VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HỒNG HẠNH
THƯƠNG MẠI HÓA SẢN PHẨM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đinh Công Tuấn
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành được luận văn này là cả một quá trình nỗ lực phấn đấu
không ngừng của học viên trong việc thu thập các tài liệu, xây dựng câu hỏi,
tiến hành khảo sát thực địa, xử lý số liệu và trình bày kết quả nghiên cứu cùng
với sự hướng dẫn khoa học tận tình của PGS.TS. Đinh Công Tuấn
Học viên khẳng định những kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Học viên xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn
Lê Thị Hồng Hạnh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN
KHCN
SHTT
TTCN
CN
R&D
TSTT
NCKH
CGCN
BIS
Khoa học và Công nghệ
Khoa học công nghệ
Sở hữu trí tuệ
Thị trường công nghệ
Công nghệ
Nghiên cứu và phát triển
Tài sản trí tuệ
Nghiên cứu khoa học
Chuyển giao công nghệ
Ủy ban về kinh doanh, sáng tạo và các kỹ năng
TLO
Văn phòng chuyển giao công nghệ
ĐHBKHN
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1. Sơ đồ khối hệ thống quản lý của Trường Đại học Bách Khoa Hà
Nội…………………………………………........................................................ 26
Hình 2.2. Mạng lưới hợp tác quốc tế của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội . 31
Hình 2.3. Một số dự án tài trợ thông qua HTQT của Trường.............................. 32
Bảng 2.1: Quy định phân bổ sau khi chuyển giao sản phẩm KH&CN ............... 41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt nam, hoạt động mại hóa công nghệ từ các trường đại học ra khu
vực doanh nghiệp hay nói cách khác mối liên kết giữa trường đại học với doanh
nghiệp trong thương mại hóa công nghệ vẫn còn yếu, chưa đồng bộ và tồn tại
nhiều hạn chế. Về phía trường đại học, nhu cầu và khả năng liên kết với doanh
nghiệp của các trường đại học chưa cao do thiếu động lực và thiếu cơ chế gắn
kết, sản phẩm KH&CN còn ít và kém chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu
thương mại hóa, năng lực và trang thiết bị còn hạn chế, thời gian nghiên cứu dài
trong khi nhu cầu doanh nghiệp cần sớm có công nghệ, thiếu tổ chức thúc đẩy
mối liên kết với với doanh nghiệp trong chuyển giao công nghệ.. Các doanh
nghiệp vẫn chưa quan tâm đúng mức đến cơ chế đầu tư tài chính cho việc nghiên
cứu khoa học và đổi mới công nghệ, thẩm định giá công nghệ… Bên cạnh đó,
nhận thức và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) còn yếu kém nên đã ảnh
hưởng không nhỏ đến thương mại hóa công nghệ giữa đại học - doanh nghiệp và
hoạt động sáng tạo tại các trường đại học.
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhiều trường đại học đã bắt đầu thiết lập các mối quan hệ mật thiết, chặt
chẽ với cộng đồng doanh nghiệp. Sự hợp tác này bước đầu cho thấy đã mang
lại lợi ích thiết thực cho cả 2 bên. Trong xu thế mới, sự hợp tác giữa 2 chủ thể
này không chỉ dừng lại ở dạng đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực mà nó dần
đươc chuyển hướng sang nghiên cứu phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Cùng với các viện nghiên cứu công lập, các trường đại học cũng là nơi tạo ra
rất nhiều sản phẩm KH&CN cung cấp cho thị trường. Gắn kết chặt chẽ với các
nhà trường, các doanh nghiệp luôn có cơ hội tìm kiếm công nghệ hay giải pháp
công nghệ hữu dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nghiên cứu thúc đẩy liên kết trường đại học với doanh nghiệp cũng là
2
chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm. Một số kết quả
nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như sau:
Bài nghiên cứu của Trần Anh Tài (tạp chí khoa học 2009 – ĐH quốc
gia) với chủ đề “Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp”
Bài nghiên cứu của Lê Tuấn Bách, Chu Mai Linh (Kỷ yếu Hội thảo
KH&CN 2014– ĐH ngoại thương ) với chủ đề “Hoạt động liên kết trường đại
học với doanh nghiệp: Bài học áp dụng cho Việt Nam”.
