Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố hải phòng (tóm tắt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ HUYỀN

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số

: 60.38.01.02

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MINH MẪN

Phản biện 1: PGS.TS Vũ Thư
Phản biện 2: TS Trần Kim Liễu

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
15 giờ, ngày 11 tháng 05 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

chấp hành viên, các cán bộ, công chức trong các cơ quan THADS
thực hiện tốt các chức năng, thẩm quyền của mình. Các văn bản pháp
luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới về tổ chức và hoạt
động của cơ quan thi hành án dân sự; xác định rõ hơn địa vị pháp lý
của các chủ thể đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong các
quyết định THADS.

1


Hải Phòng là thành phố ven biển nằm ở phía Đông miền
duyên hải Bắc Bộ, có dân số đông. Là một trong 5 thành phố lớn trực
thuộc trung ương và là một đô thị trung tâm cấp quốc gia, là thành
phố lớn thứ 3 của Việt Nam, có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và
an ninh, quốc phòng của vùng Bắc bộ và cả nước. Nền kinh tế của
Hải Phòng nói riêng và của cả nước nói chung đã và đang đạt được
những kết quả nhất định, tạo được những bước đột phá về kinh tế.
Hàng năm hàng trăm doanh nghiệp mới được thành lập, nhiều công
ty, tập đoàn lớn không những được trong nước biết đến mà còn vươn
ra thị trường quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, hiện tại và tương lai
cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là sự
kiện gia nhập TTP – Hiệp định Hợp tác kinh tế chiến lược xuyên
Thái Bình Dương.
Trong những năm qua, công tác THADS ở thành phố Hải
Phòng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: tỷ lệ án thi hành
xong tăng cao, cả về việc và về tiền; nhiều việc tồn đọng, phức tạp
kéo dài đã được thi hành dứt điểm. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đã đạt được, công tác THADS, đặc biệt đối với doanh nghiệp ở
Hải Phòng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập; phần lớn chưa đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Lượng án tồn đọng còn

là đề tài tương đối mới, cho đến khi tác giả tìm hiểu về đề tài này, chỉ
có một số ít công trình khoa học pháp lý đề cập đến vấn đề này như:
Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tư pháp chủ trì “Luận
cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt
Nam trong giai đoạn mới”. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Mô
hình quản lý thống nhất công tác Thi hành án” do Cục quản lý
THADS – Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện. Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ: “Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”
do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp
thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện. Đề tài cấp Nhà nước đang
thực hiện: “Thi hành án dân sự, thực trạng, hướng hoàn thiện” của
Dự án VIE/98/001 do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện.
Công trình nghiên cứu khoa học khác như: Luận án Tiến sĩ
năm 2008 : “ Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam
hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, luận án tiến sỹ năm 2008:
“Hiệu quả áp dụng pháp luật Thi hành án dân sự ở Việt Nam” của
tác giả Đặng Đình Quyền.
Những công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu những
vấn đề chung của thực hiện pháp luật, những vấn đề mang tính tổng
thể hoặc những khía cạnh khác nhau, phạm vi cụ thể khác nhau của
THADS. Một số đề tài cũng đã nghiên cứu chuyên sâu, nhưng chỉ để
cập đến nội dung các quy định về kiểm sát thi hành án dân sự, các

3


biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án hay
những vấn đề lý luận và thực hiện pháp luật thi hành án dân sự…
Tuy nhiên, nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ khoa học pháp
lý về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật THADS đối với

