SỞ Y TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BỆNH VIỆN TÂM THẦN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN
QUAN ĐẾN BỆNH NHÂN SẢNG RƯỢU ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN TÂM THẦN ĐÀ NẴNG
Người thực hiện: BSCKII Tống Thị Luyến
Đà Nẵng, tháng 9 năm 2015
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CS
: Cộng sự
GDP
: Gross Domestic Produc (Tổng sản phẩm nội địa)
ICD -10
: The International Classification of Diseases 10
th
Edition(Phân loại
vào độ tuổi 35- 44 chiếm 53,49%, chủ yếu là nam giới[12].
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới vào năm 2008, rượu bia gây ra
4% gánh nặng bệnh tật và 3,2% tổng số tử vong toàn cầu, là nguyên nhân gây
ra hơn 60 loại bệnh. Thiệt hại về kinh tế do sử dụng rượu bia có hại chiếm từ
2 - 6% GDP của các nước[36]. Lạm dụng rượu bia đã gây ra những tổn thất
nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và đặc biệt là đối với sức khỏe người sử dụng.
Sảng rượu (sảng run) là biểu hiện nặng nhất của hội chứng cai rượu,
xuất hiện ở người nghiện rượu mạn tính thường có cơ thể suy yếu, quá mệt
mỏi hoặc bệnh lý cơ thể khác như nhiễm khuẩn, chấn thương….làm cho họ
ngưng uống rượu đột ngột[17].
Sảng rượu có thể kéo dài vài ngày đến hàng tuần với biểu hiện chủ yếu
là: mệt mỏi, chán ăn, rối loạn giấc ngủ, ác mộng, rối loạn thần kinh thực vật,
run rẩy, lo lắng, trầm cảm, rối loạn định hướng không gian, thời gian, mất linh
hoạt trong hoạt động, kém tập trung chú ý, có thể có tam chứng cổ điển như:
ý thức mù mờ và lú lẫn, các ảo tưởng và ảo giác sinh động ở bất kỳ giác quan
nào với triệu chứng run nặng. Khi sảng nặng, năng lực định hướng thời gian,
không gian của bệnh nhân bị rối loạn nặng, định hướng xung quanh có lúc bị
5
lệch lạc nhưng định hướng bản thân có thể còn và rối loạn ý thức thường nặng
về chiều tối[5],[15].
Tuy nhiên, không phải nghiện rượu mạn tính là bị sảng rượu. Sảng rượu
cũng xuất hiện ở những người: uống nhiều rượu, lạm dụng rượu quá mức dẫn
đến ngộ độc rượu cấp hoặc bị cai rượu tương đối hoặc tuyệt đối.
Sảng rượu là trạng thái loạn thần cấp nặng chiếm 5% trong số bệnh
nhân bị các hội chứng cai rượu cần phải cấp cứu tâm thần[41]. Đây là một
vấn đề của sức khỏe cộng đồng vì nó có rất nhiều tác hại về mặt vật chất lẫn
tinh thần, gây ra những hậu quả xấu cho cả gia đình và xã hội.Kinh phí điều
trị, phục vụ, chăm sóc cho người bệnh thực sự là một gánh nặng cho ngành y
- Giai đoạn 5 có rối loạn ý thức nặng nề, không có thể tiếp xúc [16].
Như vậy, sảng rượu xuất hiện trong giai đoạn 4 và 5 của hội chứng cai rượu.
Năm 1992 Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra các phân loại sảng rượu
trong ICD10, sảng rượu được xếp cùng nhóm các rối loạn tâm thần và hành vi
do sử dụng rượu (F10). Các trạng thái lâm sàng của rối loạn tâm thần và hành
vi do rượu trong ICD 10[10] được ghi mã và xếp vào các phần khác nhau là
để phân biệt nguyên nhân gây sảng rượu:
7
F10.0: Nhiễm độc cấp. Trong đó có: F10.03: sảng do ngộ độc rượu.
F10.4: Trạng thái cai với mê sảng:
- F10.40: Trạng thái cai với mê sảng không co giật.
- F10.41: Trạng thái cai với mê sảng có co giật [10].
