Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố hải phòng - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ HUYỀN

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số

: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN MINH MẪN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Minh Mẫn.
Các số liệu trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, khách quan,
khoa học và trung thực. Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Tác giả luận văn

Vũ Thị Huyền


PHÒNG
2.1

Tình hình thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hải Phòng

2.2

Đánh giá về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hải Phòng

36
43

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH

50

NGHIỆP
3.1

Định hướng tăng cường hiệu quả thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp

3.2

Một số giải pháp tăng cường hiệu quả thi hành án dân sự đối với
doanh nghiệp


TTTM

Trọng tài thương mại

BCĐ

Ban chỉ đạo

TAND

Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là một giai đoạn – giai đoạn cuối cùng
của quá trình tố tụng, là hoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự của tòa
án, trọng tài thương mại, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trên
thực tế. THADS có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói
riêng và hoạt động tư pháp nói chung, bảo đảm cho bản án, quyết định của
tòa án, trọng tài thương mại, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được chấp
hành nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức, nhà
nước, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Yêu cầu thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định của tòa án, trọng
tài thương mại, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã trở thành nguyên tắc
hiến định: từ Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa đến Hiến pháp năm 1992 (Điều 136) và tiếp tục được khẳng
định trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 106). Đồng thời thể chế hóa các đường
lối, chính sách đó bằng việc ban hành nhiều văn bản pháp luật có hiệu lực

lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc. Hải Phòng là
đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận
tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nền kinh tế của Hải Phòng nói riêng và của
cả nước nói chung đã và đang đạt được những kết quả nhất định, tạo được
những bước đột phá về kinh tế. Hàng năm hàng trăm doanh nghiệp mới được
thành lập, nhiều công ty, tập đoàn lớn không những được trong nước biết đến
mà còn vươn ra thị trường quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, hiện tại và tương
lai cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là sự kiện
gia nhập TTP – Hiệp định Hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình
Dương.

2


Trong những năm qua, công tác THADS ở thành phố Hải Phòng đã đạt
được những kết quả đáng ghi nhận: tỷ lệ án thi hành xong tăng cao, cả về việc
và về tiền; nhiều việc tồn đọng, phức tạp kéo dài đã được thi hành dứt điểm.
Kết quả này đã phần nào phản ánh những nỗ lực, cố gắng của ngành tư pháp
thành phố Hải Phòng nói chung và của lĩnh vực THADS nói riêng; phản ánh
sự quan tâm, phối kết hợp chặt chẽ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa
phương, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện pháp luật THADS.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác THADS, đặc
biệt đối với doanh nghiệp ở Hải Phòng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập; phần
lớn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Lượng án tồn
đọng còn lớn, án phức tạp, kéo dài còn chưa giải quyết được, gây bức xúc,
mất niềm tin trong nhân dân. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên đó là:
hệ thống pháp luật hiện hành THADS còn thiếu tính khả thi, thiếu đồng bộ
với các Bộ luật và Luật khác, nhiều điểm còn bất cập, lại hay sửa đổi; một bộ
phận không nhỏ các chấp hành viên, cán bộ THA còn thiếu tinh thần trách

đề cập đến vấn đề này như:
Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tư pháp chủ trì “Luận cứ khoa
học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai
đoạn mới”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất
công tác Thi hành án” do Cục quản lý THADS – Bộ Tư pháp chủ trì thực
hiện. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Những cơ sở lý luận và thực tiễn
về chế định Thừa phát lại” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư
pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện. Đề tài cấp Nhà
nước đang thực hiện: “Thi hành án dân sự, thực trạng, hướng hoàn thiện”
của Dự án VIE/98/001 do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện.
Công trình nghiên cứu khoa học khác như: Luận án Tiến sĩ năm 2008 :
“ Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Nguyễn Thanh Thủy, luận án tiến sỹ năm 2008: “Hiệu quả áp dụng pháp luật

4


Thi hành án dân sự ở Việt Nam” của tác giả Đặng Đình Quyền. Luận văn thạc
sỹ năm 2015: “Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”
của tác giả Bùi Ngọc Hiếu. Luận văn thạc sỹ năm 2015: “Kiểm sát thi hành án
dân sự từ thực tiễn thành phố Hải Phòng của tác giả Lê Thị Tuyết Thanh.
Luận văn thạc sỹ năm 2005: “Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn
đọng trong thi hành án dân sự của Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn
Đức Nghĩa, luận văn thạc sỹ năm 2013: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành
án nghĩa vụ trả tiền”; “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam những vấn đề lý
luận và thực tiễn” xuất bản năm 2007 sách chuyên khảo do Nguyễn Công
Bình chủ biên.
Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu những vấn đề
chung của thực hiện pháp luật, những vấn đề mang tính tổng thể hoặc những
khía cạnh khác nhau, phạm vi cụ thể khác nhau của THADS. Một số đề tài

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện
pháp luật THADS đối với doanh nghiệp.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về THADS
đối với doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng hiện nay. Đánh giá đúng
nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập.
Ba là, đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác THADS đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật THADS là phạm trù rất rộng, bao gồm rất nhiều
lĩnh vực, nhiều vấn đề khác nhau. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ,
tác giả tập trung vào nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật THADS đối

