“Đánh giá được thực trạng và các yếu tố liên quan đến loãng xương ở người 40 tuổi trở lên tại Thành phố Vinh và đề xuất được giải pháp can thiệp hiệu quả” - Pdf 35

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, loãng xương (LX) và hậu quả của loãng xương
đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng ngày càng được nhiều tác giả trong
nước và ngoài nước quan tâm [3]. Loãng xương được đặc trưng bởi sự giảm
khối lượng xương và tổn thương vi cấu trúc của tổ chức xương, gây hậu quả
làm xương giảm độ chắc và dễ gãy. Trên thế giới, có khoảng 200 triệu người bị
loãng xương, tại Châu Âu cứ 30 giây lại có một người bị gẫy xương do loãng
xương và tại Hoa Kỳ có khoảng 1,3 triệu người gẫy cổ xương đùi do loãng
xương. Tại Việt Nam, ước tính số người gẫy cổ xương đùi do LX đến năm
2010 là 26.000 và đến năm 2030 sẽ là 41.000 người [18],[51],[43].
Loãng xương làm giảm năng suất lao động, do đó gây ảnh hưởng gián
tiếp tới nền kinh tế. Ngày nay nhờ một số phương pháp đo mật độ xương,
người ta có thể đánh giá chính xác khối lượng xương, chỉ ra mức độ loãng
xương, theo dõi tiến triển của bệnh và phát hiện sớm các đối tượng có nguy cơ
nhằm phòng ngừa, điều trị sớm tránh được các biến chứng của loãng xương
(như gãy xương, biến dạng cột sống…), giảm được tỉ lệ tử vong do loãng
xương.
Loãng xương chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: tuổi, giới, hormon,
chế độ sinh hoạt, luyện tập, chiều cao, cân nặng của mỗi cá thể, một số thuốc,
đặc biệt phụ nữ tuổi mạn kinh. Loãng xương sau mãn kinh là mất xương ở
xương xốp, gãy lún các đốt sống, đầu dưới xương quay, xuất hiện trong vòng
15- 20 năm sau mãn kinh. Hiện nay trên thế giới, có khoảng 50% phụ nữ trên
50 tuổi bị loãng xuơng, 40% phụ trên 70 tuổi bị gãy xương do loãng xương.
Trong những năm gần đây, loãng xương (LX) và hậu quả của loãng xương
đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng ngày càng được nhiều tác giả trong
nước và ngoài nước quan tâm. Ở Nghệ An chưa có công trình nghiên cứu nào
đề cập đến vấn đề loãng xương ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh.

1



Năm 2001 tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống nhất đưa ra định nghĩa
LX như sau: LX được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức
mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của xương. Chất
lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, chu chuyển
xương, độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy, tính chất của các chất cơ bản của
xương [16].
Theo WHO 1994, LX được xác định dựa trên mật độ chất khoáng của
xương (BMD - Bone Mineral Density) theo chỉ số T- score như sau: T- score
của một cá thể là chỉ số mật độ xương (BMD) của các cá thể đó so với BMD
của nhóm người trẻ tuổi làm chứng. Trên cơ sở đó, có các giá trị của BMD như
sau:
- BMD bình thường: T- score ≥ -1: tức là BMD của đối tượng bằng và trên
-1 độ lệch chuẩn (ecart-type) so với giá trị trung bình của người trưởng thành
trẻ tuổi.

3


- Giảm mật độ xương: -1> T- score> -2,5: khi BMD từ -1 đến -2,5 độ lệch
chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi.
- LX: T- score ≤ -2,5: khi BMD bằng và dưới ngưỡng cố định là -2,5 độ
lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi, tại bất cứ vị
trí nào của xương.
- LX nặng: T- score ≤ -2,5 và có một hoặc nhiều gẫy xương.
1.1.2. Phân loại loãng xương
Theo nguyên nhân, LX được chia làm hai loại là: LX nguyên phát và LX thứ
phát.
* LX nguyên phát
- LX nguyên phát là loại LX không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài
tuổi tác và / hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Nguyên nhân do quá trình lão