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (Tạp chí khoa học chính trị
2010) với chủ đề “Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với trường đại học và viện
nghiên cứu: một nghiên cứu tại Việt Nam”
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn (Kỷ yếu hội thảo 2013 – ĐH
Đà Lạt) với chủ đề “Mối quan hệ giữa trường đại học với doanh nghiệp”
Tuy nhiên, thực tế việc đào tạo và nghiên cứu ở các trường ĐH hiện
nay vẫn chưa thực sự gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, nguồn cung vẫn
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Các tài liệu trong và ngoài nước về thực tiễn, chính sách pháp luật trong
cơ chế quản lý, hỗ trợ phát triển hoạt động thương mại hóa sản phẩm khoa
học và công nghệ. Nghiên cứu tài liệu về thực tiễn, chính sách hỗ trợ, pháp
luật của nước ngoài; phân tích những nét tương đồng và khác biệt trong cơ
chế quản lý, hỗ trợ phát triển hoạt động thương mại hóa khoa học và công
nghệ trong nước và trên thế giới là một nguồn tài liệu thứ cấp quan trọng
trong phần này. Các văn bản pháp quy của Đảng, Chính phủ, các cơ quan
chính quyền cũng được xem xét để giúp tác giả hình dung được bức tranh
toàn cảnh về các giải pháp đã được thực thi, những vướng mắc trong quá trình
thực hiễn và hướng xử lý.
5.2.Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp: các số liệu về kết quả nghiên cứu KHCN qua các báo
4
cáo thực tế của các Trường.
Số liệu sơ cấp: thu thập thông tin qua điều tra trực tiếp tại một số
Trường đại học công nghệ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đánh giá hiện trạng thương mại hóa các sản phẩm KH&CN
tại Việt Nam nói chung và tại Đại học Bách Khoa Hà Nội nói riêng từ đó đưa
ra những iải pháp thúc đẩy liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp
Từ đó nâng cao nhận thức về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
cho các nhà khoa học của các trường/ viện nghiên cứu để từ đó có thể thúc đẩy
các nghiên cứu gắn liền với thực tế hơn. Thu hút sự quan tâm và đầu tư của các
doanh nghiệp đối với các nghiên cứu đến từ các trường Đại học/viện nghiên cứu.
Tăng cường liên kết trường đại học với doanh nghiệp trong thương mại hóa
sản phẩm sẽ góp phần thúc đẩy phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN,
Các tổ chức KH&CN khi hoạt động R&D là phải gắn liền giữa nghiên
cứu và triển khai để tìm cách đưa nhanh những ý tưởng có sáng tạo hay sản
phẩm ra thị trường nhanh nhất. Vì những ý tưởng sáng tạo hay sản phẩm khoa
học sẽ “mất giá” nếu không nhanh chóng đưa nó ra thị trường.
Một trong những yếu tố quyết định sự thành công cho R&D là tính khả
thi bởi các công nghệ được lựa chọn phải có khả năng thương mại hóa cao và
có nhà đầu tư tiềm năng. Bên cạnh yếu tố thị trường, cần chú trọng đến những
nghiên cứu dài hạn với những kết quả có tác động mạnh đến sự phát triển của
cả một lĩnh vực công nghệ.[10, Tr 73]
Bởi vậy, ngay sau khi có kết quả và hiệu quả của các đề tài, dự án từ
nhiệm vụ KH&CN được nghiệm thu, đánh giá có khả thi. Các tổ chức
6
KH&CN phải tăng cường hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D) và ứng
dụng kết quả đó vào sản xuất, và kinh doanh thay vì nghiên cứu phát minh,
hay nói cách khác là chuyển hoạt động R&D từ khu vực hàn lâm sang khu
vực có ứng dụng trực tiếp vào sản xuất – kinh doanh. Vì, hoạt động nghiên
cứu triển khai ứng dụng công nghệ ít tốn kém đầu tư, ít rủi ro hơn so với
nghiên cứu cơ bản.
