Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới thời kỳ kiến thiết cơ bản tại đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––

HOÀNG MINH KHẢI

Tên đề tài:
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống chè mới
thời kỳ kiến thiết cơ bản tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Liên Thông Chính Quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Lớp : K9 – Liên thông trồng trọt
Khoá học : 2013 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS. Dương Trung Dũng
Khoa Nông Học, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
FAO : Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc
NXB : Nhà xuất bản
NN & PTNT : Nông nhiệp và phát triển nông thôn
TCN : Trước công nguyên
Vietgap : Thực hành nông nghiệp tốt ở Việt Nam
ĐHNL : Đại học Nông Lâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
Phần 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.1.1. Cơ sở khoa học 3
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 3
1.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 4
1.2.1. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 4
1.2.2. Tình hình nghiên cứu chè trong nước 8
1.3.Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới 12
1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam 15
2.4.3 Định hướng phát triển ngành chè 19
2.5. Nhận định tổng quát về tình hình sản xuất, nghiên cứu chè và điều kiện
ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng cây chè 20
Phần 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Vật liệu nghiên cứu 21
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22
2.3. Nội dung nghiên cứu 22

Bảng 3.2 Chiều cao cây 28
Bảng 3.3 Đường kính gốc 29
Bảng 3.4 Chiều rộng tán 30
Bảng 3.5 Độ cao phân cành 30
Bảng 3.6 Diễn biến mật độ bọ cánh tơ trên các giống chè nghiên cứu 31
Bảng 3.7 Diễn biến mật độ nhện đỏ 32

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chè (Camellia Sinensis (L) O. Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm. Cùng với sự phát triển của các ngành
sản xuất khác, ngành chè thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc
gia sản xuất chè, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi. Sản
phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều
công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát
triển. Sản xuất chè giữ vài trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất Nông nghiệp,
sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Sản xuất chè cho thu nhập
chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng
Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Do vậy, Việt Nam có chủ trương phát
triển chè trên cả hai hướng: Ổn định diện tích, thay thế giống chè cũ bằng các
giống chè chọn lọc, trồng các nương chè theo kỹ thuật thâm canh, gắn với
công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè chất lượng cao, an
toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường tiêu thụ.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Giống được coi là tiền
đề của sản xuất, là tư liệu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Đối
với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong thâm canh
3
Phần 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học
Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm
(Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài
(Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O. Kuntze, được phân làm 4
thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919). Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ
(Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis
var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var. Assamica) và chè
Shan (Camellia Sinensis var. Shan). Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân,
cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có
yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau.
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất
khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên
Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản. Chè
được trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833,
Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương)
năm 1940.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm
đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ
đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa
khi kết quả có từ 1 - 4 hạt. Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ
của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa,
đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn
về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây chè

Quốc đã có trên 1000 giống, trong đó xác định được 50 giống chè tốt phục vụ
cho sản xuất.
Srilanka qua nhiều năm chọn lọc cá thể kết hợp chọn dòng có sản
lượng cao với tính chịu hạn, khả năng chống chịu sâu bệnh. Kết quả tạo ra
nhiều dòng TRI777, TRI2043, TRI2025 phù hợp với vùng núi cao, trung du
và vùng núi thấp. Gần đây thêm dòng CT9 cho năng suất cao, chất lượng tốt,
khả năng ra rễ mạnh.[13]
Nhật Bản: Công tác chọn tạo dòng rất được chú ý. Các giống chè ở đây
chủ yếu là giống chè trung du lá nhỏ. Hiên nay Viêt Nam nhập hai giống từ
Nhật Bản là: Giống yabukyta và giống yakatamidori. Đây là giống có khả
năng chế biến chè xanh chất lượng tốt.[13]
Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ và cs (2000) [15]: Tại Kennya, các giống chè
chọn lọc, giâm cành cho năng suất cao hơn giống chè đại trà tới 20%, diện
tích chiếm 67% ở khu vực tiểu nông và chiếm tới 33% diện tích chè ở các đồn
điền lớn. Ngoài ra, Kenya còn nhân giống bằng hình thức ghép.
1.2.1.2. Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của
cây chè
* Những nghiên cứu về chu kỳ phát triển cá thể cây chè của các nhà
khoa học cho thấy: Chè có 2 chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu
kỳ phát triển nhỏ.
Chu kỳ phát triển lớn hay chu kỳ phát dục cá thể thì chia thành 5 giai
đoạn ( Theo tác giả Trung Quốc):

