thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác khuyên nông của trung tâm khuyến nông - lâm - ngư thừa thiên huế - Pdf 13

Phần 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là nước có khí hậu tương đối thuận lợi cho
việc sản xuất các cây lương thực với nền văn minh lúa nước đã có từ lâu. Hiện nay với
việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong nông nghiệp đã phát huy được những ưu thế
có sẵn để phát triển một nền sản nông nghiệp, nông sản đa dạng và có giá trị kinh tế
cao. Chính vì vậy đã nhiều năm nay, nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu trong
cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Đặc biệt hơn khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức
thương mại thế giới (WTO), đó là bước đi mạnh dạn vào thị trường quốc tế, một nền
kinh tế cạnh tranh khốc liệt về gia cả, chất lượng và đặc biệt là cạnh tranh với những
sản phẩm có thương hiệu lớn trên thế giới thì việc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền
nông nghiệp nông thôn càng trở nên cấp thiết.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiển là phát triển nông nghiệp với năng suất và chất lượng
cao, đưa nông thôn nước ta phát triển nhanh mạnh, vững chắc có đủ sức cạnh tranh
với hàng hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đảng và nhà nước đã chủ
trương thành lập và đưa hoạt động khuyến nông xuống tận cơ sở. Một nhân tố quan
trọng vó vai trò làm cầu nối giữa nhà nghiên cứu với nông dân và nhiều vấn đề khác
trong nông nghiệp và phát triển nông thôn. Từ khi ra đời cho tới nay hệ thống khuyên
nông đã hoạt động mạnh mẽ và bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng
do mới thành lập hơn 15 năm trong khi hoạt động khuyến nông rất đa dạng và phong
phú trong nông nghiệp lẫn phát triển nông thôn thì những khó khăn và bất cập vẫn còn
tồn tại. Thực tế cho thấy người nông dân vẫn thiếu những thông tin cần thiết cho việc
sản xuất của họ, họ làm hay nhưng cảnh được mùa mất giá vẫn đang diễn ra và làm
cho người nông dân điêu đứng. Giá nông sản của nước ta luôn bị cạnh tranh khốc liệt
vì do không có một thương hiệu mạnh và đáng tin cây cho người tiêu dùng.
Hoạt động phát triển nông thôn mang tính chất liên ngành cần có sự phối hợp chặt
chẽ, ăn ý của các bên liên quan, trong đó hệ thống khuyến nông là một mắc xích quan
trọng trong mối liên kết đó. Vì vậy bất kỳ một sự chuyển biến nào trong phát triển
nông thôn thì vài trò của khuyên nông là hết sức quan trọng. Đặc biệt là vai trò trong
phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và

từ tổng quát để chỉ tất cả công việc liên quan đến sự phát triển nông thôn. Đó là một
hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó người già và trẻ em được học bằng thực
hành.
Theo tổ chức lương thực thế giới (FAO): Khuyến nông là cách đào tạo tay nghề cho
nông dân đồng thời giúp họ hiểu được các chủ trương chính sách về nông nghiệp,
những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị
trường để họ có khả năng giải quyết những vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm
đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao trình độ dân trí, góp phần xây dựng
và phát triển nông thôn mới.
Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ truyền bá kiến thức và huấn luyện tay
nghề cho nông dân làm cho họ khả năng tự giải quyết các vấn đề của họ nhằm phát
triển sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và tình thần cho nông dân.[2]
Ngoài ra khuyến nông có thể hiểu theo hai nghĩa.[1]
Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng : Là chỉ tất cả các hoạt động hổ trợ sản sự nghiệp
xây dựng và phát triển nông thôn. Khuyến nông là ngoài việc hướng dẫn cho nông dân
tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết với nhau để chống thiên tai, tiêu thụ
sản phẩm, hiểu biết các luật lệ Nhà nước, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản
lý, điều hành, tổ chức các hoạt động xã hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn.
Hiểu theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối
tượng chính là người nông dân. Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin
và lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc
sống. Khuyến nông hổ trợ phát triển các hoạt động sản xuất nâng cao hiệu quả canh
3
tác, không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân. Tiến trình sản xuất
bao gồm các yếu tố kiến thức và kỹ năng, những khuyến cáo kỹ thuật, tổ chức của
nông dân, động cơ và niềm tin.
Như vậy trên cở sở đúc kết được thì khuyến nông có thể hiểu là một quá trình bồi
dưởng năng lực cho cán bộ lãnh đạo cộng đồng để tăng thế lực cho nông dân bằng
cách tuyên truyền TBKHKT mới trong nông nghiệp để họ có khả năng tự giải quyết
những vấn đề của chính mình nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho gia đình