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật THADS là phạm trù rất rộng, bao gồm
rất nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề khác nhau. Trong khuôn khổ của một
luận văn thạc sỹ, tác giả tập trung vào nghiên cứu thực trạng thực
hiện pháp luật THADS đối với doanh nghiệp với tư cách là người
phải thi hành án từ thực tiễn thành phố Hải Phòng trong phạm vi sau:
Về không gian, việc áp dụng pháp luật THADS đối với các
chi cục trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu, đánh giá thực trạng
hoạt động thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Hải Phòng đối với doanh nghiệp từ năm 2011 đến năm 2016.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là về thủ tục và trình tự
thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra những
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về THADS nói chung và pháp
luật THADS đối với doanh nghiệp nói riêng. Những giải pháp đưa ra
bao gồm các giải pháp trước mắt để áp dụng ngay và các giải pháp
định hướng, lâu dài để áp dụng đồng thời với việc hoàn thiện các quy
định pháp luật THADS cũng như các quy định pháp luật có liên quan
như Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai…Tất cả nhằm góp phần tăng
cường hiệu quả hoạt động THADS nói chung và hoạt động THADS
đối với doanh nghiệp nói riêng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận mà tác giả sử dụng để nghiên cứu đề tài
này là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của

khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự đối
với doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường hiệu quả thi
hành án dân sự đối với doanh nghiệp

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành án dân sự
đối với doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp
Để làm sáng tỏ khái niệm THADS đối với doanh nghiệp, ta
cần làm sáng tỏ các khái niệm: thi hành án, thi hành án dân sự, doanh
nghiệp. Theo Đại từ điển Tiếng việt, thi hành là “Thực hiện điều đã
chính thức quyết định” [44 ,tr.1559]. Theo Từ điểm Luật học thì Thi
hành án là “Giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng, là khâu cuối cùng
kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án
nhất định có hiệu lực pháp luật” [13, tr. 464]. Như vậy, Thi hành án
có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án – văn
bản pháp lý của tòa án nhân danh nhà nước tuyên tại phiên tòa , giải
quyết các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình,
lao động, kinh tế, hành chính trên thực tế.
Việc thi hành các bản án, quyết định có hiệu quả trên thực tế
không những để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ

thi hành trên thực tế theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, về chủ thể quản lý. Chủ thể quản lý trực tiếp cơ quan
THADS là Bộ Tư pháp - cơ quan hành chính. Tuy nhiên, về mặt bản
chất, hoạt động của cơ quan bị quản lý không hoàn toàn phụ thuộc
vào cơ quan chủ quản trực tiếp mà phụ thuộc vào chức năng, nhiệm
vụ của chính cơ quan đó.
Thứ năm, về chức năng trong hoạt động tư pháp. Quyền lực
của nhà nước về mặt bản chất bao gồm ba quyền: quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba nhánh quyền lực này được
giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, hoạt động theo cơ chế
phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau. Đây là nguyên tắc Hiến
định.
Cuối cùng là về điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các cá nhân, tổ chức, nhà nước. Thật sai lầm khi khẳng
định rằng phán quyết của Tòa án là khâu cuối cùng của hoạt động tư
pháp. Một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật chỉ có thể thực thi
trên thực tế thông quan hoạt động của cơ quan THA.
Từ những lý do trên đây, tác giả đưa đến khẳng định rằng:
Hoạt động THADS là hoạt động Hành chính - tư pháp.
Vấn đề thứ hai là vấn đề khái niệm dân sự trong khái niệm
thi hành án dân sự. Vấn đề này hiện đang có hai cách hiểu khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất dựa trên quan niệm về dân sự theo nghĩa hẹp. Cơ

8


sở pháp lý của quan điểm này dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự.
Theo đó, quan hệ dân sự bao gồm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể,
nhân thân và tài sản trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động. Khái niệm dân sự trong THADS đương


