công trình nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ nhằm xây dựng một Dự án sản xuất mới từ đầu tạo ra sản
phẩm, hàng hóa tốt cho xã hội.
- Dự án chuyển giao công nghệ vào sản xuất: là quá trình chuyển giao
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần công nghệ hoặc toàn bộ công nghệ,
chủ yếu là bí quyết kỹ thuật, từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên
doanh nghiệp để tổ chức lại một Dự án đã sản xuất tạo ra sản phẩm, hàng hóa
có chất lượng cao hơn và có sức cạnh tranh tốt hơn sản phẩm, hàng hóa được sản
xuất bằng công nghệ trước đây.
19
2.2.2. Dự án ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và Dự án
chuyển giao khoa học và công nghệ vào sản xuất (sau đây gọi chung là Dự án
KH&CN) phải có tính khả thi, có hiệu quả KT - XH, có khả năng trả nợ và phù
hợp với quy định của pháp luật.
20
2.2.3. Thiết bị, công nghệ Dự án KH&CN dự định ứng dụng, chuyển giao
vào sản xuất phải được Hội đồng thẩm định của Quỹ thẩm tra, đánh giá xác nhận
phù hợp với các tiêu chí, tiêu chuẩn cho vay của Quỹ và không bị nghiêm cấm sử
dụng trong các quy định hiện hành của nhà nước. Đối với Dự án chuyển giao
KH&CN thì công nghệ sản xuất dự định chuyển giao phải cao hơn, tiên tiến hơn
công nghệ sản xuất đang vận hành và đạt trình độ trung bình tiên tiến trở lên theo
tiêu chuẩn khoa học, công nghệ do Bộ Khoa học Công nghiệp và các bộ chuyên
ngành ban hành.
2.2.4. Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp, và phù hợp với quy định
về đối tượng cho vay theo quy định về việc cho vay vốn của Quỹ phát triển khoa
học và công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2.5. Không dược trùng lắp với các dự án đáng thực hiện bằng các nguồn
vốn khác của nhà nước.
2.2.6. Phải có vốn đối ứng tham gia vào dự án tổi thiểu bằng 30% tổng
nhu cầu vốn đầu tư thực hiện Dự án.
2.2.7. Không còn nợ xấu tại bất cứ Tổ chức tín dụng (TCTD) nào và
không còn nợ đã được xử lý rủi ro bằng quỹ dự phòng rủi ro của Ngân hàng
thương mại, đang hạch toán ngoại bảng vào thời điểm cho vay.
2.2.8. Bên vay phải cam kết trong Hợp đồng vay vốn mua bảo hiểm tài sản
cho tài sản hình thành từ vốn vay trong suốt thời hạn cho vay theo quy định.
2.2.9. Có tài sản và các điều kiện cần thiết đủ đảm bảo khoản vay theo quy
định hiện hành của Ngân hàng ủy thác.
2.3. Nguyên tắc trong sử dụng vốn vay:
2.4.4. Bên vay phải thực hiện các biện pháp đảm bảo tiền vay theo quy
định của pháp luật về giao dịch đảm bảo. Các biện pháp đảm bảo tiền vay gồm:
cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, sử dụng tài sản hình thành trong tương lai và các
biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật.
3. Phương thức tuyển chọn Dự án cho vay
3.1. Nguyên tắc tuyển chọn cho vay:
3.1.1. Cho vay đúng đối tượng, đúng mục đích, tuân theo các quy định
hiện hành của nhà nước và Quy định của Đề án này.
3.1.2. Hồ sơ xin vay vốn được đánh giá xét duyệt công khai minh bạch.
3.1.3. Các Dự án KH&CN vay vốn từ Quỹ phải mang lại hiệu quả kinh tế
- xã hội cũng như phải đảm bảo các tiêu chí về bảo vệ môi trường.