khác giàu chất glucoaminoglycin, chất căn bản có thể trở thành calci hóa. Mô
xương có xương đặc và xương xốp. Xương đặc được calci hóa 80-90% khối
lượng xương, xương xốp được calci hóa 15-25% khối lượng xương. Xương đặc
có chức năng bảo vệ còn xương xốp có chức năng chuyển hoá.
- Các tế bào xương bao gồm:
+ Hủy cốt bào: là tế bào khổng lồ đa nhân, có nhiệm vụ tiêu xương.
+ Tạo cốt bào: là tế bào có nhân hình thoi, có nhiệm vụ sản sinh ra các
thành phần của nền xương(các sợi collagen và các chất nền), có vai trò quan
trọng trong quá trình calci hóa.
+ Quá trình tạo xương (bone formation) và hủy xương (bone resorption)
diễn ra theo cơ chế thay xương cũ bằng xương mới. Bình thường hai quá trình
này được duy trì một cách cân bằng cho đến khoảng 40 tuổi, từ tuổi này trở lên
hủy cốt bào hoạt động quá mức, hủy xương cao hơn tạo xương dẫn đến giảm

5


khối lượng xương theo thời gian, đặc biệt ở giai đoạn mạn kinh gây nên tình
trạng LX.

* Sinh bệnh học của loãng xương.
Mất chất khoáng tăng dần theo tuổi là một hiện tượng sinh lý bình thường,
khi bị tăng quá mức sẽ trở thành LX, Các nghiên cứu tế bào học cho phép chỉ
ra mức độ thưa xương sinh lý có khác nhau giữa hai giới nam và nữ. Ở nam
giới, khối lượng xương bè giảm dần một cách đều đặn, gần 27% trong khoảng
thời gian từ 20-80 tuổi. Nữ giới mất xương nhiều hơn (gần 40% trong khoảng
thời gian đó) với một sự gia tăng nhanh trong vòng 20 năm sau mạn kinh. Tuy
nhiên, đó là một hiện tượng bình thường, việc một người có khối lượng xương
ở tuổi 60 thấp hơn ở tuổi 20 không có nghĩa là người đó bị LX. LX xuất hiện
khi thưa xương trở nên quá mức, khiến bộ xương không chịu nổi sức ép cơ học,

một nguyên nhân dẫn tới tình trạng mất xương ở tuổi già. Một nguyên nhân thứ
hai dẫn tới sự mất xương ở người già là sự suy giảm hấp thu Calci ở ruột và sự
giảm tái hấp thu calci ở ống thận. Tham gia vào quá trình hấp thu calci ở ruột
có vai trò của 1-25 dihydroxy cholecalciferon (tiền chất của 1-25 hydroxy
cholecalciferon) trong máu cũng giảm do chế độ dinh dưỡng, do giảm tiếp xúc
với ánh sáng mặt trời [47].
- Estrogen: năm 1940 Albright là người đầu tiên đã tìm thấy được mối liên
hệ giữa LX và giảm chức năng của buồng trứng ở phụ nữ. Sau đó nhiều kết quả
nghiên cứu đã khẳng định kết luận của Albright. Mặc dù mất xương là hiện
tượng sinh lý xuất hiện sau tuổi 40 ở cả hai giới, song rõ ràng tốc độ mất xương
ở cả nam và nữ là hoàn toàn khác nhau. Ở tuổi 70 có tới 50% phụ nữ sau mãn
7


kinh có biểu hiện mất xương trong khi ở nam giới chỉ có 25% có biểu hiện mất
xương ở độ tuổi 80 [47]. Sự mất xương ở nữ xuất hiện sớm hơn từ 15-20 năm
so với nam giới là hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách
nhanh chóng [42]. Như vậy, mãn kinh chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự
khác biệt giữa nguy cơ LX ở nam và nữ. Có thể nói estrogen có vai trò quan
trọng trong việc duy trì khối lượng xương.
- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của bộ
xương. Chế độ ăn không đầy đủ calci sẽ ảnh hưởng đến sự đạt được đỉnh cao
của khối xương và sự mất xương sau này. Một nghiên cứu được tiến hành trên
200 phụ nữ Trung Quốc 57 tuổi và được bổ sung 2 ly sữa giàu calci mỗi ngày,
kết quả cho thấy ở nhóm nghiên cứu uống sữa có tốc độ mất xương chậm hơn
rõ rệt so với nhóm không uống sữa [39].
- Yếu tố cân nặng: ở những phụ nữ nhẹ cân sự mất xương xảy ra nhanh
hơn và tần suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do LX cao hơn [28]. Ngược
lại cân nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông
qua việc tăng tạo xương và tăng chuyển hóa androgen của tuyến thượng thận