6
- Giai đoạn phôi thai ( giai đoạn hạt giống): Được tính từ khi tế bào
trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành cho tới khi chín.
- Giai đoạn cây con: Được tính từ khì hạt chè nảy mầm cho đến khi cây
chè ra hoa, kết quả lần đầu. Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 năm.
- Giai đoạn cây non: Được tính từ khi chè ra hoa, kết quả lần đầu tiên
khi cây chè định hình ( có bộ khung tán ổn định). Giai đoạn này kéo dài 2 – 3 năm.

0
C, tối thích 18 – 30
0

C, những ngày có nhiệt độ tối đa vượt quá 30
0
C và tối thiểu thấp hơn 14
0
C
thì sinh trưởng của cây chè giảm. Nhiệt độ đất ( tầng 0 – 30cm) thích hợp cho
sinh trưởng của cây chè là 20 – 25đô C. Carr cho rằng số giờ chiếu sáng ngày
dài càng tốt, sự ngủ nghỉ sẽ xuất hiện khi độ dài ngày giảm xuống dưới 11 giờ
15 phút/ngày. Hầu hết các vùng chè có lượng mưa 150mm/tháng thì sẽ sinh
trưởng liên tục, tổng lượng mưa thích hợp là 1800mm/năm và chè không thể
sinh trưởng được ở vùng có lượng mưa dưới 1150mm/năm mà không có tưới
nước hợp lý.
* Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, tác giả
Carr (1992)[23] đã đưa ra giá trị trung bình là 475 ngày. Việc tính toán cho 4
vùng khác nhau về kinh độ, độ cao so với mặt nước biển, nhiệt độ không khí
bình quân cho thấy số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 45 ngày
vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông.
* Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè trong điều kiện không đốn và có
đốn thì tác giả K.M Djemukhatde (1982) [4] cho rằng: Trong điều kiện để
giống hay không đốn thì các mầm chè được phân hóa trong vụ thu và vụ đông
sẽ hình thành búp trong vụ xuân. Trong khi đó nương chè có đốn thì sự phân
hóa mầm chè chủ yếu bắt đầu sinh trưởng muộn hơn một số ngày so với
nương chè để giống hay không đốn.
* K.M Djemukhatde (1948) đã nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa búp
chè và năng suất đã cho thấy: Tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị
diện tích là tương quan chặt r =

chọn ra các giống TRI777, TH3 là 2 giống có triển vọng, được Bộ Nông
nghiệp cho phép khảo nghiệm ra sản xuất. Năm 1994 đã có 33 giống chè
được nhập nội vào Việt Nam trong đó có 9 giống chè Đài Loan; 15 giống
Trung Quốc; 11 giống Nhật Bản; 2 giống ấn Độ. Đến nay, nhu cầu sử dụng
giống tốt trong sản xuất ngày càng tăng, nên công tác giống ngày càng được
quan tâm hơn. Hiện nay nước ta có trên 130 giống chè, trong đó có hơn 20
giống đã được đưa ra trồng sản xuất đại trà [20]. Tại Viện nghiên cứu chè
Việt Nam (nay là trung tâm Nghiên cứu chè - Viện KHKT Nông Lâm
Nghiệp miền núi phía Bắc) đã xây dựng được một vườn bảo tồn quỹ gen chè,
lưu giữ nhiều giống được thu thập từ nhiều nơi trên thế giới và trong nước.
Tuy nhiên công tác chọn giống ở nước ta vẫn chủ yếu tìm gen năng suất
cao, khả năng chống chịu nên khả năng tận dụng và phát huy lợi thế của
nguồn gen quý chưa được nhiều, dù đã có một vốn gen khá. Vì vậy chúng ta