xuất nông nghiệp. Việt Nam là nước nông nghiệp có nền văn minh lúa nước phát triển
tương đối sớm. Trải qua các thời kỳ lịch sử của các triều đại, Nhà nước ta đều có chủ
trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Từ khi
nước ta thực hiện cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị
sản xuất kinh doanh tự chủ, người nông dân cần có sự giúp đỡ trực tiếp nhiều mặt, sự
chuyển đổi đó diễn ra trong lúc hợp tác xã ở thời kỳ thoái trào, nền kinh tế thị trường
trong giai đoạn phôi thai, thông tin KHKT phát triển mạnh mẽ và nhu cầu bức thiết
của người nông dân. Để đáp ứng với thực tế đó, ngày 2/3/1993, chính phủ ban hành
nghị định 13/CP quy định về công tác khuyến nông. Đây là văn bản quản lý nhà nước
đầu tiên về hoạt động khuyến nông.
Sau những năm tháng hoạt động, công tác khuyến nông đã đóng góp tích cực vào sự
phát triển của ngành nông nghiệp và nông thôn. Nổi bật, công tác khuyến nông nước
ta đạt được một số kết quả đáng khích lệ như: [3]
Tính từ năm 2008, bản tin khuyến nông phát hành 2 số/tháng tới các Sở nông nghiệp
& PTNT, các trung tâm khuyến nông tỉnh, trạm khuyến nông huyện và trên 30%
khuyến nông xã và câu lạc bộ khuyến nông các xã sản xuất nông nghiệp. 63 tỉnh có 63
bản tin khuyến nông, phát hành 2-6 số/ năm.
Bên cạnh đó, hàng năm trên phạm vi cả nước hệ thống khuyến nông Việt Nam đã
được triển khai khoảng 10.000 điểm trình diễn mô hình khuyến nông trong đó kinh
phí trung ương là 7000 điễm và kinh phí địa phương khoảng 3000 điễm. Trong đó mô
hình trồng trọt chiếm 43,3%, chăn nuôi chiếm 26,25%, khuyến lâm12,7%, khuyến
ngư 9,3%, khuyến công 8,5%. Các điểm trình diễn mô hình khuyến nông đều cho
năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn ngoài sản xuất ít nhất 10-15%. Thu hút khoảng
500.000 hộ nông dân than gia xây dựng mô hình trình diễn. Ngoài ra trong hoạt động
tổ chức khuyến nông Việt Nam đã nhanh chóng hình thành hệ thống tổ chức khuyến
nông từ trên xuống. Đội ngũ khuyến nông đã nhanh chóng tăng về số lượng và chất
lượng.[3]
Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được thì hoạt động khuyến nông Việt Nam
vẫn còn một số hạn chế như [3]
- Thông tin khuyến nông vẫn chưa phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số vì các tài

- Công tác khuyến nông được xã hội hóa: Ngoài lực lượng khuyến nông Nhà nước còn
có tổ chức khuyến nông tự nguyện, khuyến nông các viện, trường, các tổ chức, đoàn
thể tích cực tham gia công tác khuyến nông
+ Hệ thống tổ chức khuyến nông( từ năm 1993 đến nay)
7
Nông dân
Làng khuyến nông tự
quản
Nông dân
Câu lạc bộ khuyến nông
Nông dân
Nhóm sở thích
Bộ NN & PTNT
Trung Tâm KNQG
Sở NN & PTNT
Cấp Huyện
Cấp xã
Trung Tâm KN Tỉnh
Khuyến nông xã/thôn
Trạm KN Huyện
Hệ thống khuyến nông Việt Nam có 4 cấp: Khuyến nông Trung ương, khuyến nông
Tỉnh, khuyến nông huyện, khuyến nông xã.
Khuyến nông trung ương
Cục khuyến nông- khuyến lâm trực thuộc Bộ NN & PTNT. Nhiệm vụ của cục khuyến
nông – khuyến lâm là:
- Xây dựng và chỉ đạo các chương trình, dự án khuyến nông về trồng trọt, chăn nuôi,
BVTV, thú y, bảo quản và chế biến nông sản.
- Theo dỏi, đôn đốc, điều phối hoạt động khuyến nông và giám sát đánh giá việc thực
hiện các chương trình dự án khuyến nông.
- Tham gia thẩm định các chương trình, dự án khuyến nông theo quy định của Bộ NN