bị xẹp nặng thêm.
- Trường hợp đã có biến dạng cột sống: biểu hiện thông thường hơn của
LX là đau lưng mạn tính, âm ỉ, kéo dài, với kiểu đau cơ học, rất khó xác định
thời điểm đầu tiên xuất hiện triệu chứng. Đau lưng mạn tính là hậu quả của rối
loạn tư thế cột sống. Dần dần bệnh nhân gặp nhiều đợt đau mới trên nền đau
cột sống mạn tính. Và theo thời gian, bệnh nhân sẽ xuất hiện sự giảm chiều cao,
gù đoạn lưng, có thể tới mức các xương sườn cuối cùng cọ sát vào xương chậu.
- Gãy xương: nhiều trường hợp phát hiện LX khi bệnh nhân đã có biến
chứng gãy xương, thường xuất hiện khi có chấn thương rất nhẹ. Các vị trí gãy

9


xương thường gặp là: đầu trên xương đùi, xương cánh tay, đầu dưới xương
cẳng tay, xương sườn, xương chậu và xương cùng.

1.1.6. Các phương pháp chẩn đoán LX.
1.1.6.1. Phương pháp sinh hóa.
1.1.6.2. Phương pháp chụp x quang quy ước [27,[5],[1],[22],[45]
1.1.6.3. Đo hấp thụ photon đơn (Single Photon Absorptionmetry - SPA) [22],
[34],[33],[30].
- Ưu điểm: liều tia xạ thấp, thể tích máy gọn nhẹ, cho phép sử dụng thuận
lợi trong các nghiên cứu ở cộng đồng.
- Nhược điểm: kỹ thuật này chỉ cho phép đo được mật độ xương ở ngoại
vi, không đo được vị trí xương đùi và xương cột sống..

10


1.1.6.4. Đo hấp thụ photon kép (Dual Photon Absorptionmetry – DPA) [30],

1.1.6.8. Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual - Energy X – ray Absorptiometry DEXA) [22],[36],[38],[31],[35],[41].
Trong những năm gần đây Mazess và Wahner (1988), Stein và cộng sự
(1988) đã công bố phương pháp đánh giá mật độ xương bằng đo hấp thụ tia X
năng lượng kép. Đây là kỹ thuật tiên tiến, giá trị chẩn đoán cao đã được nhiều
nước trên thế giới sử dụng.
- Nguyên lý: Tương tự như DPA, nhưng nguồn tia gama phát ra từ
Gadonilium 153 trong DPA được thay thế bởi nguồn phát ra tia X. Nguồn tia X
có thể tạo ra luồng phóng xạ cao hơn nhiều so với nguồn chất đồng vị phóng xạ
dùng trong DPA (gấp 500-1000 lần). Vì vậy độ chính xác cao so với DPA.
Thời gian tiến hành đo khoảng dưới 5 phút.
- Ưu điểm: Độ chính xác cao, thời gian thăm dò ngắn, liều tia xạ thấp
(2-4 mrem), khả năng tái lập kỹ thuật tốt. Phương pháp này cho phép đo mật độ
xương ở nhiều vị trí như: xương cột sống, xương đùi, các xương ngoại vi và
toàn cơ thể. Đây là phương pháp dùng trong chẩn đoán LX và được sử dụng
rộng rãi trong các thử nghiệm lâm sàng và trong các nghiên cứu dịch tễ học.
- Các thiết bị DEXA ngày càng được phát triển hoàn thiện hơn, phần mềm
của máy có thể tự động xác định khu vực cần đo một cách riêng rẽ. Nó còn có
thể đo mật độ xương cột sống ở mặt chiếu phía sau, do đó đánh giá chính xác
được phần bè của xương đốt sống mà kết quả không bị sai lệch bởi các yếu tố
như gai xương, calci hóa của động mạch chủ…
1.1.6.9. Đo bằng siêu âm định lượng [35],[49].
Đây là phương pháp mới được áp dụng để đánh giá chất lượng xương.
- Nguyên lý: theo nguyên tắc phát chùm tia sóng siêu âm có tần số từ 2001000 kHz qua vị trí xương gót, xương chày, xương cẳng tay hoặc xương ngón
12


tay để đánh giá chất lượng xương. Khi xương bị xốp do LX, khả năng dẫn
truyền tia siêu âm qua xương sẽ kém đi và khả năng hấp thụ tia siêu âm của
xương cũng giảm đi.
- Ưu điểm: không liên quan đến tia xạ, chi phí thấp, thể tích máy gọn, dễ