6


với doanh nghiệp với tư cách là người phải thi hành án từ thực tiễn thành phố
Hải Phòng trong phạm vi sau:
Về không gian, việc áp dụng pháp luật THADS đối với các chi cục trên
địa bàn thành phố Hải Phòng.
Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động
thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đối
với doanh nghiệp từ năm 2011 đến năm 2016.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là về thủ tục và trình tự thi hành án
dân sự đối với doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về THADS nói chung và pháp luật THADS đối với
doanh nghiệp nói riêng. Những giải pháp đưa ra bao gồm các giải pháp trước

nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn thực hiện pháp luật về
THADS đối với doanh nghiệp nói chung và ở Hải Phòng nói riêng. Từ đó
nâng cao nhận thức của xã hội đối với pháp luật, đặc biệt là pháp luật
THADS, nâng cao hiệu quả của công tác THADS cũng như công tác THADS
đối với doanh nghiệp.
Những giải pháp đưa ra bao gồm cả giải pháp trước mắt và lâu dài
nhằm xác định, củng cố về nhận thức về vị trí, vai trò của thực hiện pháp luật
và áp dụng pháp luật về THADS đối với doanh nghiệp trong việc phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện pháp luật THADS của các cơ
quan thi hành án, cấp ủy đảng và các cơ quan hữu quan; nâng cao nhận thức
và ý thức chấp hành của các cá nhân, cơ quan, tổ chức (đặc biệt là doanh
nghiệp) đối với công tác thi hành án dân sự.

8


Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nội bộ ngành, cấp ủy
và chính quyền địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác THADS đối
với doanh nghiệp.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp trên địa
bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường hiệu quả thi hành án dân
sự đối với doanh nghiệp

9

10


c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự
nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;
e) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
g) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
2. Những Bản án, quyết định sau đây của Tòa án sơ cấp được thi hành
ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ
cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động
trở lại làm việc;
b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp kịp thời.”
Tương tự như quy định của Bộ Luật Dân sự, Luật Thi hành án dân sự,
khái niệm “dân sự” được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó THADS được hiểu là
hoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động có hiệu lực pháp luật thi hành trên thực tiễn.
Dựa trên khái niệm, phạm vi của THADS để xác định THADS là một
giai đoạn tố tụng hay là một hoạt động quản lý hành chính – tư pháp. Trước
kia, cơ quan THA là bộ phận của tòa án nhân dân, thuộc sự quản lý của
TAND các cấp. Đến năm 1993, cơ quan THA được chuyển giao từ TAND
các cấp sang Bộ Tư pháp, khái niệm THADS được các nhà khoa học pháp lý
phân tích và nhìn nhận trên nhiều góc độ, phương diện khác nhau.


quyết việc thi hành án.

12


4. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh
địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên
quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác có liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp
cưỡng chế thi hành án, lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản
thi hành án.
6. Yêu cầu cơ quan công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án
theo quy định của pháp luật.
7. Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người vi phạm.
8. Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã
chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án
và các khoản phải nộp khác.
9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy
định của Chính phủ.
10. Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Chấp hành viên phải tuân
theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được
pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm và uy tín.”
Những hoạt động trên đây mang đặc trưng của hoạt động tư pháp chứ không
phải là đặc trưng của hoạt động hành chính.

xử, đảm bảo các quyết định, bản án được tuyên đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Do đó, có thể khẳng định rằng hoạt động THADS là hoạt động tư
pháp (cơ quan bổ trợ) nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định của tòa án,
các quyết định khác có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế.

14


Cuối cùng là về điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
cá nhân, tổ chức, nhà nước. Thật sai lầm khi khẳng định rằng phán quyết của
Tòa án là khâu cuối cùng của hoạt động tư pháp. Một bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật chỉ có thể thực thi trên thực tế thông quan hoạt động của cơ
quan THA. Hay nói cách khác, bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án
chỉ là điều kiện cần, quyền là lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, nhà
nước có được bảo đảm, bảo vệ hay không phải dựa trên điều kiện đủ là bản
án, quyết định đó phải được cơ quan THA tổ chức thi hành trên thực tế.
Từ những lý do trên đây, tác giả đưa đến khẳng định rằng: Hoạt động
THADS là hoạt động Hành chính - tư pháp.
Vấn đề thứ hai là vấn đề khái niệm dân sự trong khái niệm thi hành án
dân sự. Vấn đề này hiện đang có hai cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất
dựa trên quan niệm về dân sự theo nghĩa hẹp. Cơ sở pháp lý của quan điểm
này dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự. Theo đó, quan hệ dân sự bao gồm
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, nhân thân và tài sản trong quan hệ dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Khái niệm dân sự
trong THADS đương nhiên chỉ bao gồm những việc, vụ việc liên quan đến
quan hệ tài sản và nhân thân (phi tài sản). Cách hiểu thứ hai là quan niệm về
dân sự theo nghĩa rộng. Theo đó, việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định
có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh doanh, thương
mại, lao động) được thực hiện theo thủ tục chung chứ không có sự tách bạch
căn bản việc thi hành án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thưong

