TIỂU LUẬN: Đánh giá ưu và nhược điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO so với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN. Đưa ra các ví dụ về các vụ việc thực tế để chứng minh - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

BÀI TẬP LỚN CUỐI KỲ
Môn: Luật Thương mại quốc tế
ĐỀ TÀI SỐ 06: “Đánh giá ưu và nhược điểm của cơ chế giải quyết tranh
chấp trong khuôn khổ WTO so với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ
ASEAN. Đưa ra các ví dụ về các vụ việc thực tế để chứng minh”

Họ và tên: ĐẶNG CHÍ NGUYỆN
MSSV

: 1453801010182

Lớp

: K2I

Hà Nội 2017

1


MỤC LỤC

2


A.

MỞ ĐẦU
Tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Oganization) được thành


NỘI DUNG
1. Sơ lược về WTO và ASEAN
1.1 Tổ chức thương mại thế giới WTO
Tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Oganization ) chính thức

ra đời thừ ngày 1/1/1995 là kết quả của vòng đàm phán Urugoay (1986-1995)
với tiền thân là hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947).
WTO được coi như là một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và
pháp lí cuối thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thỏa thuận, danh
mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại giữa
các quốc gia thành viên. WTO được thành lập với bốn nhiệm vụ chủ yếu là:
-

Thúc đẩy việc thực hiện các Hiệp định và cam kết đã đạt được trong

-

khuôn khổ WTO và những cam kết trong tương lai nếu có;
Tạo diễn đàn để các thành viên tiếp tục đàm phán, ký kết những Hiệp
định, cam kết mới về tự do hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho thương

-

mại;
Giải quyết các tranh chấp thuơng mại phát sinh giữa các thành viên

-

WTO;


gia các cơ quan này.
Ban thư ký bao gồm Tổng giám đốc WTO, 03 phó tổng giám đốc và
các Vụ, Ban giúp việc với khoảng 500 nhân viên, làm việc độc lập
không phụ thuộc vào bất kỳ chính phủ nào.

WTO hoạt động và phát triển với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền
thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi mà minh bạch.
1.2

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN (Association of Southeast
Asian Nation) được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 tại Bangkok (Thái Lan)
bởi Bộ trưởng ngoại giao các nước sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines,
Thái Lan và Singapore. Hiện nay ASEAN đã phát triển với 10 thành viên chính
thức, một ứng của viên và một quan sát viên.
ASEAN được thành lập với mục tiêu “thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế,
tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung
trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng
các nước Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.”1
Ngoài ra, Hiến chương ASEAN ngày 15/12/2009 còn bổ sung thêm các
mục tiêu mới nhằm phù hợp với tình hình phát triển của khu vực cũng như là
tình hình chung trong quá trình hội nhập với Thế giới. Trong đó bao gồm các
mục tiêu như duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định và tăng cường hơn
nữa các giá trị hướng tới hòa bình trong khu vực; nâng cao khả năng tự cường
khu vực thông qua đẩy mạnh hợp tác, chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa – xã
hội; duy trì Đông Nam Á là một khu vực không có Vũ khĩ hạt nhân và các loại
vũ khí hàng loạt khác; giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển trong
11 Tuyên bố Bangkok (Tuyên bố của hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – 8/8/1967)

chấp của WTO thể hiện qua các đặc điểm về cơ sở pháp lý, nguyên tắc, cơ quan
giải quyết tranh chấp và trình tự, thủ tục.

a.

Về cơ sở pháp lý
6


Trên cơ sở các quy định rời rạt về giải quyết tranh chấp trong GATT,
WTO đã thiết lập một cơ chế pháp lý đầy đủ nhằm tạo thuận lợi trong việc giải
quyết tranh chấp giữa các thành viên. Đó là Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ
tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU).
Ngoài ra, cơ chế này còn viện dẫn đến một số quy định riêng biệt trong các văn
bản khác như:
-

Điều XXII và XXIII GATT 1947 (Điều 3.1 DSU)
Các qui tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh
chấp tại các Hiệp định trong khuôn khổ WTO (Ví dụ: Điều 11.2 Hiệp
định về các Biện pháp Kiểm dịch Thực vật; Điều 17.4 đến 17.7 GATT