giảm số lượng và hoạt động của hủy cốt bào.
+ Hiệu quả của thuốc: giảm tỷ lệ gãy xương và giảm đau do hủy xương.
1.1.7.2. Các thuốc tăng tạo xương
- Parathyroid Hormon: rPTH 2 ug TDD/ ngày là thuốc duy nhất được công
nhận là tăng tạo xương thực sự (11/2002)
- Calcium và vitamin D: để cung cấp “nguyên liệu “ cho việc tạo xương mới,
kích thích hoạt động của tế bào sinh xương (Osteoblast)
- Thuốc tăng đồng hoá (Durabolin, Deca-durabolin) có tác dụng tăng cường
hoạt tính của tế bào sinh xương, tăng cường chuyển hoá protein.
- Trên thực tế các thuốc chống huỷ xương cũng có tác dụng tăng tạo xương và
các thuốc tăng tạo xương cũng có tác dụng chống huỷ xương
1.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề loãng xương
1.2.1. Ngoài nước:
Để khẳng định mối liên quan giữa loãng xương và thiếu hụt estrogen đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu đánh giá vai trò của estrogen trong dự phòng và
điều trị loãng xương. Năm 1976 Lindsay R., Hart D. M. Và Aitken J.M. đã tiến
hành một nghiên cứu mù kép để đánh giá tác dụng của Estrogen 23mg/ngày
trên khối lượng xương của 114 phụ nữ mạn kinh do cắt bỏ buồng trứng. Họ đã
nghiên cứu mật độ xương và sự thay đổi khối lượng chất khoáng ở xương bàn
tay hàng năm bằng phương pháp đo hấp thụ photon. Kết quả cho thấy khối
lương chất khoáng của xương được duy trì hoặc tăng lên ở những phụ nữ điều
14


trị trong vòng 3 năm tính từ lúc cắt bỏ buồng trứng trong khi ở nhóm chứng
mật độ khoáng của xương thấp hơn đáng kể.
Gần đây, với sự xuất hiện của các phương pháp đo mật độ xương hiện đại, vấn
đề loãng xương ở phụ nữ sau mạn kinh càng được nghiên cứu đầy đủ hơn.
Phương pháp đo mật độ xương bằng siêu âm có một vai trò rất lớn trong điều
tra cộng đồng.

lâm sàng gợi ý bệnh loãng xương là rất thường gặp ở tuổi mãn kinh, kết quả
cũng cho thấy tỷ lệ gãy xương do loãng xương ở người già và phụ nữ tuổi mãn
kinh là khá cao [5].
Vũ Thị Thanh Thủy và cộng sự đã nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ xẹp
đốt sống do LX ở phụ nữ sau mãn kinh, đã khuyến cáo cần có một chế độ theo
dõi và dự phòng lún đốt sống do LX ở những phụ nữ đã mãn kinh, đặc biệt là
những đối tượng có các yếu tố sau: chiều cao ≤ 145cm, cân nặng < 40kg, mãn
kinh >20 năm, có tiền sử gẫy xương sau 45 tuổi [23].
Nghiên cứu của Phạm Hồng Huệ năm 2004, cho rằng tuổi càng cao thì Tscore mật độ xương càng giảm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tác giả còn
nhấn mạnh vai trò của bài thuốc ‘’Dưỡng cốt hoàn” trong điều trị loãng xương
[10].
Nguyễn Thị Thanh Phượng đã bước đầu nghiên cứu mật độ xương ở phụ
nữ bình thương trẻ từ 20-39 tuổi, khi mật độ xương đạt đỉnh cao nhất bằng
phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép, từ đó rút ra được giá trị trung
bình của mật độ xương gót và xương cẳng tay ở phụ nữ bình thường 20-39 tuổi.
Đánh giá sự ảnh hưởng của một số yếu tố thể chất và hoạt động sinh lý đến mật
độ xương [21].
Nghiên cứu của Phạm Văn Tú cũng như nghiên cứu của Nguyễn Hiếu Nhân
khẳng định sự khác biệt về giá trị T-score giữa hai nhóm làm việc tĩnh tại và làm
việc vận động, sự khác biệt đó có ý nghĩa thống kê.