3.2. Tiêu chí xác định các Dự án KH&CN được vay vốn và nguyên tắc
làm việc của Hội đồng quản lý quỹ:
3.2.1. Căn cứ theo Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Quỹ (ban hành theo
quyết định 58/2007 - UBND ngày 10/10/2007 của UBND tỉnh), Hội đồng Quản
lý Quỹ thành lập Hội đồng thẩm định để tư vấn cho Hội đồng quản lý.
22
3.2.2. Hội đồng thẩm định là các chuyên gia, kỹ sư có trình độ chuyên
môn cao được mời trong các lĩnh vực KH&CN và tài chính ngân hàng. Dự án
KH&CN được đánh giá trên 3 tiêu chí: 1.Tính khả thi của công nghệ; 2.Hiệu
quả kinh tế - xã hội; 3.Phương án trả nợ gốc và lãi vay; với số điểm tối thiếu là
65 điểm trên tổng số 100 điểm (tính thang điểm 100, và điểm cho từng tiêu chí
không được thấp hơn 50% số điểm của mỗi tiêu chí).
- Tiêu chí 1 Tính khả thi của công nghệ: tối đa 10 điểm; hệ số 3 lần.
- Tiêu chí 2 Hiệu quả kinh tế - xã hội: tối đa 10 điểm; hệ số 4 lần.
- Tiêu chí 3 Phương án trả nợ gốc và lãi vay: tối đa 10 điểm; hệ số 3 lần.
3.2.3. Hội đồng thẩm định kiểm tra thực tế, đánh giá hồ sơ Dự án xin vay
4.2.2. Đối với các dự án chuyển giao công nghệ sản xuất (theo Khoản 2
Điều 6 - Quy chế quản lý tài chính Quỹ): áp dụng lãi suất cho vay bằng 50% lãi
suất tối đa do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành tại thời điểm giải ngân
vốn vay.
4.2.3. Mức lãi suất cho vay đối với một dự án được coi là cố định trong
suốt thời gian vay vốn để thực hiện dự án.
- Khi lãi suất tối đa của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam biến động tăng,
giảm 30% trở lên thì chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ sẽ xem xét điều chỉnh cho
phù hợp.
4.3. Giới hạn cho vay:
4.3.1. Mức vốn cho vay với mỗi dự án KH&CN tối đa bằng 70% tổng
mức vốn đầu tư của từng dự án nhưng không quá 10 tỷ đồng.
4.3.2. Trường hợp đặc biệt những Dự án KH&CN có quy mô lớn và mang
lại hiệu quả KT - XH cao cần mức vốn vay trên giới hạn cho vay, HĐQL Quỹ
báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định cho vay trên mức giới hạn.
5. Xử lý vi phạm
5.1. Xử lý sử dụng vốn sai mục đích:
Nếu Bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích quy định của Đề án,
thì sẽ bị đình chỉ Hợp đồng cho vay và Bên vay có trách nhiệm phải tự thu hồi lại
để sử dụng đúng mục đích. Trường hợp Bên vay không chịu thu hồi thì sẽ phải
chịu trách nhiệm thực hiện các chế tài về tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy
định của pháp luật.
5.2. Xử lý nợ quá hạn
Trường hợp Bên vay vi phạm hợp đồng, trả nợ vay không đúng hạn, đối
với cả Dự án ứng dụng KH&CN (không tính lãi) và Dự án chuyển giao KH&CN
(có tính lãi), thì phải chịu lãi suất cho vay trong thời gian quá hạn bằng 150% lãi
suất tối đa do Ngân hàng nhà nước quy định cho các Tổ chức tín dụng (TCTD)
tại thời điểm vi phạm (đối với cả phần gốc và lãi trong hạn). Đồng thời phải chịu
trách nhiệm thực hiện các chế tài về thu nợ và lãi quá hạn theo quy định của
pháp luật.
Quy trình xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật và
thỏa thuận thống nhất giữa Quỹ và Ngân hàng nhận ủy thác.
6. Quản lý tài chính
6.1. Nguồn thu và chi phí hoạt động của Quỹ được thực hiện theo Điều 15
và Điều 16 - Quy chế Quản lý Tài chính Quỹ.
25