-

1994…)
“Quyết định về các Thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt” GATT
1966: bao gồm các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp
giữa một nước kém phát triển và một nước phát triển (Điều 3.12 DSU)
và các thủ tục đặc biệt áp dụng cho tranh chấp có một bên là nước kém


thẩm sẽ được thành lập để giải quyết tranh chấp và các báo cáo của Ban hội
thẩm, của Cơ quan phúc thẩm sẽ được thông qua trừ khi DSB (Cơ quan giải
quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập Ban hội thẩm hay không
thông qua các báo cáo này.2
Thứ tư, nguyên tắc đối xử ưu đãi đối với các nươc thành viên đang phát
triển và chậm phát triển nhất. Việc đối xử ưu đãi với các nước đang phát triển
chỉ thể hiện ở chỗ Ban thư ký dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nước này, có
thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và
tình hình kinh tế của các nước này sẽ được chú ý tới trong giai đoạn của quá
trình giải quyết tranh chấp.
c.

Về cơ quan giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan

khác nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt
động điều tra và thông qua quyết định trong cơ chế này.3

2 Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, nxb Công an nhân dân năm 2013, Tr 186
3 Giới thiệu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO – cơ quan giải quyết tranh chấp tại được giới thiệu tại
website

8


Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB): Cơ quan này thực chất là Đại hội
đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên.
Ban hội thẩm (Panel): Ban Hội thẩm bao gồm từ 3 - 5 thành viên có
nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể bị tranh chấp trên cơ sở các qui định WTO
được quốc gia nguyên đơn viện dẫn.

không mở rộng phạm vi của vụ tranh chấp. Giải quyết ở giai đoạn phúc thẩm sẽ
được bắt đầu khi một bên tranh chấp thông qua DSB về quyết định kháng cáo
của mình.
Giai đoạn thi hành phán quyết
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày DSB thông qua báo cáo của Ban hội thẩm
hoặc cơ quan phúc thẩm, tại cuộc họp của DSB, thành viên liên quan phải thông
báo cho DSB các dự định của mình đối với việc thực hiện các khuyến nghị và
phán quyết của DSB.
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN
Cơ sở pháp lý
2.2

a.

Việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ ASEAN dựa trên cơ sở quy
định của “Nghị định thư ASEAN về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp
ngày 29/1/2004”. Nghị định thư này được ký kết với mong muốn thay thế Nghị
định thư 1996 về DSM bằng Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết
tranh chấp ASEAN.
b.

Cơ quan giải quyết tranh chấp
Theo “Nghị định thư ASEAN về tăng cường cơ chế giải quyết tranh

chấp” thì SEOM sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như là giám sát thi
hành Nghị định thư này. Theo đó, SEOM có quyền thành lập Ban Hội thẩm,
thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, giám sát việc thi
hành các kết luận và khuyến nghị trong báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan
Phúc thẩm đã được SEOM thông qua và cho phép tạm ngừng ưu đãi và các
nghĩa vụ khác theo các hiệp định liên quan.

Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm
Các nước thành viên là các bên tranh chấp nếu không thỏa mãn báo cáo
của ban hội thẩm có quyền yêu cầu đưa vụ việc giải quyết tại ban phúc thẩm.
Phạm vi "phúc thẩm" chỉ áp dụng đối với những kết luận và giải thích pháp lí
được đưa ra trong báo cáo của ban hội thẩm. Trong vòng 60 ngày và tối đa
không quá 90 ngày, ban phúc thẩm phải đệ trình báo cáo lên SEOM để thông
qua. Việc thông qua báo cáo phúc thẩm cũng được thực hiện theo nguyên tắc
đồng thuận phủ quyết. Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực hiện phán quyết của
SEOM.
11


Giai đoạn thi hành phán quyết
Bên thua kiện có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của SEOM trong
vòng 60 ngày kể từ khi báo cáo của Ban hội thẩm hoặc báo cáo của cơ quan
phúc thẩm được SEOM thông qua, trừ khi các bên thỏa thuận một khoảng thời
gian dài hơn. Hết thời hạn thi hành phán quyết mà bên vị phạm đã thua kiện
không chịu thi hành phán quyết, bên thắng kiện được yêu cầu bồi thường và việc
bồi thường được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên.
3.

Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp
trong khuôn khổ WTO so với cơ chế giải quyết tranh chấp trong
khuôn khổ ASEAN
3.1 Ưu điểm

Thứ nhất, về cơ quan giải quyết tranh chấp. Trong cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO thì DSB là cơ quan có thẩm quyền, các ban hội thẩm sẽ được cơ
quan này lập ra để đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện. Trong khi đối với cơ
chế giải quyết tranh chấp củaASEAN thì có hai cơ quan cùng tham gia là hội

quyết tranh chấp trong các hiệp định riêng lẻ dành một số ưu tiên về thủ tục
dành cho các quốc gia đang phát triển. Việc ưu tiên này được thể hiện ở chỗ Ban
thư ký dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nước này, có thể kéo dài một số thời
hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế của các
nước này sẽ được chú ý tới trong giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, WTO là một tổ chức hợp tác về kinh tế đơn thuần còn ASEAN là
một tổ chức hợp tác toàn diện. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
mang tính chuyên môn hóa nhiều hơn, WTO có hệ thống các văn bản pháp lý
điều chỉnh đa ngành về kinh tế. Còn cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bị
chi phối bởi các yếu tố như chính trị, an ninh – quốc phòng, văn hóa, xã hội. Vì
vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính chuyên nghiệp và hiệu
quả hơn.

4 Nguyễn Toàn Thắng, “Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiến chương của ASEAN”, Tạp chí Luật học, số
9/2008, Tr 77

13


3.2

Về nhược điểm

Bên cạnh những điểm mạnh trong việc giải quyết tranh chấp của mình,
WTO còn có một số nhược điểm so với cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tếthương mại so với ASEAN.
Thứ nhất, có thể thấy cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại
của ASEAN vừa mang tính hòa giải vừa mang tính tài phán. Thủ tục được ghi
nhận trong nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp có nhiều điểm giống
với thủ tục tố tụng của cơ quan tài phán quốc tế, nhưng ASEAN luôn khuyến
khích các bên liên quan tự dàn xếp thỏa thuận để có thể đi đến một giải pháp mà

dụng biện pháp trả đũa do sức ép về chính trị, kinh tế, hoặc dù có tiếp tục trả đũa
cũng không có tác dụng tích cực gì cho họ mà các thành viên này không thể tiếp
tục biện pháp trả đũa. Trong khi đó, các nước trong khu vực ASEAN có trình độ
phát triển tương đồng nhau, do đó ít chịu áp lực về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội nên việc áp dụng các biện pháp trả đũa sẽ hiệu quả hơn so với WTO.
4.

Một số ví dụ thực tế

Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO vẫn hiêu
quả và có nhiều ưu điểm hơn so với giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết
tranh chấp của ASEAN. Cụ thể có thể thấy các tranh chấp phát sinh giữa các
nươc thành viên ASEAN nhưng các bên lại chọn WTO để giải quyết tranh chấp.
Điển hình là vụ kiện của Việt Nam với Indonesia do đã áp thuế tự vệ thương mại
trong 3 năm (2014-2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam.
Theo đó, Ngày 07/07/2014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư
137.1/PMK.011/2014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong 3 năm
(2014-2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất
cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho
năm 2015 và 41% năm 2016, mà không qua tham vấn của Chính phủ Việt Nam.
Tập đoàn Tôn Hoa Sen và các doanh nghiệp xuất khẩu tôn lạnh khác đã chịu
thiệt hại nặng nề từ quyết định này của Indonesia do không thể tiếp tục xuất
khẩu được mặt hàng này. Việt Nam cho rằng Indonesia có một số dấu hiệu vi
phạm các điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ thương mại như: không chứng minh
được đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng, không có sự phân tích đầy đủ về
những diễn tiến không lường trước được, mối đe dọa nhân quả giữa việc nhập
15