Các kết quả của R&D cần được xác định cụ thể về dạng sản phẩm, số
lượng, chủng loại và chỉ tiêu kỹ thuật của từng loại. So sánh sản phẩm nghiên
cứu tạo ra với các sản phẩm tương tự trong nước và trên thế giới. Mô tả chi
tiết, đầy đủ cách thức ứng dụng kết quả, sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn,
đảm bảo tỷ lệ kết quả nghiên cứu được thương mại hoá cao. Do đó, để các kết
quả của R&D đều có khả năng được thương mại hóa thì khi thực hiện các
nhiệm vụ KH&CN, các tổ chức KH&CN nên áp dụng mô hình “nghiên cứu
toàn phần (full – research)”. Theo đó, các kết quả của R&D không dừng lại ở
kết quả nghiên cứu mà còn tính tới hiệu quả nghiên cứu và cả việc thương
pháp luật về SHTT nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng
dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo KH&CN. Cùng với đó
là các giải pháp mang tính định hướng được đưa ra: Xây dựng, ban hành cơ
chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các sản phẩm KH&CN
trong nước và nước ngoài được trao đổi, mua bán trên thị trường; Xây dựng
cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ hiện đại,
trước hết đối với những ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn để nhanh chóng
ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng
cao; Nhà nước đầu tư xây dựng một số trung tâm dịch vụ KH&CN, CGCN
làm nòng cốt cho hệ thống tổ chức dịch vụ môi giới, chuyển giao, tư vấn,
đánh giá, định giá, thẩm định, giám định công nghệ; Đẩy mạnh thực thi pháp
luật về SHTT, xây dựng Chương trình quốc gia về SHTT; Nghiên cứu bổ
sung các định chế liên quan đến SHTT và xây dựng hệ thống các tòa án hành
8
chính và dân sự về SHTT. Tất cả những điều này đều nhằm thúc đẩy hoạt
động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường công nghệ ở
Việt Nam hiện nay. Điều này thể hiện quan điểm của Nhà nước, Chính phủ về
vai trò quan trọng của hoạt động thương mại hóa kết quả R&D đối với sự phát
triển của nền kinh tế Việt Nam.
1.1.2. Bản chất thương mại hóa sản phẩm KH&CN trong trường đại học
Trong môi trường trường đại học, hoạt động nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ là động lực thúc đẩy việc thương mại hóa các sản phẩm
nghiên cứu và phát triển. Để thực hiện hoạt động thương mại hóa thành công,
người ta thường thấy hoạt động này diễn ra theo 3 cách tiếp cận chiến lược:
một là bán quyền sử dụng phát minh/sáng chế; hai là thực hiện các hợp đồng
nghiên cứu khoa học theo đặt hàng và bà là thành lập các công ty trong trường
đại học. Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học và phát triển hoàn thiện
thể do nền khoa học công nghệ ở các nước đang phát triển, vai trò của các tổ
chức KH&CN chủ yếu tập trung đào tạo nguồn nhân lực, phổ cập kiến thức.
Tuy nhiên, với những thành tích phát triển ấn tượng và tốc độ phát triển cao,
đặc biệt là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các hoạt động nghiên cứu
phát triển ở các trường đại học của các nước đang phát triển có xu hướng tăng
mạnh và hoạt động thương mại hóa đã bước đầu được hình thành. Nhìn từ
tổng thể, các tổ chức KH&CN tham gia trực tiếp vào đổi mới sáng tạo bao
gồm: viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và tư
nhân. Ở các nước phát triển, tỷ trọng nghiên cứu của các doanh nghiệp, tập
đoàn, các công ty đa quốc gia chiếm một phần quan trọng. Tuy nhiên, ở Việt
Nam nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ vẫn chủ yếu tập trung vào
khối trường đại học, viện nghiên cứu với tỷ trọng lớn hơn so với các khu vực
khác. Hoạt động đổi mới sáng tạo ở Việt Nam không còn chỉ dành cho các
trường đại học, viện nghiên cứu mà các doanh nghiệp đã chủ động tiến hành
những nghiên cứu triển khai. Tuy nhiên sự tham gia này xét trên bình diện
10
tổng thể còn quá nhỏ bé và chưa hiệu quả. Các trường đại học, đặc biệt là các
đại học nghiên cứu, mới chỉ tập trung vào sáng tạo nhỏ, ứng dụng giản đơn,
cải tiến công nghệ có sẵn chưa đủ nguồn lực để triển khai những chương trình
manh tính chất nghiên cứu thực sự.