Khuyến nông cơ sở có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng mô hình trình diễn, phản ánh tâm
tư nguyện vọng cuat nông dân và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình sản
xuất và báo cáo lên cấp trên để cùng giải quyết.
2.3.2 Một số kết quả của hoạt động KNVN.
Từ khi ra đời hoạt động khuyến nông ngày càng phát triển cả về tổ chức và nội dung.
Khuyến nông đã góp phần đóng góp đáng kể vào thành tựu sản xuất nông – lâm - ngư
nghiệp. Nhiều TBKT, công nghệ mới đã được chuyển giao, áp dụng vào sản xuất góp
phần làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi và chuyển đổi cơ cấu sản xuất hàng hóa có
chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thu nhập cho
người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Khuyến nông thật sự đã
trở thành địa chỉ đáng tin cậy của nông dân.
Theo báo cáo tổng kết hoạt đông khuyến nông – khuyến ngư giai đoạn 1993 - 2008 thì
các chương trình khuyến nông đã hổ trợ tích cực và hiệu quả cho các chương trình
phát triển sản xuất nông nghiệp trọng điểm, thể hiện ở một số kết quả sau:[4]
• Về trồng trọt
- Chương trình khuyến nông phát triển lúa lai: Được đánh giá là một trong những
chương trình khuyến nông thành công, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với quy trình kỹ
thuật cao, công nghệ mới trong khi đó trình độ nông dân Việt Nam còn rất thấp cơ sở
vật chất còn nghèo nàn nhưng biết đầu tư đúng mức, biết tổ chức hợp lý, có phương
pháp khuyến nông đúng đắn vẫn thành công. Từ chổ nông dân chưa biết kỹ thuật sản
xuất giống lúa lai đến nay nông dân đã làm chủ được quy trình kỹ thuật, năng suất
bước đầu đạt từ 0,4 tấn/ha (1994) lên 2,5 tân/ha(2001)
- Chương trình chuyển đổi cơ cấu mùa vụ: Đến nay đã có trên 500.000 ha chuyển đổi
cơ cấu mùa vụ theo chế độ canh tác mới đem lại hiệu quả kinh tế cao, có những nơi 1
ha có thể thu được từ 60-90 triệu đồng/ năm.
- Chương trình khuyến nông cây ăn quả:
Chương trình khuyến nông cây ăn quả theo hướng tập trung, đa dạng, thích hợp cho
từng vùng sinh thái, tăng thu nhập cho nông dân, sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong
nước, có sức cạnh tranh trên thị trương khu vực và quốc tế. Các mô hình khuyến nông
9

khẩu phần dinh dưỡng hợp lý và đảm bào tiêu chuẩn về chuồng trại, vệ sinh thú y
trong chăn nuôi bò.
10
Các chương trình phát triển chăn nuôi đại gia súc đã góp phần tăng sản phẩm thịt, sữa,
giảm lượng nhập khẩu từ nước ngoài và góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con
nông dân.
- Chương trình khuyến nông chăn nuôi lơn hướng nạc đảm bảo vệ sinh môi trường:
Để nâng cao năng suất chất lượng đàn lợn, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới như truyền tinh
nhân tạo lợn, sử dụng lợn nái lai hai máu, cai sữa sớm cho lợn con, nuôi lơn nái đẻ và
lợn con trên chuồng lồng, sử dụng khí sinh học biogas để sử lý chất thải… đã được
chuyển giao nhăm xây dựng các mô hình chăn nuôi lợn thâm canh hoặc bán thâm
canh với các giống lơn ngoại. Đây là chường trình mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ
tăng số lứa đẻ/nái/năm từ 1,7 lứa lên 2,2 lứa/nái/năm. Chương trình đã góp phần đưa
nền chăn nuôi lợn phát triển theo hướng công nghiệp, tập trung, kiểm soát được dịch
bệnh, đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học góp phần kiểm soát
và khống chế dịch cúm gia cầm, tăng năng suất, chất lượng và xóa đói giảm
nghèo.Chương trình đã đưa một số giống gà như Tam Hoàng, Lương Phượng… vào
nuôi ở một số tỉnh đạt kết quả rất tốt, khối lượng gà đạt 2,2 - 2,5kg ở 3 tháng tuổi,
năng suất trứng từ 140 – 160 quả/mái/năm.
- Công tác khuyến nông đạt được một số kết quả tích cực như.
+ Tập huấn đào tạo nông dân
Đào tạo tập huấn cho nông dân giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong sản
xuất và bồi dưỡng những kiến thức cho họ. Các nội dung tập huấn bao gồm: nghiệp vụ
công tác khuyến nông, tập huấn kỹ thuật, tập huấn nghề mới thông qua huấn luyện
đào tạo.
+ Hội thảo tham quan
Thông qua các điễm trình diễn đạt kết quả tốt, tổ chức khuyến nông các cấp tổ chức
hỗi thảo tham quan với 2 nội dung.
Từ các mô hình trình diễn, nông dân báo cáo kết quả, đúc rút kinh nghiệm thực tế,

