ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LƢƠNG TUẤN VŨ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄ
IBA (INDOL-BUTILIC AXIT) ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH HOM
CÂY TÙNG LA HÁN (PODOCARPUS MACROPHYLLUS)
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành:
Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2012 - 2016
Thái Nguyên - 2016
: 2012 - 2016
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Lê Sỹ Hồng
Thái Nguyên - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu kết
quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực. Khóa luận đã được giáo
viên hướng dẫn xem và sửa.
Thái Nguyên,ngày
Giảng viên hƣớng dẫn
TS.Lê Sỹ Hồng
tháng
năm 2016
Sinh viên
Lƣơng Tuấn Vũ
Giảng viên phản biện
(Kí và ghi rõ họ tên)
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thời gian và tỷ lệ ra rễ của hom Phi lao......................................... 10
Bảng 2.2: Thí nghiệm với Bạch đàn trắng tại Đông Nam bộ cho kết quả ...... 10
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Tùng La Hán ở các công thức thí
nghiệm ở định kỳ theo dõi khi dùng thuố c kích thích sinh
trưởng IBA ...................................................................................... 28
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng la hán ở các công thức
thí nghiệm khi dùng thuố c kích thích sinh trưởng IBA .................. 30
Bảng 4.3. Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của hom cây Tùng la
hán ở cuối đợt thí nghiệm ................................................................ 35
Bảng 4.4. Bảng phân tích phương sai một nhân tố về chỉ số ra rễ của
hom cây Tùng la hán ....................................................................... 37
Bảng 4.5: Bảng sai dị từng cặp | xi - xj | cho chỉ số ra rễ của hom cây
Tùng La Hán khi dùng thuố c kić h thić h sinh trưởng IBA .............. 37
Bảng 4.6: Tỷ lệ ra chồi cua cây hom Tùng la hán ở các công thức thí
nghiệm khi dùng thuố c kić h thić h sinh trưởng IBA........................ 38
Bảng 4.7: Bảng tổng hợp kết hợp kết quả về chỉ số ra chồi của cây hom
cây Tùng La Hán ............................................................................. 43
Bảng 4.8. Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra chồi của cây
Tùng La Hán hán ở cuối đợt thí nghiệm ANOVA ......................... 45
Bảng 4.9: Bảng sai dị từng cặp | xi - xj | cho chỉ số ra chồi của hom
cây Tùng La Hán khi dùng thuố c kić h thić h sinh trưởng IBA........ 45
iv
Công thức
TB:
Trung bình
IBA:
Indol-butilic Axit
NST:
Nhiễm sắc thể
Đ/C:
Đối chứng
vi
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. v
MỤC LỤC ........................................................................................................ vi
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ .................................... 28
4.1. Kết quả về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA ở một số nồng
độ đến tỉ lệ hom sống của cây Tùng La Hán ........................................... 28
4.2. Kết quả về các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Tùng La Hán ở các công
thức thí nghiệm........................................................................................ 29
4.2.1. Kết quả về tỉ lệ ra rễ trung bình của hom cây cây Tùng la hán ở
các công thức thí nghiệm ........................................................................ 30
4.2.2. Kết quả về số rễ trung bình/hom của hom cây Tùng la hán ................ 31
4.2.3. Kết quả về chiều dài rễ trung bình/hom của hom cây Tùng la hán ...... 32
4.2.4. Kết quả về chỉ số ra rễ trung bình/hom của hom cây Tùng la hán ...... 33
4.3. Kết quả về tỷ lệ ra chồi của hom cây Tùng la hán ................................... 38
4.3.2 Kết quả về số chồi trung bình/hom của hom cây Tùng La Hán ............ 40
4.3.3. Kết quả về chiều dài chồi trung bình/hom của hom cây Tùng la
hán ........................................................................................................... 41
4.3.4. Kết quả về chỉ số ra chồi trung bình/hom của hom cây Tùng la hán ... 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ .......................................................... 47
5.1. Kết luận .................................................................................................... 47
5.2 Tồn tại ....................................................................................................... 48
5.3 Kiến nghị ................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây xanh không thể tách rời trong hoạt động sống của con người ở bất
kì đâu dù nông thôn hay thành thị. Cây xanh gắn liền với sự tồn tại phát triển
của của bất kì một quốc gia, dân tộc nào. Nó cung cấp cho con người những
hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình như cách chăm sóc,…ngoài
ra, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: điều kiện ngoại cảnh, nhân
tố nội tại, chất kích thích, giá thể,… Nhưng việc sử dụng loại thuốc nào, nồng
độ bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần được
nghiên cứu. Xuất phát từ vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của chất kích thích ra rễ IBA (Indol-Butilic Axit) đến sự hình thành
cây hom Tùng la hán (Podocarpus Macrophyllus.) tại trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IBA đến khả
năng hình thành hom cây Tùng la hán góp phần tạo cây giống phục vụ cho
trồng cây làm đẹp cảnh quan, cải thiện môi trường sống.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra được nồng độ thuốc IBA phù hợp nhất cho khả năng ra rễ, chồi
của hom cây Tùng la hán.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập, nghiên cứu khoa học.
+ Giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào
thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn.
+ Kết quả của đề tài nghiên cứu làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
trong nghiên cứu, nhân giống loài cây Tùng la hán.
3
+ Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi
những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực
hiện tốt công tác sau này.
- Trong thực tế
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân
+ Rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng
chỉ phát triển khi đoạn thân, đoạn cành tách khỏi thân cây.
5
+ Rễ mới sinh là loại rễ chỉ hình thành khi được cắt hom, nó là hậu quả
của phản ứng với vết cắt. Nghĩa là khi cắt hom thì các tế bào sống tại vết cắt
bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được hở ra và gián
đoạn các chất dinh dưỡng được tổng hợp từ ngọn lá đi xuống tới chỗ vết cắt.
Quá trình nguyên phân xảy ra theo 3 bước tạo thành các mô sẹo, là cơ sở của
sự hình thành 1 lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thương được đậy lại bằng
lớp keo bảo vệ, lớp keo bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát hơi nước. Các tế
bào sống ở ngay dưới lớp tế bào bảo vệ, lớp tế bào bảo vệ đó bắt đầu phân
chia sau khi vết cắt được vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm
(Callus).
Các tế bào lân cận của vùng tượng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình
thành rễ bất định. Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới
là quan trọng nhất, sau đó là số lượng rễ/hom và chiều dài rễ.
2.1.2. Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom,
về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm là: Các nhân tố nội sinh và nhóm các
nhân tố ngoại sinh [10].
2.1.2.1. Các nhân tố nội sinh
+ Đặc điểm di truyền loài
Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải các loài cây đều có khả năng ra
rễ như nhau. Do đặc điểm di truyền, biến dị, các xuất xứ và các giá thể khác
nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau.
+ Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể:
Trong một loài, các xuất xứ khác nhau có tỉ lệ ra rễ khác nhau.
60
3
70
60
4
100
70
5
100
80
Từ số liệu trên cho thấy: Không những loài cây khác nhau mà
trong cùng một loài các xuất xứ, dòng và các cá thể khác nhau cũng có tỷ lệ ra
rễ khác nhau (6).
+Tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom
Tuổi cây mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom, nhất là đối
với các loài khó ra rễ. Nhìn chung, tuổi cây mẹ càng già thì tỷ lệ ra rễ của
hom càng giảm.
Cây Mỡ (Manglietia conifera) 1 tuổi có tỷ lệ ra rễ 98%, Mỡ 3 tuổi 47%,
Mỡ 20 tuổi không ra rễ. (Lê Đình Khả Phạm Văn Tuấn (1996).(3)
Cây Sao đen (Hopea Odorata) 1 tuổi 70% ra rễ, 2 tuổi 50% ra rễ.
Thường hom chồi ở phần gần gốc của một cây dễ ra rễ hơn ở
phần ngọn. Theo Hartney (1980) có thể do 2 lý do:
- Gốc của cây con là nơi tích tụ các chất cần cho ra rễ.
- Tồn tại 1 sự chênh lệch về các chất kích thích và ức chế sự ra rễ ở các
phần khác nhau của cây.