1.2. Điều kiện và quy trình để thương mại hóa sản phẩm khoa học và
công nghệ
1.2.1. Điều kiện để thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ
Khi đề cập đến vấn đề thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tồn tại ít
nhất ba khía cạnh cốt lõi chúng ta cần quan tâm, đó là: Thương mại hóa cái
gì? Thương mại hóa cho ai? Và Thương mại hóa như thế nào/bằng cách nào?
Trả lời cho ba câu hỏi trên chính là những yếu tố cơ bản để có thể
đề then chốt đầu tiên để đảm bảo cho bài toán thương mại hóa thành công.
1.2.2.Quy trình thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ
a. Nghiên cứu
Những thử nghiệm và sáng tạo trong suốt quá trình nghiên cứu thường
đem tới các phát minh hay sáng chế hữu ích cho cuộc sống. Sáng chế có thể là
một quy trình, cấu tạo máy móc, hợp chất hoặc một giải pháp kỹ thuật hữu
dụng nào khác. Ngày nay, để có những công nghệ mới phải nỗ lực sáng tạo và
sự đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát triển, đồng thời cần có sự tham gia của
nhiều nghiên cứu viên.
b. Nhờ chuyên gia tư vấn
Để tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm thiểu tối đa các sai sót, cũng như
tổn thất có thể xảy ra, bạn nên được tư vấn bởi các chuyên gia trong lĩnh vực
này. Bạn có thể liên hệ với một tổ chức/trung tâm hỗ trợ phát triển sáng chế
hoặc một nhà tư vấn chuyên nghiệp để có được những thông tin, tư vấn chính
xác về việc bộc lộ, định giá cũng như kế hoạch bảo vệ và phát triển sáng chế
hay công nghệ mới của mình.
12
Bước đầu tiên là bạn và nhà tư vấn cần có một thoả thuận giữ bí mật
được thể hiện rõ bằng văn bản và có đầy đủ giá trị pháp lý. Sau đó, bạn sẽ trả
lời và mô tả về sáng chế của mình qua một bảng các câu hỏi cụ thể. Bảng câu
hỏi cũng như phần trả lời này phải được giữ bí mật, tuyệt đối không bộc lộ
hay công bố với bên thứ ba.
c. Định giá giá trị của công nghệ mới
Trong giai đoạn này, công nghệ mới của bạn sẽ được định giá bằng
nhiều biện pháp như tìm kiếm thông tin liên quan, phân tích nhu cầu của thị
trường và các công nghệ tương tự của đối thủ cạnh tranh. Qua đó, tiềm năng
thương mại hoá của công nghệ mới sẽ được đánh giá cụ thể và tương đối
cẩn trọng. Bán toàn bộ quyền sở hữu cho phép bạn thu ngay một số tiền lớn
tại thời điểm ký kết hợp đồng và không phát sinh thêm chi phí hay lợi nhuận
nào khác trong tương lai. Bạn cũng không phải chịu rủi ro khi có các công
nghệ mới tốt hơn giải pháp kỹ thuật của bạn.
Bước tiếp theo là thành lập một công ty mới. Nếu như bạn thấy được
tiềm năng lớn của công nghệ và thấy mình có khả năng tự kinh doanh công
nghệ mới được phát triển của mình, bạn có thể thành lập một công ty mới và
tự kinh doanh các sản phẩm dựa trên công nghệ đó.
g. Thương mại hoá.