3.2.6 Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác khuyến nông của Trung tâm.
3.3 Phương pháp và công cụ nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp
3.3.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp :
3.3.1.1.1 Văn bản quyết định thành lập trung tâm.
3.3.1.1.2 Các báo cáo thường kỳ của trung tâm.
3.3.1.1.3 Các bài báo có liên quan đến các hoạt động của trung tâm.
3.3.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp :
Tiến hành phỏng vấn người am hiểu là các cán bộ đang làm việc tại trung tâm.
13
3.3.2 Công cụ.
3.3.2.1 Phiếu phỏng vấn sâu để biết các khó khăn mà trung tâm đang gặp phải.
3.3.2.2 Dùng phương pháp quan sát có tham gia nhằm kiễm chứng lại những thông tin
đã thu thập.
3.3.2.3 Dùng công cụ SWOT để phân tích đưa ra chiến lược và giải pháp cho công tác
khuyến nông trong tương lại
3.4 Một số chỉ tiêu theo dỏi.
Các chỉ tiêu nghiên cứu nhằm theo dõi và có sự so sánh giữa số lượng các hoạt động
khuyên nông mà TTKN đã làm qua các năm, cụ thể là từ năm 2008-2010, làm cơ sở
để đề xuất giải pháp để đẩy mạnh công tác khuyến nông của TTKN Thừa Thiên Huế.
* Chỉ tiêu về nguồn nhân lực của trung tâm khuyến nông Thừa Thiên Huế
Số lượng cán bộ khuyến nông, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và khả năng về các
phương pháp khuyến nông.
* Chỉ tiêu về số lượng các hoạt động khuyến nông của TTKN Thừa Thiên Huế.
- Hoạt động xây dựng mô hình khuyến nông
- Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn
- Hoạt động tâp huấn
- Hoạt động hội nghị đầu bờ
- Hoạt động chuyển giao kỹ thuật công nghệ
- Hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nông

trong lĩnh vực nông, lâm, ngư của Tỉnh.
4.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn[7]
- Tham mưu cho Giám đốc Sở dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành; đề
xuất, xây dựng và trình Lãnh đạo Sở kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm và hàng
15
năm; các chương trình dự án, công trình thuộc chuyên ngành, lĩnh vực quản lý của
Trung tâm theo sự phân công của Giám đốc Sở.
- Xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chương trình, dự án, đề tài khuyến nông, lâm,
ngư trong từng tiểu vùng sinh thái, từng lĩnh vực công tác tại địa phương theo định
hướng phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh; tiếp nhận các chương trình khuyến nông,
lâm, ngư Quốc gia để triển khai trên địa bàn Tỉnh, đồng thời hướng dẫn các tổ chức
khuyến nông, lâm, ngư(kể cả tổ chức tự nguyện) xây dựng và thực hiện các chương
trình khuyến nông, lâm, ngư trong Tỉnh.
- Tổ chức thực hiện và đánh giá các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học,
nội dung công tác khuyến nông, lâm, ngư theo quy định của Nhà nước, của Tỉnh và
Ngành.
- Xây dựng các mô hình sản xuất theo quy trình kỹ thuật, công nghệ mới; đúc kết kinh
nghiệm, mô hình sản xuất giỏi để phổ biến nhân rộng trong nhân dân.
- Phối hợp, tổ chức, quản lý điều hành hệ thống khuyến nông, lâm, ngư của các đơn vị
liên quan từ Tỉnh đến cơ sở.
- Tư vấn các hình thức kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông,
lâm, ngư theo chức năng nhiệm vụ được giao.
- Bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, kiến thức về kỹ thuật; quản lý kinh tế, thông tin về thị
trường cho nhân dân.
- Kêu gọi các nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân, các đơn vị kinh tế và ngoài
nước tham gia vào các hoạt động khuyến nông, lâm, ngư.
- Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho các phòng ban; quản lý, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo quy định của
Pháp luật và phân cấp của Sở.
- Trình Sở dự toán ngân sách hàng năm và chịu trách nhiệm quyết toán các nguồn tài

