TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
2
1. TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
3
1.1. Triết học là gì
3
1.2. Vấn đề cơ bản của triết học
4
1.3. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
6
2. ĐỐI TƯỢNG, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
7
2.1. Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác - Lênin
Triết học ra đời khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr. CN gắn liền với
những thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ
và Hy Lạp.
2
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm, quan niệm
khác nhau về triết học. Ở phương Đông, theo quan niệm của người Trung
Quốc cổ đại, thuật ngữ “triết học” được hiểu là toàn bộ sự hiểu biết của con
người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người. Ở phương Tây, thuật
ngữ “triết học” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại “philosophia” nghĩa là yêu
thích sự thông thái. Như vậy, ngay từ đầu thuật ngữ “triết học” được hiểu là
toàn bộ sự hiểu biết của con người, là hình thái cao nhất của tri thức, là “khoa
học của các khoa học”.
Trong suốt "đêm dài trung cổ" ở Châu Âu, triết học phát triển một cách
khó khăn trong môi trường hết sức chật hẹp, nó không phải là một khoa học
độc lập mà chỉ là một bộ phận của thần học, nền triết học “tự nhiên” thời kỳ
cổ đại bị thay bởi triết học kinh viện. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào
thế kỷ XV - XVI đã tạo ra một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng
triết học. Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập, chuyên ngành từng
bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò "khoa học của
các khoa học". Triết học Hêghen là học thuyết cuối cùng mang tham vọng đó.
Khác với những quan điểm trên, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định
Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý
luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó. Sự
khẳng định này được xuất phát từ nhu cầu cuộc sống và quá trình lao động
sản xuất, con người trong cuộc sống luôn tìm hiểu về thế giới xung quanh
mình và hình thành nên những quan niệm về thế giới. Các khoa học khác
cũng cung cấp cho con người những quan niệm về thế giới nhưng đó mới là
tõm khỏch quan v ch ngha duy tõm ch quan. Ch ngha duy tõm khỏch
quan cho rng: cú mt th gii tn ti õu ú ngoi th gii vt cht, cú trc
th gii vt cht, l bn nguyờn u tiờn sinh ra th gii vt cht, th gii vt
cht l cỏi cú sau, cỏi búng ca mt th gii khỏc, th gii ý nim hay tinh
thn tuyt i, chỳa, thng Vi ch ngha duy tõm ch quan thỡ tt c
mi th (k c th gii vt cht v con ngi) u do cm giỏc ca con ngi
sinh ra, cũn cỏc s vt, hin tng bờn ngoi ch l phc hp ca cỏc cm giỏc
m thụi.
Nu khng nh vt cht cú trc, sinh ra ý thc v quyt nh ý thc
ú l trng phỏi duy vt (ch ngha duy vt). Ch ngha duy vt ó phỏt trin
qua ba hỡnh thc c bn:
Hỡnh thc lch s u tiờn ca ch ngha duy vt l ch ngha duy vt
cht phỏc, ngõy th thi c i. Do trỡnh khoa hc, trỡnh nhn thc ca
con ngi trong thi k ny cha phỏt trin, nờn cỏc nh trit hc duy vt thi
1
C.Maực vaứ Ph.Aấngghen: Toaứn taọp, taọp 21, Nxb. CTQG, H, 1995.tr. 403.
4
cổ đại giải thích thế giới dựa trên sự quan sát trực tiếp, mang tính trực quan
các hiện tượng, quá trình xảy ra trong thế giới. Các quan điểm của chủ nghĩa
duy vật thời kỳ này nhìn chung là đúng nhưng còn mang nặng tính phỏng
đoán thơ ngây, chất phác. Nhưng dù sao, với những phỏng đoán thiên tài ấy
họ đã đưa lại cho con người bức tranh chung, đầu tiên về thế giới.
Hình thức lịch sử thứ hai của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật
máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII. Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật
siêu hình gắn liền với sự phát triển rực rỡ của khoa học tự nhiên thế kỷ XVII
– XVIII, đặc biệt là cơ học. Phương pháp tư duy máy móc trong lĩnh vực
khoa học tự nhiên đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của khoa học thời
thuộc khuynh hướng khả tri.
Nếu phủ nhận khả năng nhận thức của con người, hoặc cho rằng nhận
thức của con người là do một lực lượng siêu nhiên như Chúa, Thượng đế,
thần thánh ban phát cho chứ không phải là kết quả hoạt động thực tiễn và
nghiên cứu khoa học của con người… đó là những người theo phái “Bất khả
tri luận”.
Tóm lại: Trong lịch sử triết học tồn tại hai trường phái triết học nhau là
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm và hai khuynh hướng nhận thức đối
lập nhau là khả tri và bất khả tri. Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái, hai
khuynh hướng trong triết học diễn ra trong suốt lịch sử phát triển của triết học
và cho đến ngày nay.
1.3. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong triết học
Trong lịch sử triết học, cùng với việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết
học, triết học còn phải trả lời câu hỏi: Thế giới tồn tại như thế nào? Trả lời câu
hỏi đó trong triết học đã xuất hiện hai phương pháp xem xét thế giới đối lập
nhau đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét thế giới tồn tại trong
trạng thái cô lập, tách rời nhau không vận động, phát triển, không nhìn thấy
mối liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng, nếu có vận động chỉ là sự vận
động cơ học, sự vận động lặp lại những cái cũ mà thôi. Theo Ph.Ăngghen: tư
duy của các nhà siêu hình dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung
hoà được, họ nói có là có, nói không là không. Đối với họ một sự vật hoặc tồn
tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái
khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau.