Bên được chuyển nhượng hoặc công ty của bạn sẽ tận dụng và khai
thác những ưu thế của công nghệ mới và tiếp tục đầu tư để phát triển đưa sản
phẩm, dịch vụ ra thị trường. Bước này có thể gồm thêm các công đoạn như
phát triển và cải tiến bổ sung, xin cấp phép của cơ quan quản lý, quảng cáo,
bán hàng, hậu mãi và nhiều các hoạt động khác nữa.
h. Thu, phân bổ và tái đầu tư lợi nhuận
Lợi nhuận thu được sẽ được phân bổ theo tỷ lệ đã được thoả thuận từ
trước cho nhà nghiên cứu, chủ sở hữu công nghệ, công ty sản xuất, phân phối.
14
Một phần của lợi nhuận thu được có thể tiếp tục được đầu tư cải tiến công
nghệ cũng như phát triển các giải pháp công nghệ mới trong tương lai.
1.3. Kinh nghiệm thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm KH&CN trong
một số trường đại học
1.3.1. Bài học thương mại hóa nghiên cứu của Đại học Stanford
Oxford và Stanford đều nằm trong thung lũng, tuy nhiên thung lũng
Silicon của Stanford nổi tiếng và giàu có hơn nhiều.Đổi lại Oxford có một
khu vực trường tuyệt đẹp với các ngọn tháp cổ đầy thơ mộng, các tòa nhà với
hàng trăm năm lịch sử.Oxford tiền ít hơn, nhưng mọi người thân thiện, vui vẻ,
trong các hoạt động tư bản hóa và thương mại hóa khoa học công nghệ.
Mô hình này cực kỳ thành công.Chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa
học và các hoạt động hàn lâm không hề bị suy giảm mà còn tốt hơn, và một
lượng của cải vật chất được tạo ra từ mô hình này.Các giảng viên của
Stanford có thêm danh hiệu ‘triệu phú’, ‘tỷ phú’ gắn kèm danh hiệu hàn lâm
như giáo sư, tiến sĩ.
Sau đó những vị giáo sư thành công lại đem tặng lại một phần tài sản
của bản thân cho Đại học Stanford để tạo ra cái mới điều tốt đẹp. Ví dụ như
giáo sư James H Clark, sáng lập viên của Netscape tặng 60 triệu USD xây
Trung tâm nghiên cứu sinh y hiện đại Bio-X. Nếu tới thăm khu vực trường
của Stanford, mọi người sẽ dễ dàng nhận thấy các tòa nhà lớn, bộ môn giảng
dạy, phòng thí nghiệm hiện đại đều mang tên các đại gia công nghệ đương đại
của Mỹ như Bill Gates, David Packard (HP), Bill Hewlett (HP), Gordon
Moore (Intel).
Phong trào nghiên cứu khoa học và thương mại hóa công nghệ trong
sinh viên, nghiên cứu sinh của Stanford cũng diễn ra rất mạnh mẽ.Đây cũng là
văn hóa lâu đời và đặc trưng của Stanford.Nó được hình thành có lẽ từ câu
chuyện thành công của Sun Microsystems, Yahoo, Google tại Đại học này.
16
Bên cạnh đó, chính sách tốt trong quản lý; hay các thị trấn xung quanh
Stanford như Menlo Park, Palo Alto đều có cư xá, biệt thự tuyệt đẹp của các
siêu đại gia công nghệ là những yếu tốt hàng ngày tác động vào các sinh viên,
nghiên cứu viên của trường.