pháp luật đã quy định cho chấp hành viên những quyền hạn, trách nhiệm rất
cụ thể và sử dụng tùy từng trường hợp cụ thể. Cụ thể, trong trường hợp sau
khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, hai bên đương sự tự nguyện thỏa
thuận với nhau về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo bản án thì chấp hành
viên đóng vai trò là người xác nhận tính hợp pháp của thỏa thuận đó đồng
thời tiến hành thực hiện các thủ tục khác theo luật định. Trong trường hợp,
một trong các bên hoặc cả hai bên cố tình chây ỳ, không thực hiện theo nội
dung phán quyết của tòa án sau khi được các chấp hành viên, cơ quan thi

16


hành án vận động, giáo dục thuyết phục thì chấp hành viên phải áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án (có tổ chức huy động lực lượng hoặc không tổ
chức huy động lực lượng) buộc bên có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện
nghĩa vụ của mình theo đúng quyết định bản án.
Ba là, thi hành án dân sự tôn trọng sự thỏa thuận và quyền tự định đoạt
của đương sự. Do đặc trưng của thi hành án dân sự chủ yếu là thi hành các
bản án, quyết định liên quan đến tài sản – đặc trưng của quan hệ dân sự. Sau
khi bản án, quyết định có hiệu lực, các bên vẫn có quyền tiếp tục thể hiện ý
chí của mình về việc thi hành án. Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận
của các đương sự và quyền tự định đoạt của đương sự luôn được tôn trọng
trong quá trình thi hành án. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa thi hành án
dân sự với thi hành án hình sự. Trong hoạt động thi hành án hình sự, khi bản
án hình sự có hiệu lực, cơ quan thi hành án hình sự tổ chức thi hành theo
nguyên tắc mệnh lệnh, phục tùng bắt buộc người phải thi hành án thực hiện,
không phụ thuộc vào ý chí của người phải thi hành án và cũng không có sự
thỏa thuận giữa các bên về việc thi hành án.
Xuất phát từ nguyên tắc này trong thi hành án dân sự mà các bên có
quyền thỏa thuận về thời gian, địa điểm, phương thức thi hành án nếu thỏa

Xuất phát từ khái niệm về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là
người phải thi hành án nhận thấy rằng thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp là người phải thi hành án vừa có những đặc điểm chung của thi hoạt
động thi hành án dân sự vừa có đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
Một là về đối tượng phải thi hành án. Đối tượng phải thi hành án trong
Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là doanh nghiệp- một pháp nhân
được tổ chức hòa hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp có tên
riêng, có trụ sở riêng, con dấu riêng, tài sản riêng. Theo quy định Luật Doanh
nghiệp năm 2014, hiện tại ở nước ta có 5 loại hình doanh nghiệp là công ty
TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở nên, công ty cổ
phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

18


Vì doanh nghiệp là một pháp nhân nên tại Điều 13 Luật doanh nghiệp
năm 2014 quy định rất cụ thể chi tiết về người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp. Theo đó, đại diện cho doanh nghiệp có thể là đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp (Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc) hoặc đại diện
theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền khi
đại diện cho doanh nghiệp đều phải tuân theo những tiêu chuẩn và trách
nhiệm được quy định cụ thể từ Điều 13 đến Điều 16 của Luật này.
Hai là về cơ sở pháp lý. Cơ sở pháp lý cho hoạt động thi hành án dân
sự đối với doanh nghiệp là một bản án, quyết định của tòa án hoặc cơ quan có
thẩm quyền theo luật định có hiệu lực pháp luật đã tuyên buộc doanh nghiệp
phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định (chủ yếu là về nghĩa vụ tài sản) hoặc
nghĩa vụ thực hiện một số hành vi nhất định như buộc doanh nghiệp phải trả
lương và trợ cấp thôi việc, buộc doanh nghiệp nhận người lao động trở lại làm
việc hoặc quyết định về việc áp dụng một số biện pháp khẩn cấp kịp thời như:
cấm chuyển quyền sở hữu tài sản, cấm dịch chuyển tài sản, cấm xuất nhập

Qua sự phân tích trên có thể thấy rằng, hoạt động thi hành án dân sự
đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án có ý nghĩa, vai trò vô cùng
quan trọng, thể hiện như sau:
Thứ nhất, hoạt động THADS đối với doanh nghiệp là người phải thi
hành án góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức
và cá nhân. Hoạt động thi hành án dân sự là một quá trình có mục đích nhằm
làm cho các bản án, quyết định của TAND và các quyết định khác theo quy
định của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật được thực thi trên thực tế. Do đó,
mọi hành vi dẫn đến việc doanh nghiệp có nghĩa vụ thi hành án mà không thi
hành hoặc thi hành án chậm hoặc thi hành không đúng với nội dung của bản
án, quyết định hay thỏa thuận khác của các bên, về thực chất đều đã và đang
xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của các tổ chức, cá nhân. Vì thế, việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật
THADS đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án không chỉ đảm bảo
tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn đảm bảo

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status