Trong ICD-10 phân biệt 2 loại sảng rượu: sảng rượu do nhiễm độc rượu
cấp và sảng rượu do cai rượu. Sảng rượu do nhiễm độc rượu cấp là một loạn
thần cấp xuất hiện trên người uống quá nhiều rượu dẫn đến ngộ độc cấp và sẽ
khỏi khi lượng rượu trong cơ thể được loại trừ hết. Sảng rượu do cai rượu là
sảng rượu xảy ra ở những người đã có nghiện rượu mạn tính.
Theo ICD-10 định nghĩa “Nhiễm độc rượu cấp là một trạng thái nhất
thời, tiếp theo sau việc sử dụng rượu dẫn đến các rối loạn về ý thức, nhận
thức, tri giác, cảm xúc hoặc hành vi khác nhau hoặc gây ra những rối loạn đáp
ứng và các chức năng tâm sinh lý khác”.
1.1.2. Bệnh cảnh lâm sàng sảng rượu
Điển hình hội chứng cai rượu xuất hiện sau ngừng uống rượu lần cuối
6-12 giờ, đỉnh điểm của hội chứng này xuất hiện sau 1-2 ngày và kéo dài
khoảng 2-3 ngày.
Theo Ashutosh Chourishi và CS[17].
Bảng1.: Thời gian xuất hiện hội chứng cai
Sau ngừng uống
Kích động rõ rệt. Run. Các dấu chứng: sinh tồn bị bất thường và
hệ thần kinh thực vật tăng hoạt động. Co giật. Mất ngủ. Rối loạn
cảm giác.
Các yếu tố làm cho ngưng uống rượu đột ngột thường giúp sảng rượu
khởi phát.Sảng rượu thường xuất hiện sau 1-3 ngày ngưng uống rượu [5], [22]
và thỉnh thoảng sảng rượu cũng xuất hiện sau khi bị nhiễm độc rượu nặng.
Sảng thường nặng về đêm và sáng sớm [20]. Các rối loạn cơ thể, rối loạn thần
kinh trong hội chứng cai được xem là dấu hiệu báo trước mê sảng. Các rối
loạn thần kinh thực vật thường gặp trong sảng rượu như: run, sung huyết da,
toát mồ hôi, nhịp tim nhanh, huyết áp động mạch dao động, giảm trương lực
cơ, tăng phản xạ… Ngoài ra, trong mê sảng đôi khi có kèm theo co giật kiểu
động kinh cơn lớn.
Dấu chứng xuất hiện sớm nhất của sảng rượu là mất ngủ, tiếp theo là
các ảo tưởng thị giác, thính giác cùng với các hoang tưởng và trạng thái
hoảng sợ. Sau đó các ảo tưởng dần dần được thay thế bằng các ảo thị, ảo
thính. Những ảo thính, ảo thị thật với những cảnh giống như sân khấu thường
có nội dung đe dọa, bắt giết, đuổi đánh, chi phối mạnh mẽ hành vi và cảm xúc
của bệnh nhân. Bệnh nhân phản ứng lại với nội dung trên bằng trạng thái lo
âu và sợ hãi, chờ đợi sự chết chóc đến với mình. Chính phản ứng này làm cho
bệnh nhân rất dễ bị ám thị hoặc có những hành vi nguy hiểm khó lường như
tấn công người xung quanh hay tự sát. Đôi khi ảo giác có nội dung nghề
nghiệp như bệnh nhân đang sống trong môi trường của mình và có những
hành vi động tác như hành nghề hằng ngày. Những trường hợp như vậy người
9
ta gọi là sảng nghề nghiệp.Ngoài ra, bệnh nhân có thể có các hoang tưởng
cảm thụ rời rạc thường phù hợp với nội dung của ảo giác.Ý thức của bệnh
sau một thời gian đã bỏ rượu để làm mất đi các cảm giác khó chịu do nghiện.
Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu như sau:
- Thèm muốn mãnh liệt.
- Cảm thấy bắt buộc phải uống rượu.
- Không tự làm chủ mình.
- Khi ngưng sử dụng rượu có hội chứng cai xuất hiện.
- Phải tăng liều dần mới đạt được khoái cảm.
- Bỏ bê công việc hằng ngày và mất thời gian để tìm kiếm và sử dụng
chất gây nghiện.
- Tiếp tục sử dụng rượu mặc dù đã có những hậu quả về mặt cơ thể [6].