Nhiều sự kiện hay hội thảo khoa học được tổ chức với sự tham gia
của đông đảo mọi thành phần từ các vị giải Nobel như Paul Berg, Steven Chu
tới các sinh viên năm đầu, và ngay cả các chuyên ngành khác nhau như hóa
học, vật lý, điện tử, y khoa cùng tham gia. Mọi người tụ tập với nhau để cùng
việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
1.3.2.Trường Đại học Quốc Gia Singapore
Singapore là một quốc gia phát triển kinh tế dựa vào sự sáng tạo. Dù chỉ
là một đảo quốc nhỏ bé với số dân ít ỏi, không có nhiều tài nguyên thiên
nhiên nhưng Singapore đã trở thành một quốc gia đứng đầu ASEAN về phát
triển kinh tế và nằm trong tốp các quốc gia đứng đầu thế giới về sự đổi mới
sáng tạo. Trường Công nghệ Nanyang là một trường được nhận nhiều kinh
phí đầu tư cho nghiên cứu từ Ngân sách quốc gia và cũng là trường đại học có
nhiều sáng chế nhất trong số các trường đại học ở đảo quốc này và là trường
có chính sách quản lý TMH sáng chế tốt nhất Singapore.
Trường đã có Quy định về SHTT, CGCN và Hợp tác nghiên cứu vào tháng
2 năm 2005. Quy định này ghi rõ nhiệm vụ của Trường là tiến hành nghiên cứu
nhằm thu được kiến thức có lợi cho xã hội, làm giàu tri thức của cán bộ và sinh
viên. Mục đích chính của Trường là tạo điều kiện thuận lợi cho việc CGCN từ
trường đại học cho doanh nghiệp, áp dụng công nghệ vào cuộc sống.
Trong lời nói đầu của Quy định cũng ghi rõ là Nhà trường phụ thuộc vào
hỗ trợ tài chính chủ yếu từ Chính phủ và các tổ chức khác trong hoạt động
nghiên cứu. Dựa vào sự hỗ trợ ngày, Nhà trường cố gắng đảm bảo rằng mọi
kết quả nghiên cứu dẫn đến quyền SHTT sẽ được quản trị phục vụ nhu cầu
chung của xã hội.
18
Để thực hiện mục tiêu trên, Nhà trường lập ra Trung tâm Đổi mới và
CGCN nhằm quản lý Quy chế về SHTT và đánh giá, định giá, TMH TSTT
của Trường. Trung tâm này cũng quản lý Qũy Đổi mới nhằm phục vụ cho
việc đăng ký sáng chế và các hoạt động có liên quan đến việc bảo hộ và TMH
TSTT của Nhà trường.
Quy định về SHTT cũng lập ra Uỷ ban Quản lý TSTT nhằm quản lý và xử
Trong trường hợp có thể TMH sáng chế, Trung tâm sẽ là đầu mối soạn
thảo, đàm phán và tìm đối tác để li-xăng sáng chế và tác giả sáng chế phải hỗ trợ
và hợp tác với Trung tâm trong việc cung cấp thông tin và mọi hỗ trợ cần thiết
khác phục vụ việc khai thác, ứng dụng sáng chế cũng như TMH sáng chế.
Trong trường hợp sáng chế được TMH, tỷ lệ lợi nhuận được chia như sau:
50% cho trường đại học,
50% cho tác giả sáng chế.
Sau đó Trường lại chia tiếp lợi ích thu được về phía trường theo tỷ lệ sau:
50% cho đơn vị tác giả sáng chế làm việc,
50% cho Qũy Đổi mới.
Trong trường hợp sau 3 tháng kể từ ngày nhận tiết lộ công nghệ mà
Trung tâm không thông báo hoặc 3 năm kể từ ngày nhận form tiết lộ mà
Trung tâm không TMH được sáng chế thì tác giả sáng chế, bằng văn bản có
quyền yêu cầu chuyển quyền khai thác, TMH sáng chế cho tác giả sáng chế.
Tác giả sáng chế phải trình Nhà trường báo cáo thường niên về việc khai
thác sáng chế. Nhà trường có quyền yêu cầu tác giả sáng chế trả lại quyền
TMH sáng chế cho Trường nếu tác giả sáng chế thất bại trong việc TMH sáng
chế 3 năm sau khi nhận quyền TMH sáng chế từ Trường.
1.3.3. Một số trường đại học tại Việt Nam
Trong vài năm trở lại đây, các trường đại học, viện nghiên cứu đã ý thức
được hiệu quả của việc bắt tay với doanh nghiệp trong việc tăng cường nghiên
20