8
- Theo thuyết phát triển giai đoạn thì gốc là phần non nhất của một cây
vì vậy lấy hom ở phần này cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
+ Sự tồn tại của lá trên hom
Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình ra rễ của
hom. Lá là cơ quan hấp thu ánh sáng trong quang hợp để tạo ra chất hữu cơ
cần thiết cho cây dữ trữ chất dinh dưỡng, đồng thời là cơ quan thoát hơi nước
và hút nước để khuếch tán tác dụng chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của
hom. Vì vậy, nhất thiết giâm hom phải để lại một số lá, nhưng nếu để lại diện
tích lá quá lớn sẽ hạn chế số lượng hom trên 1 đơn vị diện tích mà quan trọng
là làm cho quá trình thoát hơn nước diễn ra mạnh làm cho hom bị héo và chết
trước khi ra rễ hoặc diện tích quá nhỏ làm cho hom không ra rễ. Do vậy việc
tìm ra diện tích lá vừa đủ là việc làm cần thiết.
+ Ảnh hƣởng của kích thƣớc hom
Tuổi chồi gốc và tuổi lấy chồi cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của
hom giâm.
Các thực nghiệm với Bạch đàn, các loài Keo tai tượng và Keo lá tràm
của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cũng cho thấy: sau khi chặt gốc 2
tháng rồi lấy hom đem giâm cho tỷ lệ cao nhất.
Như vậy, tuổi gốc cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom. Với loại
Bạch đàn, Keo ở Việt nam thường chặt cây lấy hom ở dưới tuổi 10, Thông
(P.caribe) có thể chặt cây lấy chồi ở dưới tuổi 12.
hom, một số loài cây có thể giâm hom quanh năm, song ở nhiều loài
cây có tính thời vụ rõ rệt.
Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với thời tiết,
khí hậu, mùa sinh trưởng của cây, trạng thái sinh lý của cành. Thời vụ
giâm hom có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành bại của nhân giống
bằng hom.
Đối với loài cây rụng lá, gỗ cứng thường lấy cành giâm lúc cây bắt đầu
bước vào thời kỳ ngủ nghỉ, còn với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá
thì thời kỳ lấy hom là mùa sinh trưởng.
10
- Những thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thấy
rằng: Keo lá tràm và Keo tai tượng 1 năm tuổi giâm trong tháng 7có tỷ lệ ra rễ
cao > 90%.
Với Phi lao (C.equi seaifolia) tỷ lệ ra rễ ở các tháng như sau [1].
Bảng 2.1: Thời gian và tỷ lệ ra rễ của hom Phi lao
Thời gian ra rễ
Thời gian
(ngày)
Tỷ lệ ra rễ
Tháng 11/1991
35
Tháng 11/1991
49,5
Tháng 01/1992
26,0
Tháng 5/1992
67,0
Tháng 7/1997
76,7
Tháng 12/1991
13,7
Tháng 02/1992
27,9
Tháng 6/1992
72,7
Tháng 8/1992
cao và cường độ ánh sáng lớn thì hom yêu cầu độ ẩm cao hơn. Lúc hom
chuẩn bị ra rễ yêu cầu độ ẩm cao hơn sau khi đã ra rễ. Vì vậy khi gặp thời
nắng nóng cần phải tăng cường cung cấp nước cho cây nhiều hơn, hom chưa
ra rễ cần cung cấp ẩm nhiều nhiều hơn lúc hom đã ra rễ. Cây lá rộng yêu cầu
độ ẩm lớn hơn cây lá kim, hom có diện tích lá lớn yêu cầu độ ẩm cao hơn
hom có diện tích lá nhỏ. Tốt nhất duy trì độ ẩm không khí bằng cách tạo 1 lớp
sương mù trong nhà kính hoặc nhà giâm hom, phun mù vừa làm tăng độ ẩm
vừa làm giảm nhiệt độ không khí, giảm tốc độ thoát hơi nước của lá. Trong
mùa lạnh thời gian phun và thời gian ngắt quảng cũng ngắn. Nếu độ ẩm giá
thể quá thấp làm cho hom khô, héo lá trước khi ra rễ, song độ ẩm giá thể quá
cao sẽ làm cho phần hom cắm trong giá thể sẽ bị thối rữa nhất là đối với các
hom còn non. Vì vậy để duy trì độ ẩm giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần
chọn vật liệu làm giá thể có độ ẩm thông thoáng tốt, thoát nước song vẫn giữ
được độ ẩm cần thiết cho hom ra rễ.