Xây dựng
các
CLBKN
Chuyển
giao tiến
bô KHKT
vào sản
xuất
Xây dựng
mô hình
trình diễn
TT Khuyến Nông Lâm
Ngư TT Huế
4.2 Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động.
4.2.1 Nguồn nhân lực.
Con người là yếu tố vô cùng quan trọng và là nhân tố quyết định cho sự thành bại hay
tiến triển của công việc. Trình độ của CBKN cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả
của công tác khuyến nông. Vì vậy, tìm hiểu yếu tố nhân lực của TT Khuyến Nông -
Lâm - Ngư TT Huế được xem xét trước tiên. Nguồn nhân lực của TT được thể hiện
qua bảng sau.
Bảng 1:Nguồn nhân lực CBKN TT Khuyến Nông - Lâm - Ngư TT Huế năm 2010.
TT
Đơn vị
Hiện có
Ghi chú
Tổng
số
Đại học và
trên đại học
Trung

cũng như công việc nên hiệu quả công việc chưa được cao. Đa phần cán bộ trong TT
đều tốt nghiệp Đại học chuyên nghành trồng trọt, NTTS, chăn nuôi nên các kỹ năng
về khuyến nông đang có nhiều trở ngại.Tuy sau nhiều năm làm khuyến nông việc tích
lũy kinh nghiêm làm việc cũng giúp đở nhiều trong công việc khuyến nông nhưng do
không được đào tạo bài bản nên có những khó khăn và trở ngại khi tiếp cận và lập kế
hoạch khuyến nông hàng năm.
4.2.2 Cơ cấu tổ chức của TT Khuyến Nông - Lâm - Ngư TT Huế.
Sơ đồ 2: cở cấu tổ chức của TT Khuyến Nông - Lâm - Ngư TT Huế
(Nguồn : Phỏng vấn sâu CBKN)
Qua sở đồ cho thấy cở cấu tổ chức TT Khuyến Nông - Lâm - Ngư TT Huế tương đối
đởn giản ngoài ra TT còn quản lý 8 trạm khuyến nông trên toàn tỉnh đó là:
- Trạm Khuyến nông - lâm- ngư A Lưới.
- Trạm Khuyến nông -lâm- ngư Nam Đông.
- Trạm Khuyến nông - lâm-ngư Phú Lộc.
- Trạm Khuyến nông -lâm-ngư Phú Vang.
19
Giám Đốc
Phó Giám Đốc
( nông – lâm)
Phó Giám Đốc
( NTTS )
P
h
ò
n
g