16


Nghiên cứu của Đoàn Thị Tuyết, thời gian sau mãn kinh càng dài tỷ lệ loãng
xương càng cao, mãn kinh sau 1 năm chỉ có 5,9% người có biểu hiện loãng
xương, mãn kinh sau 30 năm có tới 37,1% người có biểu hiện loãng xương.
Mãn kinh > 10 năm, tỷ lệ loãng xương là 22,2%, mãn kinh < 10 năm tỷ lệ
loãng xương là 13,5%.
Năm 2003, Nguyễn Thị Hoài Châu đã tiến hành khảo sát mật độ xương và

thế giới và Việt Nam. Máy đo loãng xương bằng siêu âm xương gót có cấu tạo
gọn nhẹ dễ sử dụng có thể mang đi xa, người được đo không chịu ảnh hưởng
của tia xạ, kinh phí thấp vì vậy rất thích hợp cho chẩn đoán sàng lọc tại cộng
đồng.

18


Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2. Đối tượng nghiên cứu
222 bệnh nhân nữ trên 50 tuổi. Khám tại Phòng khám bệnh Đa khoa –
Trường Đại học Y khoa Vinh, từ 1/1/2012 đến 1/11/2012.
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu
- Bệnh nhân là nữ giới trên 50 tuổi, đã mãn kinh, được đo tỷ trọng xương bằng
phương pháp siêu âm định lượng tại Phòng khám Nội- Phòng khám bệnh Đa
khoa Trường Đại học Y khoa Vinh.
- Bệnh nhân đồng ý nghiên cứu.
- Chọn nhóm chứng: 54 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 25-39 tuổi, hoàn toàn
khoẻ mạnh, hiện tại không mang thai, không cho con bú.
* Tiêu chuẩn loại trừ
Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu những đối tượng sau:
- Một số bệnh lý liên có quan đến chuyển hóa xương
+ Cường giáp trạng
+ Đái tháo đường
19

2.4.1.3. Các triệu chứng lâm sàng, chỉ số T- Score
- Đau mỏi khớp, đau mỏi cột sống, đau mỏi dọc xương dài, biến dạng cột sống,
gẫy xương, giảm chiều cao.
- T- Score mật độ xương gót.
2.4.1.4. Một số yếu tố liên quan đến T- Score mật độ xương gót
- Tuổi
- Chỉ số khối cơ thể
- Tổng số năm mãn kinh
- Số con
- Nghề nghiệp
- Nơi ở
- Tập thể dục
- Biểu hiện lâm sàng gợi ý bệnh loãng xương
2.4.2. Thu thập số liệu và đánh giá
Các đối tượng chọn vào nghiên cứu, mỗi đối tượng có một hồ sơ nghiên cứu
theo mẫu chung, các thông tin được thu thập qua hỏi bệnh, thăm khám lâm
sàng, đo chỉ số T- Score mật độ xương gót.
2.4.2.1. Phục vụ mục tiêu 1
- Hỏi bệnh nhân những thông tin cá nhân theo phiếu điều tra để thu thập các
đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
- Tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đều được đo mật độ xương gót
bằng máy đo Loãng xương Sonost 3000, do bác sỹ chuyên khoa đảm nhiệm.

21


Kết quả tình trạng mật độ xương được đánh giá theo chỉ số T- score
T- score

Tình trạng mật độ xương

Cân nặng (kg)
BMI

=

Chiều cao2 (m2 )

Phân loại BMI theo tiêu chuẩn của người châu Á
BMI < 18,7

: gầy

18,7 ≤ BMI < 23,7

: trung bình

BMI ≥ 23,7

: béo

* Tổng số năm mãn kinh được chia 3 nhóm:
Số năm mãn kinh ≤ 5 năm
Số năm mãn kinh lớn hớn 5 năm và dưới 10 năm
Số năm mãn kinh > 10 năm
* Số lần sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ chia thành 2 nhóm:
Nhóm có số con ≤ 2 con
Nhóm có số con ≥ 3 con
* Nghề nghiệp được chia thành 2 nhóm: nhóm nghề thường xuyên ngồi và
nhóm nghề thường xuyên hoạt động: nhóm nghề nghiệp thường xuyên hoạt
động (bao gồm các đối tượng lao động như: công nhân, nông dân…), nhóm


Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
- Tuổi trung bình: 61.08±9.38
- Số lần sinh con: 2.92 ±1.32
- Tuổi bắt đầu mãn kinh: 48.99 ±3.78

Biểu đồ 3.1: Tuổi mãn kinh

Nhận xét: Tuổi mãn kinh chủ yếu tập trung ở tuổi 50
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status