12
+ Ánh sáng là nhân tố cần thiết cho quang hợp: Vì vậy cùng với nhiệt
độ và độ ẩm, áng sáng là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình giâm
hom, áng sáng tán xạ cần thiết cho hom. ánh sáng thích hợp khoảng 40-50
ánh sáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ, thời gian ra rễ ngắn hơn và tỷ lệ ra rễ
cũng cao hơn. Tuy nhiên, các loài khác nhau yêu cầu ánh sáng khác nhau.
Cây ưa sáng yêu cầu ánh sáng nhiều hơn cây chịu bóng. Trong bóng tối, hom
của các loài cây ưa sáng hoàn toàn không ra rễ. Yêu cầu ánh sáng còn phụ
thuộc vào mức độ hóa gỗ và chất dữ trữ trong hom, hom hóa gỗ yếu chất
dữ trữ ít, cường độ ánh sáng tán xạ cao hơn so với hom hóa gỗ hoàn toàn. ánh
sáng là yếu tố cần thiết cho hom ra rễ, điều đó lý giải tại sao các nhà kính
được sử dụng giâm hom hoặc các nhà giâm hom tạm thời thường được lợp
bằng màng polyety len trắng trong suốt mà không dùng vật liệu khác.
- Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%
- Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%
- Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5% [2].
Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể
khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau.
* Ảnh hƣởng của chất kích thích ra rễ
+ Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành rễ của hom giâm. Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các
Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp.
- Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA).
- Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol
propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ
yếu hiện nay là thích ứng với 1 loại chất kích thích, nồng độ chất kích thích,
thời gian xử lý thuốc và phương pháp xử lý hom cũng khác nhau.
+ Loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự
ra rễ của hom. Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lý bằng IAA, IBB, NAA nồng độ 50
ppm trong 3 giờ có tỷ lệ tương ứng là: 74,1%; 93,8%; 53,3%.
14
- Cùng 1 loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng khác nhau
đến tỷ lệ ra rễ của hom, nồng độ xử lý quá thấp không có tác dụng phân hóa tế
bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao làm cho hom thối rữa trước khi ra rễ.
Hom Bạch đàn trắng (E.Cameldunensis) 4 tháng tuổi xử lý bằng IAA nồng độ
25 ppm; 50 ppm; 75 ppm; 100 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là
64,5%; 71,4%; 77,4% và 45,1%. Như vậy khi nồng độ tăng tỷ lệ ra rễ tăng,
nhưng khi nồng độ tăng quá cao (100 ppm) tỷ lệ ra rễ lại giảm xuống. Hom
cây Mỡ 1 năm tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm tỷ lệ ra rễ giảm xuống
còn 50%.
hành ở các nước Đông Nam Á.
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada đã có những
nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệ thống
phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn
ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loài cây họ Dầu,
với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom, đủ trồng
455 đến 500 ha rừng. [13].
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ
những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu
Lâm nghiệp Malaysia, ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian,Trung tâm
nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị
về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu. Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của các cây họ
Dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như: các biện
pháp vệ sinh tốt hơn, che bóng hiệu quả hơn, phun xương mù, kỹ thuật trẻ hóa
cây mẹ,... thì tỷ lệ ra rễ được cải thiện (ví dụ: Hopea odorata có tỷ lệ ra rễ là
86%, Shorea Leprosula 71%, Shorea Parvifolia 70%...).[13].
Ở Indonesia, các nghiên cứu giâm hom cây họ Dầu được tiến hành tại
trạm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giống
mới “Tắm bong bóng” [11], sử dụng phương pháp này thu được tỷ lệ ra rễ 90100% với các loài Shorea Leprosula...
16
2.3. Những nghiên cứu tại Việt Nam
Đi đôi với việc áp dụng những thành tựu trong nghiên cứu nhân giống
cây rừng bằng phương pháp giâm hom, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã
tự mày mò tìm ra những quy trình phương pháp riêng cho việc giâm hom một
số loài cây rừng, trong đó có một số loài cây đặc hữu của Việt Nam.
Lần đầu tiên vào năm 1976 những thực nghiệm nhân giống bằng hom
đối với một số loài như: Thông, Bạch Đàn…được tiến hành tại trung tâm