K




T

n
g

H

p
P
h
ò
n
g

K


T
h
u

t

T
h

y

S

- Trạm Khuyến nông -lâm-ngư Hương Thủy.
- Trạm Khuyến nông -lâm-ngư Hương Trà.
- Trạm Khuyến nông -lâm - ngư Quảng Điền.
- Trạm Khuyến nông - lâm- ngư Phong Điền.
và 21 CLB khuyến nông trên toàn tỉnh phân bố ở các huyện.
Việc quản lý 8 trạm khuyến nông và 21 CLB khuyến nông là tương đối khó khăn đối
với cán bộ trung tâm. Toàn bộ 8 trạm khuyến nông đều được tách ra từ phòng nông
nghiệp huyện nên việc bố trí cán bộ trả lương đều do UBND huyện chiệu trách nhiệm.
Việc điều động cán bộ hay chuyển giao một số TBKT đều mang tính hợp tác của TT
với Trạm chứ không phải là giao nhiệm vụ nên hiệu quả trong công tác quản lý là
chưa được cao.
Bộ phận đầu tàu của TT là Giám Đốc là người trực tiếp điều hành và chiệu trách
nhiệm với các hoạt động khuyên nông của TT, là người lảnh đạo có nhiệm vụ giám sát
các hoạt động của TT và phân bố công việc xuống cho các bộ phận. Là người trực tiếp
nhận những chính sách mới từ cấp trên.
Hai phó giám đốc ngoài việc phụ trách những mảng chuyên môn còn đảm nhiệm
nhiều trọng trách quan trọng mà còn có nhiệm vụ hổ trợ đắc lực cho cấp trên trong
việc điều hành và phân bố công việc cho các phòng chức năng.
4.3 Thực trạng công tác khuyến nông của TT Khuyến Nông - Lâm - Ngư TT
Huế.
4.3.1 Mạng lưới tổ chức công tác khuyến nông của TT.
20
sở dồ 3: mạng lưới tổ chức công tác khuyến nông của TT
Qua sở đồ cho thấy hoạt động khuyến nông của TT có sự phối hợp với các cở quan
trong và ngoài ngành để triển khai các hoạt động khuyến nông trên địa bàn Tỉnh.
Đối với các cở quan trong ngành: TT với Bộ NNPTNT, TT khuyến Nông Quốc Gia,
Sở NNPTNT tỉnh, chi cục thú y tỉnh, chi cục kiểm lâm tỉnh, công ty giống cây trồng
vật nuôi, các viện, trường ĐH Nông Lâm Huế. Để xây dựng các chương trình, dự án
khuyến nông, xây dựng các mô hình trình diễn, mở các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ
thuật về trồng trọt chăn nuôi, NTTS cho nhiều hộ nông dân trên toàn Tỉnh. TT còn

Nông
Nông dân
sản xuất
giỏi
Nông hộ
cung cấp thông tin, tư vấn cho các trạm khuyến nông phòng nông nghiệp huyện để
triển khai các chính sách cho người dân. TT cử cán bộ thường xuyên nắm bắt thông
tin dịch bênh ở cở sở nhằm đưa ra những dự báo cố vấn cho cấp trên để đề xuất những
phương án phòng trừ dịch bệnh hiệu quả cho người dân.
Đối với các tổ chức ngoài ngành: TT phối hợp với các tổ chức tín dụng các tổ chức
phi chính phủ, các chủ đầu tư, WB, nhằm tạo thêm nguồn kinh phí cho hoạt động
khuyến nông thêm phong phú và đa dạng, phối hợp với đài truyền hình Tỉnh, huyện.
Tuyên truyền các chính sách mới về phát triển nông nghiệp – nông thôn cho người
dân cung cấp thông tin về giá cả thị trường, phân bón thuốc trừ sâu cho người dân để
tiện sản xuất.
Thông qua trạm khuyến nông huyện, CLB khuyến nông, gương mặt sản xuất giỏi TT
phổ biến TBKT mới đến người dân. Những gương mặt sản xuất giỏi là những người
có kinh nghiệm và có khả năng để áp dụng TBKT mới vào sản xuất thông qua đó TT
có thể biết được TBKT đó có áp dụng tốt ở địa phương không và đưa ra những điều
chỉnh chính xác tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra khi áp dụng đại trà.
Việc liên kết các cở quan trong và ngoài ngành có tác dụng giúp cho hoạt động
khuyến nông trong tỉnh trở nên đa dạng và phong phú hơn. Việc kết hợp này giúp cho
người dân được hưởng nhiều từ các hoạt động của TT, TT củng có nguồn kinh phí để
hoạt động được hiệu quả hơn. Do hàng năm nguồn kinh phí cho hoạt động khuyên
nông của tỉnh là không nhiều nên việc tìm kiếm các nguồn ngoài là một hướng đi
đúng đắn và có hiệu quả cho công tác khuyến nông của TT.
Việc liên kết với các tổ chức nghiên cứu khoa học các viện giúp cho TT nắm bắt được
các TBKT mới và nhanh chóng thử nghiệm để chuyển giao cho người nông dân. Đây
củng là tiền đề cho việc thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông cho tỉnh nhà trong
tương lại.