9
chưa có được một giống chè gắn liền với thương hiệu giống cụ thể như Trung
Quốc với sản phẩm chè Long Tỉnh 43 được sản xuất từ giống chè LT43, chè
chất lượng cao Thiết Quân Âm từ nguyên liệu giống chè Thiết Quan Âm
Nhờ có chính sách mở cửa thông qua những mối liên doanh liên kết nước ta
và quyết định số 43/1979/QĐ/TTg của chính phủ đến nay đã thu thập thêm
được một số giống chè đặc sản của Đài Loan, Trung Quốc như: Phúc Vân
Tiên, Keo Am Tích, Long Vân, Bát Tiên, Kim Tuyên, Vân Sương…Là cơ sở
pháp lý quan trọng và cũng là cơ hội cho ngành chè tiến hành một cuộc cách
mạng trong nghiên cứu và sản xuất thông qua chương trình nhập khẩu giống.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

theo một quy luật nhất định và hình thành các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian.
Sơ đồ sinh trưởng được tóm tắt:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] cho thấy: Trong năm chè có
3 - 5 đợt để sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể có tới 8 - 9 đợt sinh
trưởng. Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào
giống, tuổi cây, điều kiện đất đai, khí hậu, chế độ canh tác.
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] nghiên cứu về mối quan hệ giữa
búp và sản lượng thì sản lượng chè quyết định bởi 2 yếu tố: Mật độ búp và
trọng lượng búp. Mật độ búp liên quan tới sản lượng của chè.
Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[17] khi nghiên cứu về sinh trưởng
búp chè và sản lượng chè đã cho rằng: Tổng số búp/cây có mối tương quan
thuận không chặt với sản lượng là yếu tố ổn định, vì thế số búp/cây có ý nghĩa
với sản lượng.
Tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) khi nghiên cứu về hệ số diện tích lá cho
rằng: Hệ số diện tích lá và mật độ búp có quan hệ thuận với nhau từ tháng 5 –
12. Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[17] cũng có kết luận tương tự và hệ số
diện tích lá thích hợp từ tháng 4 – 6.

12
Nghiên cứu các tính trạng của chè liên quan tới chất lượng thì tác giả
Nguyễn Văn Niệm (1992)[10] cho rằng: Dạng lá lồi lõm,màu xanh vàng (
nhạt) có chất lượng tốt hơn dạng xanh đậm, nhẵn bằng, các giống chè Shan có
nhiều lông tuyết dù ở cả vùng thấp thì chất lượng cũng cao.
1.3 .Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới
Chè hiện nay chiếm khoảng 1/3 lượng tiêu dùng của thị trường đồ uống
nóng thế giới, nhưng chỉ chiếm 20% tổng giá trị của thị trường này. Theo
đánh giá của chuyên gia trong các nước sản xuất kinh doanh chè thuộc tổ

Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
1 2005 268,70 135,86 365,05
2 2006 273,89 135,21 370,31
3 2007 292,97 135,81 397,88
4 2008 299,23 140,62 420,77
5 2009 302,84 140,72 426,17
6 2010 312,98 146,09 457,22
7 2011 326,77 141,52 462,44
8 2012 327,59 147,07 481,81
(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2014)[23]
Qua số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè trong giai đoạn
từ năm 2002-2010 cho thấy:
Diện tích chè thế giới tăng đều qua các năm từ năm 2005-2012. Từ năm
2006 – 2007 là sự gia tăng về diện tích có sự vượt trội hơn các năm tăng từ
273,89 năm 2006 lên 292,97 năm 2007. Trong 8 năm trở lại đây diện tích
trồng chè tăng khoảng 1,02-1,03%. Theo thống kê năm 2005, diện tích chè
thế giới tương đối cao, trong đó diện tích chè Châu Á chiếm 76,7%, Châu Phi
là 8,05%.
Năng suất chè thế giới nhìn chung tăng từ năm 2005 - 1012, tuy nhiên
năng suất có sự giảm sút từ 146,09 tạ/ha (năm 2010) xuống 141,52 tạ/ha (năm
2011) nhưng lại tăng dần vào năm tiếp theo 147,07 tạ/ha ( năm 2012).
Mặc dù năm suất có giảm ở 1 số năm nhưng sản lượng chè vẫn tăng
nhanh qua các năm từ 365,05 (nghìn tấn ) năm 2005 lên 481,81 (nghìn tấn)
năm 2012.
Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè. Chè tập trung nhiều
nhất ở Châu Á sau đó đến Châu Phi. Các nước có diện tích trồng chè lớn như
Kenia, Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanka…Sản lượng chè của thế giới và một số