khẩu sản phẩm tôn lạnh và thiệt hại của ngành công nghiệp nội địa, không có sự


thuế trên. Ecuador cho rằng Hoa Kỳ đã vi phạm Điều VI của GATT 1994 và các
Điều , 2.1, 2.2, 2.4, 2.4.2, 5.8, 6.10, 9.2, 9.3, 9.4, và 18.1 của Hiệp định ADA.
Ấn Độ (ngày 28/11/2005) và Thái Lan (ngày 01/12/2005) yêu cầu tham gia vào
cuộc tham vấn với tư cách các bên thứ ba.
Tiếp theo, Tham vấn không thành công, ngày 08/06/2006, Ecuador yêu
cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm giải quyết tranh chấp vụ việc ngày. Tại cuộc
họp ngày 19/06/2006, DSB đã trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm. Tuy nhiên,
Ban Hội thẩm đã được thành lập sau đó tại cuộc họp của DSB ngày 19/07/2006.
Braxin, Trung Quốc, EC, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và sau đó là
Chi lê và Mexico yêu cầu tham gia vao vụ kiện với tư cách các bên thứ ba.
Ngày 26/09/2006, thành phần của Ban Hội thẩm đã được xác định.
Ngày 20/10/2006, các bên thông báo với DSB về một Thỏa thuận Thủ tục
cho vụ kiện này.
Ngày 20/01/2007, Ban Hội thẩm hoàn thành Báo cáo và gửi tới tất cả các
thành viên WTO. Ban Hội thẩm kết luận các phán quyết cuối cùng khẳng định
về phá giá của DOC đối với tôm nước ấm đông lạnh của Ecuador cũng như lệnh
áp thuế chính thức sau phán quyết này đã vi phạm Điều 2.4.2 của Hiệp định
ADA.
Ban Hội thẩm khuyến nghị DSB yêu cầu Hoa Kỳ sửa đổi các biện pháp
của mình cho phù hợp với các nghĩa vụ của nước này theo Hiệp định ADA.
Tại cuộc họp của ngày 20/02/2007, DSB đã thông qua Báo cáo của Ban
Hội thẩm.
Ngày 26/03/2007, các bên thông báo với DSB rằng, theo Điều 21.3(b) của
DSU, họ đã đạt được thỏa thuận về khoảng thời gian hợp lý để Hoa Kỳ thực thi
các phán quyết và khuyến nghị của DSB là 6 tháng, hết hạn ngày 20/08/2007.
Tại cuộc họp ngày 31/08/2007, Hoa Kỳ thông báo họ đã hoành thành đầy
đủ các phán quyết và khuyến nghị của DSB.
17


đó là một loạt các văn bản pháp lý đã trình bày ở trên, tạo tiền đề cho việc giải
quyết các tranh chấp đã xảy ra, đang xảy ra và có khả năng xảy ra giữa các nước
thành viên trong khu vực. Về tổng quát có thể nói quá trình xây dựng, vận hành
và áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN luôn mang tính linh hoạt,
mềm dẻo trong từng bối cảnh cụ thể nhằm hướng tới đích cuối cùng là đảm bảo
hiệu quả các quan hệ hợp tác trong khối. Bên cạnh những thành tựu còn đạt
được, cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN vẫn chưa thật sự đạt được hiệu
quả như các quốc gia thành viên mong muốn, với một sự thật là hầu hết các cơ
chế giải quyết tranh chấp này mới chỉ dừng lại ở mặt văn bản pháp lý mà hầu hết
chưa được áp dụng trên thực tế. Chính vì vậy, trong tương lai, ASEAN cần phải
có những cố gắng hơn nữa để có thể xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp
của riêng mình, được tất cả các quốc gia thành viên tin tưởng lựa chọn, góp phần
xây dựng Cộng đồng ASEAN bền vững và phát triển.
19


Tóm lại, Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nhận được sự tin tưởng
hơn so với Co chế giải quyết của ASEAN nhờ những quy định chặt chẽ về trình
tự, thủ tục cũng như quy định về cơ quan giải quyết tranh chấp và kinh nghiệm
giải quyết tranh chấp của mình. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO không
những nhận được sự tín nhiệm của các nước thành viên trên thế giới mà còn
nhận được sự tin tưởng của các nước ASEAN mặc dù tổ chức này đã có một cơ
chế giải quyết tranh chấp hoàn thiện.

20


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.


8.
9.

truy cập ngày 14/3/2017
truy cập ngày 14/2/2017
truy cập ngày 15/3/2017

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status