Người/ lớp 20 20 20 20
(Nguồn [6] )
Nhìn chung, hàng năm hoạt động tập huấn, tham quan đầu bờ được TT quan tâm và tổ
chức với số lượng luôn vượt kế hoạch năm và chất lượng ngày càng được nâng cao.
Năm 2010 số lớp tâp huấn là 89 lớp tăng 14 lớp so với năm 2008 và tăng 4 lớp so với
năm 2009 sở dỉ tổng số lớp tập huấn trong năm 2010 tăng ít do trong năm 2010 trên
địa bàn phải chịu thiệt hại do thiên tai ảnh hưởng của đợt rét đậm rét hại kéo dài làm
23
cho lịch thời vụ bị chậm hơn số lượng tập huấn tương đối như năm cũ. Tuy nhiên
được sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành cộng với sự nổ lực của toàn thể
CBKN của TT thì số đợt tập huấn vẫn có tăng nhưng không nhiều.
Trong các lớp tập huấn thì số lớp tập huấn cho NTTS là chiếm nhiều nhất, nôi dung
này chủ yếu tập trung kỹ thuật nuôi trồng các giống thủy sản có năng suất cao và phù
hợp với điều kiện của địa phương, đa phần các lớp đều được diển ra ở các huyện ven
biển nơi hoạt động NTTS chiếm phần lớn. Phần ít số lớp diển ra ở các huyện thuần
nông chủ yếu là các mô hình nông – ngư kết hợp.
Hoạt động chăn nuôi cũng được chú ý với 82 lớp trong vòng 3 năm. Trong đó hoạt
động chăn nuôi lợn và bò là chủ yếu sỏ dỉ có như vậy là do những năm gần đây trên
địa bàn xuất hiện dịch lợn tai xanh và lở mồm long móng ở bò . TT cũng đã cố gắng
liên kết với sở NNPTNT các trung tâm nghiên cứu khoa học để đưa những kỹ thuật
phòng trừ và pháp đồ điều trị với những con vật bị bệnh. Ngoài ra thông qua các mô
hình TT đã đưa những giống bò, lợn mới đã được kiểm nghiệm về với người dân tăng
lượng đàn bò và lợn do bị thiều hụt nhằm gây dựng lại đàn bò và lợn sau dịch. Tuy
nhiên với điều kiện thời tiết tương đối không thuận lợi như hiện nay ảnh hưởng đến
chất lượng và số lượng đàn bò, lợn của tỉnh.
Tuy gặp nhiều khó khăn do thời tiết tương đối khắc nghiệt nhưng TT vẫn cố gắng thực
hiện được 45 lớp tập huấn về trồng trọt trong 3 năm chưa thể đáp ứng nhu cầu sản
xuất nông nghiệp của người dân trong tỉnh. Đa phần các lớp tập huấn đều là đưa
những kỹ thuật mới những giống cây trồng mới đang ở giai đoạn thử nghiệm và không
phù hợp với nhiều địa phương. Trong khi người dân cần kỹ thuật phòng trừ những

(nguồn [7])
trên cở sở đó, hàng năm TT đã chuyển giao một lượng thông tin đáng kể đến người
dân. Hàng chục nghìn tờ rơi và đầu sách đã được cấp phát cho người dân. TT hàng
năm vấn luôn kết hợp với các đài truyền hình để in ấn các đĩa VCD tài tài liệu về kỹ
thuật trồng trọt và NTTS để tiện cho các trạm thực hiện tốt các mô hình. TT vẫn luôn
thường xuyên tổ chức các hội thảo nhằm trao đổi kinh nghiệm trong việc quản lý và
xây dựng các mô hình khuyến nông đạt hiệu quả cao. Trong năm vừa qua với sự hổ
trợ của dự án khí sinh học trong chăn nuôi TT cũng đã tổ chức 5 cuộc họp giao ban và
hàng chục cuộc tham quan để nhân rộng mô hình khí sinh học trong chăn nuôi cho
toàn Tỉnh.
Tuy nhiên công tác thông tin tuyên truyền của TT vẫn còn một số hạn chế như là
thông tin chưa phù hợp với bà con đồng bào dân tộc ở 2 huyện Nam Đông và A Lưới
do sự bất đồng về ngôn ngữ. Các chuyên mục chỉ được phát ở các kênh song của đài
truyền hình Tỉnh (TRT) và Trung ương ( HVTV, VTV2) các chuyên mục này chủ yếu
phát là tiếng Kinh nên rất khó khăn trong việc chuyển tải thông tin đến người dân tộc.
25

Trích đoạn Những khó khăn thuận lợi trong công tác khuyến nông của TT Khuyến Nông Lâm Ngư TT Huế. Điểm mạnh, điểm yếu, cở hội, thách thức và chiến lược phát triển khuyến nông trong tương lai.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status