Theo ICD-10 (1992) những nguyên tắc chẩn đoán trạng thái cai rượu
với mê sảng (F10.4) như sau:
- Sảng run là một trạng thái lú lẫn ngộ độc ngắn, nhưng đôi khi đe dọa
tính mạng, kèm theo nhiều rối loạn cơ rượu thể. Thường nó là hậu quả của cai
rượu tuyệt đối hoặc tương đối ở những người nghiện rượu nặng, lâu ngày.
Sảng run thường khởi đầu sau khi cai rượu. Trong một số trường hợp, sảng
run xuất hiện trong một giai đoạn uống nhiều rượu.
- Có các dấu hiệu tiền triệu điển hình bao gồm: mất ngủ, run và sợ hãi.
Cũng có thể co giật do cai xuất hiện trước khi bệnh khởi phát.
- Tam chứng cổ điển gồm: ý thức mù mờ và lú lẫn, các ảo tưởng và ảo
giác sinh động ở bất kỳ giác quan nào (nhất là trong phạm vi thị giác) và triệu
chứng run nặng. Cũng thường có hoang tưởng, kích động, mất ngủ học đảo
lộn nhịp thức ngủ và hoạt động thần kinh tự trị tăng mạnh.
Theo hướng dẫn chẩn đoán của ICD-10 (1992), chẩn đoán trạng thái
cai với mê sảng cần sử dụng mã 5 chữ số để phân biệt rõ thêm và trong đó có:
F10.40: Trạng thái cai với mê sảng không có co giật.
F10.41: Trạng thái cai với mê sảng có co giật.
11
thất nghiệp và 18,9% phải lao động nặng vào thời điểm nghiên cứu.
Nghiên cứu loạn thần do rượu của Lý Trần Tình nhận thấy: công nhân
chiếm 34,4%, nông dân chiếm 32,3%, công chức viên chức chiếm 6,3% và
các nghề tự do chiếm 27,1%. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng: sảng rượu
là nông dân 61,9%, công nhân 11,5% viên chức 4,4% và nghề nghiệp khác
chiếm 22,1% [3].
1.2.4. Trình độ học vấn
Nghiên cứu của Ph. Dust, 64,2% bệnh nhân có học vấn trung bình và
13,2% trình độ học vấn thấp. Môi trường làm việc nặng nhọc, thiếu hiểu biết,
quan niệm sai lầm về rượu trong dân chúng như xem rượu là thuốc bổ dưỡng,
giúp sức khỏe hồi phục nhanh chóng…cũng là điều kiện thuận lợi để phát
sinh, phát triển việc lạm dụng rượu, nghiện rượu và góp phần làm gia tăng
bệnh nhân sảng rượu ở nước ta. Trước đây các nghiên cứu về rối loạn tâm
thần do rượu của nước ta đều thấy bệnh nhân có học vấn thấp. Theo nghiên
cứu của Nguyễn Hữu Cát, bệnh nhân rối loạn tâm thần do rượu học cấp I là
9,4%, cấp II và III là 58,8% [2]. Nguyễn Mạnh Hùng nhận thấy bệnh nhân
sảng rượu có học vấn: tiểu học là 10,6%, trung học cơ sở là 51,3%, trung học
phổ thông là 27,4% và đại học –cao đẳng là 9,7% [3].
1.2.5. Thời gian nghiện rượu
Hầu hết các tác giả nước ngoài thường gặp các bệnh nhân sảng rượu có
thời gian nghiện rượu trên 10 năm.
Một số nghiên cứu ở nước ta như: Nghiên cứu của Quách Văn Ngư
nhận thấy bệnh nhân sảng rượu có thời gian nghiện rượu 5-9 năm là 22,7%,
10-15 năm là 41%, 16-20 năm là 36,4%. Nguyễn Mạnh Hùng , bệnh nhân
sảng rượu có thời gian nghiện rượu 5-10 năm là 26,5%, 11-15 năm là 46,1%,
16-20 năm là 22,1% và trên 20 năm chiếm 5,3% [3].
13
+ Rối loạn vận động.
+ Có bằng chứng về quá trình nghiện rượu qua khám lâm sàng và do
người thân của bệnh nhân cung cấp.
+ Bệnh cảnh rối loạn ý thức nêu trên không do các nguyên nhân khác
ngoài rượu.