201,86

206,16

1.100,27

198,60

235,00

221,60

225,00

Ấn Độ 893,00

928,00

949,22

805,18

972,70

991,18

966,73

1.000


330,00

Việt Nam 132,52

151,00

164,00

174,90

185,70

198,46

206,60

216,90

Indonesia 177,70

146,85

150,22

150,85

146,44

150,00


59,50

60,00

60,50

61,50

Myanmar 25,00

26,00

27,70

29,00

30,25

31,06

31,00

32,00

Toàn TG 3.650,52

3.703,17

3.978,84

1.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam
Ở nước ta có lịch sử phát triển chè lâu đời từ năm 1939 Việt Nam đã là
một trong những nước xuất khẩu chè của thế giới, sau hơn 20 năm phát triển
kể từ khi nước nhà thống nhất cả nước có hơn 7,5 vạn ha chè trong khi đó
diện tích chè thu hoạch là 5,5 vạn ha, tổng sản lượng búp chè tươi đạt 198.000
tấn tiêu dùng trong cả nước hơn 21000 tấn với tổng giá trị là 450 tỉ đồng. Những
con số này đã phần nào nói lên chè có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nước nhà. [5]
Cây chè hiện nay được phân bố trên địa bàn 40 tỉnh thành trong cả
nước, tập chung chủ yếu ở những vùng chè trọng điểm như: Thái Nguyên, Hà
Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái…[1]
Ngành chè Việt Nam thừa hưởng sự ưu đãi của thiên nhiên và xã hội.
Tuy nhiên cây chè mới chỉ thực sự được người Việt Nam đầu tư phát triển
mạnh từ những năm cuối thế kỷ 20 trở đi. Đặc biệt trong những năm gần đây,
nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách đầu tư, ưu tiên phát triển cây chè.
Cây chè được coi như cây xóa đói giảm nghèo và tiến đến làm giàu của nhiều
hộ nông dân. Do đó diện tích, năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên từ
năm 2005 đến nay.

3.1.2. Địa hình 24
3.1.3. Điều kiện đất đai 25
3.2. Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu thời tiết 25
3.3. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống chè
mới tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 28
3.3.1. Đặc điểm hình thái cây chè 28
3.3.2. Tình hình sâu hại 31
Phần 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
Tăng
giảm
năm
2012
so với
năm
2011
(%) Trị giá
(USA)
Tỉ
trọng
(%)
Trị giá
(USA)
Tỉ
trọng
(%)
Trị giá
(USA)

Tỉ
trọng
(%)
Tổng XK 204.017.965


9 Hoa Kỳ 4.937.160

2,42 8.968.641 3,99 2.633.189 6,03 81,66
10 Ân Độ 1.442.088

0,71 1.179.704 0,53 352.293.000 0,81 -18,19
11 Ba Lan 3.339.019

1,64 4.849.635 2,16 1.242.611 2,85 45,24
Các nước khác
68.013.277

33,34 59.236.763 26,38 12.310.516 28,21 -12,90
Nguồn: Tổng cục Hải quan[3]

Nhìn chung trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khó khăn, thị trường tiêu thụ
chè Việt Nam vẫn khá khả quan với thị trường xuất khẩu hàng đầu là thị
trường Pakistan, với thị phần lớn nhất, giá trị xuất khẩu đạt khoảng 6,3 triệu

19
USD; tiếp theo đó là thị trường Đài Loan với sản lượng xuất khẩu 4.065 tấn,
trị giá 5,6 triệu USD, và đứng thứ 3 là thị trường Nga, sản lượng đạt 2.974 tấn
trị giá 4,67 triệu USD.[3]
Ngoài ra xuất khẩu chè Việt Nam sang một số thị trường quan trọng
khác trong những tháng đầu năm 2013 cũng có mức tăng trưởng khá cao, như
Trung Quốc, Ba Lan, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE).[3]
2.4.3 Định hướng phát triển ngành chè
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, tiềm năng phát triển
ngành chè về đất đai, khí hậu, con người, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có; căn
cứ vào chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, ngành chè đã đề ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status