6
Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét thế giới trong mối
liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong sự vận động và phát triển không
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác - Lênin
7
Triết học Mác - Lênin xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp
tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt
để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp riêng của mình khác
với mọi khoa học cụ thể. Triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể để giải
quyết và làm rõ vấn đề cơ bản của triết học. Trong đó, triết học Mác - Lênin
nghiên cứu những quy luật chung nhất của giới tự nhiên, xã hội và con người,
mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế
giới xung quanh nhằm giúp cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động tiến bộ
trên thế giới trong nhận thức và hành động cách mạng, để xây dựng một xã
hội tốt đẹp hơn cho con người.
2.2. Đặc điểm của triết học Mác - Lênin
Triết học Mác - Lênin có sự thống nhất chặt chẽ giữa tính đảng và tính
khoa học, điều đó thể hiện ở chỗ: Triết học Mác - Lênin thống nhất giữa lập
trường duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng khoa học. Sự thống
nhất này đã thể hiện rõ đặc điểm nổi bật so với tất cả các tư tưởng, quan điểm
triết học trong lịch sử. Chính vì vậy, triết học Mác - Lênin đã trở thành vũ khí
lý luận của giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến bộ trong đấu tranh vì sự
tiến bộ của xã hội.
Triết học Mác - Lênin luôn có gắn bó chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.
Bởi vì, triết học Mác - Lênin được hình thành từ đòi hỏi của thực tiễn xã hội,
ra đời, tồn tại và được bổ sung phát triển trong thực tiễn. Đây là một đặc điểm
thể hiện vừa là kết quả của sự khái quát hiện thực đồng thời còn là lý luận
khoa học cho việc định hướng chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Từ khi ra đời đến
nay triết học Mác - Lênin luôn là lý luận cách mạng khoa học, vũ khí lý luận
vấn đề lý luận, thực tiễn hiện nay
Triết học Mác - Lênin là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận cho
con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Vai trò của triết học Mác Lênin được thể hiện ở các chức năng như: Chức năng nhận thức, chức năng
dự báo, chức năng giáo dục, chức năng thế giới quan và chức năng phương
pháp luận. Trong đó, chức năng thế giới quan và phương pháp luận là hai
chức năng cơ bản, chủ yếu nhất của triết học Mác - Lênin.
Triết học ra đời với tư cách hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho
thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn và tri thức do khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan
của triết học, tuỳ theo trường phái triết học và quan điểm của giai cấp trong xã
hội mà chức năng này thể hiện vai trò của nó. Chức năng thế giới quan của triết
học Mác - Lênin cung cấp cho giai cấp vô sản, nhân dân tiến bộ trên thế giới
9
những nhận thức khoa học chung nhất về thế giới (tự nhiên và xã hội) những
hiểu biết về quy luật vận động và biến đổi của thế giới và vũ trụ, quy luật về sự
biến đổi của xã hội loài người, vị trí vai trò của giai cấp vô sản và nhân dân lao
động tiến bộ trong cuộc đấu tranh để giải phóng mình và toàn xã hội thoát khỏi
ách áp bức, bóc lột. Triết học Mác - Lênin đã khái quát nên hệ thống các quy
luật vận động, phát triển của thế giới, điều mà từ khi con người xuất hiện đến
nay luôn tìm kiếm để phục vụ cho cuộc sống.
Cùng với chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năng phương
pháp luận. Đây là phương pháp nhận thức và hành động được rút ra từ một thế
giới quan nhất định. Phương pháp luận của triết học Mác - Lênin là hệ thống
những qui tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn được rút ra
từ thế giới quan của triết học Mác - Lênin. Đó là phương pháp luận khoa học
nhất của giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ trên thế giới trong nhận thức
và hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo xã hội cũ xây dựng thành công một xã hội
trái ở đơn vị và sự chống phá của các thế lực thù địch trong lĩnh vực tư tưởng
lý luận hiện nay.
2.4. Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của môn học
Triết học ra đời luôn gắn với giai cấp và mang tính giai cấp, là vũ khí
lý luận của một giai cấp nhất định trong lịch sử xã hội. Triết học Mác Lênin là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trong nhận
thức và cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Do vậy,
nghiên cứu triết học Mác - Lênin phải đứng vững ở lập trường của giai cấp
vô sản. Triết học Mác - Lênin là kết quả tư duy khái quát từ hiện thực sinh
động, vì vậy nghiên cứu triết học Mác - Lênin phải vận dụng phương pháp tư
duy trừu tượng. Mặt khác, nghiên cứu triết học Mác - Lênin phải gắn lý luận
với thực tiễn, học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực hành.
Trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tư bản đang điều chỉnh thích nghi,
chủ nghĩa xã hội tuy đã sụp đổ ở một số nước song trong bước phát triển
quanh co ấy, chủ nghĩa xã hội đang lấy lại sức sống của mình, có bước phát
triển ở một số nước như thành tựu đổi mới ở Việt Nam, Trung Quốc… đòi hỏi
nhận thức của mỗi cán bộ đảng viên hiện nay cần phải đứng vững ở lập
trường giai cấp vô sản, vận dụng tốt tư duy biện chứng của triết học Mác Lênin, tránh rơi vào quan điểm duy tâm, siêu hình trong nhận thức và hành
động cách mạng.
2
11
Nghiên cứu triết học Mác - Lênin giúp cho người sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội ở các đơn vị cơ sở có quan điểm đúng đắn về thế giới, về nhiệm vụ
của quân đội và đơn vị, từ đó có phương pháp luận khoa học trong nhận thức
và hành động ở đơn vị, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước
và Quân đội giao cho. Vận dụng sáng tạo thế giới quan, phương pháp luận
triết học Mác - Lênin vào lãnh đạo, quản lý và giáo dục cho cán bộ chiến sĩ ở
đơn vị thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần to lớn vào sự nghiệp