14
2.1.2. Phân nhóm đối tượng
Các đối tượng nghiên cứu được chia thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: bệnh nhân trong trạng thái cai với mê sảng có co giật theo tiêu
chuẩn ICD-10 (1992) có mã số F10.41.
- Nhóm 2: bệnh nhân trong trạng thái cai với mê sảng không có co giật theo
tiêu chuẩn ICD-10 (1992) có mã số F10.40.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
Không đưa vào nghiên cứu những trường hợp sau đây:
- Gia đình từ chối không cho bệnh nhân tiếp tục nghiên cứu
- Bệnh nhân không hoàn tất yêu cầu nghiên cứu
- Bệnh nhân bị sảng thực tổn: viêm não, u não, tai biến mạch não (nhồi máu
não, xuất huyết não).
- Bệnh nhân bị sảng do nhiễm độc hoặc do cai các chất ma túy khác.
- Bệnh nhân bị sảng do có bệnh lý cơ thể trước đó…
- Các bệnh nhân có tiền sử nghiện rượu không rõ ràng.
- Các trường hợp mê sảng do ngộ độc rượu.
- Bệnh nhân bị sảng do thuốc gây ra.
2.1.4. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2014 đến tháng 08/2015 tại
Bệnh viện Tâm thần thành phố Đà Nẵng.
2.2.
rối loạn tâm thần thể hiện qua các hoạt động về: ý thức, cảm xúc, cảm giác, tri
giác, tư duy, vận động.
- Nghiên cứu bệnh sử, tìm hiểu các thông tin về hành vi sử dụng rượu tập trung
vào các nội dung: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, vùng cư trú, nghề
nghiệp, thời gian uống rượu, thời gian nghiện rượu, số lần bị cai rượu, số lần
bị sảng rượu….để đáp ứng với mục tiêu nghiên cứu.
- Nghiên cứu tiền sử bản thân và tiền sử gia đình của bệnh nhân để thu thập
thông tin về bệnh lý nội khoa và tâm thần của bệnh nhân, tình hình nghiện
rượu của người thân trong gia đình, hoàn cảnh gia đình của bệnh nhân.
-
Theo dõi diễn biến lâm sàng và ghi vào bệnh án nghiên cứu các triệu
chứng :
+Triệu chứng rối loạn cơ thể: mất ngủ, đau đầu, chán ăn…
16
+ Triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật: run, vã mồ hôi, nhịp tim
nhanh hay chậm, huyết áp: tăng, giảm hay dao động.
+ Tình trạng rối loạn ý thức: đánh giá năng lực định hướng về thời
gian, không gian, bản thân và xung quanh.
+ Rối loạn tri giác: thống kê và nhận xét các biểu hiện rối loạn tri giác ở bệnh
nhân như: loại ảo giác, ảo tưởng, loạn cảm giác bản thể qua số liệu thu thập
được.
+ Rối loạn tư duy: thu thập, thống kê, nhận xét, phân tích các triệu
chứng rối loạn tư duy (các loại hoang tưởng, nội dung và tính chất của hoang
tưởng).
+ Rối loạn cảm xúc: nhận xét các biểu hiện trạng thái lo âu, hưng cảm,
trầm cảm, cảm xúc không ổn định….
Không có co giật
n1
%
n2
%
1
7,69
1
3,70
5
38,46
12
44,45
4
30,77
9
33,33
3
23,08
5
18,52
13
100,00
27
100,00
Tuổi trung bình: 42,48 ± 7,44
Tổng cộng
n
%
11
1
(%)
15,00
55,00
27,50
2,50
Đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn Trung học cơ sở là 55,00%
cao nhất và đại học-cao đẳng 2,50% chiếm thấp nhất.
3.1.3. Nghề nghiệp
Bảng 3.3: Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
STT
1
2
Bệnh nhân
Nghề nghiệp
Nông dân
Công nhân
18
n = 40
(%)
15
5
3.1.5. Tình trạng hôn nhân
19
Biểu đồ 3.: Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ này cho thấy đối tượng nghiên cứu kết hôn chiếm 82,50% cao
nhất và ly dị - ly thân chiếm 12,50%.
3.1.6. Tiền sử gia đình
Bảng 3.4: Tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân
Tiền sử gia đình
Không
Có
Không
Có
Nghiện rượu
Rối loạn tâm thần
n = 40
(%)
25
15
39
1
62,50
18
7
5,00
32,50
45,00
17,50
Đa số đối tượng nghiên cứu uống rượu ít nhất là >10 năm chiếm 62,50%.
3.1.8. Tuổi bắt đầu bị sảng rượu và số lần bị sảng rượu
Bảng 3.6: Tuổi và số lần đối tượng nghiên cứu bị sảng rượu
Bệnh nhân
Tuổi bắt đầu bị sảng rượu
≤ 30
20
n = 40
2
(%)
5,00
Số lần bị sảng rượu
31- 40
41-50
51- 60
Tuổi trung bình: 41,50 ± 7,55
21
< 0,05.
Bảng 3.7: Điều kiện thuận lợi khởi phát sảng rượu
STT
1
2
3
Bệnh nhân
Nguyên nhân
Không tự cai rượu
Giảm uống rượu
Tự cai rượu
n = 40
(%)
21
13
6
52,50
32,50
15,00
Không tự cai rượu chiếm 52,50% cao nhất và tự cai rượu 15,00% thấp
Sảng rượu xuất hiện ngày thứ 2-3 sau ngưng hoặc giảm rượu chiếm 75,0%.
Bảng 3.9: Tính chất khởi phát sảng rượu ở đối tượng nghiên cứu
ST
T
1
2
3
Bệnh nhân
Tính chất
Từ từ
Nhanh
Không xác định
n = 40
(%)
24
15
1
60,00
37,50
2,50
Khởi phát sảng rượu từ từ chiếm 60,00% cao nhất.
Bảng 3.10: Thời gian tồn tại sảng rượu ở đối tượng nghiên cứu
ST
22
4
6
1
2,50
5
7
1
2,50
Thời gian trung bình: 4,1 ± 0,84
Thời gian tồn tại sảng rượu ở bệnh nhân là 4 ngày chiếm 57,50% là cao nhất.
3.2.2. Đặc điểm lâm sàng
3.2.2.1. Triệu chứng xuất hiện ngày thứ nhất ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.11: Triệu chứng xuất hiện ngày thứ nhất
ST
T
1
2
3
STT
Triệu chứng
1
2
3
4
5
6
7
Run
Vã mồ hôi
Mạch nhanh
Bồn chồn
Huyết áp tăng
Huyết áp dao động
Loạng choạng
n = 40
(40)
40
40
25
21
15
5
4
40
6
%
100,00
95,00
100,00
15,00
Rối loạn định hướng lực không gian 100%, xung quanh 100%, thời
gian 95,00% chiếm cao nhất và bản thân chiếm 15,00% thấp nhất.
3.2.2.4. Rối loạn cảm xúc xuất hiện ngày thứ 1
Bảng 3.14: Các triệu chứng rối loạn cảm xúc xuất hiện ngày thứ 1
Triệu chứng
Số lượng(n=40)
Tỉ lệ (%)
Không có rối loạn cảm xúc
Có rối loạn cảm xúc
Tổng cộng
Lo lắng
Các rối loạn
Hoảng sợ
cảm xúc trên
Không ổn định
bệnh nhân
Hưng cảm
Kích động
Giảm vận động
Cơn co giật
23
4
13
57,50
10,00
32,50
Kích động chiếm 57,50% cao nhất và thấp nhất là giảm vận động là 10%.
3.2.2.6. Rối loạn tri giácxuất hiện ngày thứ nhất
Bảng 3.16: Nội dung ảo giác xuất hiện ngày thứ nhất
STT
1
2
4
5
Triệu chứng
Ảo thanh
Ảo thị
Ảo giác xúc giác
Ảo giác nội tạng
n = 40
15,79
Nhìn thấy người đến bắt
6
15,79
Các ảo giác thị giác khác
2
5,26
Ảo thị
Nhìn thấy côn trùng hay ma quỷ
Ảo thị với nội dung thấy côn trùng hay ma quỷ chiếm 63,16% cao nhất.
3.2.2.8. Nội dung ảo giác xúc giác xuất hiện ngày thứ nhất
Bảng 3.18: Nội dung ảo giác xúc giác xuất hiện ngày thứ nhấtở đối tượng
nghiên cứu
Bệnh nhân
Ảo xúc
Cảm giác châm chích ở trên da
25
n= 13
(%)