9


Một là về đối tượng phải thi hành án. Đối tượng phải thi
hành án trong Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là doanh
nghiệp- một pháp nhân được tổ chức hòa hoạt động theo pháp luật
Việt Nam.
Hai là về cơ sở pháp lý. Cơ sở pháp lý cho hoạt động thi
hành án dân sự đối với doanh nghiệp là một bản án, quyết định của
tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền theo luật định có hiệu lực pháp
luật đã tuyên buộc doanh nghiệp phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất
định (chủ yếu là về nghĩa vụ tài sản) hoặc nghĩa vụ thực hiện một số
hành vi nhất định như buộc doanh nghiệp phải trả lương và trợ cấp
thôi việc, buộc doanh nghiệp nhận người lao động trở lại làm việc
hoặc quyết định về việc áp dụng một số biện pháp khẩn cấp kịp thời
như: cấm chuyển quyền sở hữu tài sản, cấm dịch chuyển tài sản, cấm
xuất nhập cảnh…
Ba là về quá trình tổ chức thực hiện hoạt động thi hành án.
Doanh nghiệp là một pháp nhân có nhiều loại hình tồn tại và hoạt
động của doanh nghiệp liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực khác
nhau do vậy chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau như
luật Dân sự, luật Tố tụng dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương
mại, Luật Thuế….
Bốn là về giá trị thi hành án. Do đặc điểm của doanh nghiệp
là có vốn lớn, lợi nhuận cao luôn đi với rủi ro lớn nên hoạt động thi
hành án dân sự đối với doanh nghiệp luôn khó khăn và phức tạp hơn
cả.
1.1.3. Ý nghĩa của việc thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp

với doanh nghiệp có thể thấy rằng nội dung của thi hành án dân sự
đối với doanh nghiệp là việc thi hành toàn bộ hoặc một phần các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc một phần các bản án,
quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo
quy định của pháp luật dân sự, hành chính, lao động, thương mại,
kinh doanh, quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp mà có đối
tượng - bên phải thi hành án là doanh nghiệp. Nội dung thi hành án
dân sự đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án bao gồm hai
loại là thi hành án chủ động và thi hành án theo đơn.
1.2.2. Phương thức và thủ tục thi hành án dân sự đối với
doanh nghiệp
Nguyên tắc tự nguyện là nguyên tắc tối quan trọng trong xác
lập và vận hành các quan hệ dân sự. Do vậy trong hoạt động thi hành
án dân sự đối với doanh nghiệp, phương thức tự nguyện luôn được
ưu tiên thực hiện. Trong trường hợp doanh nghiệp là người phải thi

11


hành án không tự nguyện thi hành theo nội dung của bản án, quyết
định thì thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên sau khi đã
tiến hành các thủ tục theo luật định sẽ tiến hành phương thức thứ hai
là phương thức cưỡng chế thi hành án. Các phương thức này đã được
quy định cụ thể hóa trong Luật Thi hành án dân sự hiện hành, cụ thể
tại Điều 9; Điều 45 và Điều 46:
1.2.3. Tổ chức thi hành quyết định thi hành án đối với
doanh nghiệp
1.2.3.1 Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đối với
doanh nghiệp

tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án chấp hành viên phải ra ngay quyết định về việc tạm dừng đăng ký,
chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đảm bảo
thi hành án.
1.2.3.2. Các biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với
doanh nghiệp
Cưỡng chế thi hành án dân sự đây là một biện pháp nghiêm
khắc được chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành
án, thể hiện việc cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước để
buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định
đã tuyên.
Cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là biện
pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do chấp hành viên
quyết định theo thẩm quyền quy định nhằm buộc doanh nghiệp là
người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ
về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong
trường hợp người doanh nghiệp có điều kiện thi hành án mà không tự
nguyện thi hành trong thời hạn do chấp hành viên ấn định, hoặc trong
trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tầu tán, hủy hoại tài
sản.
Tuy nhiên, chấp hành viên, thừa phát lại trong quá trình tổ
chức thi hành án đối không được áp dụng một cách tùy tiện mà phải
tuân thủ những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, về các biện pháp cưỡng chế. Chỉ được áp dụng các
biện pháp cưỡng chế đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án
trong các trường hợp theo quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự
năm 2014.
Thứ hai, trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng thì
chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án với các nội
dung theo khoản 2 Điều 72 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung

doanh nghiệp vốn rất phức tạp lại chịu ảnh hưởng của rất nhiều chủ
quan và khách quan khác nhau, trong đó yếu tố khách quan góp phần
không nhỏ.

14


Chương 2
THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Tình hình thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Hải Phòng
2.1.1 Tình hình chung
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm ở phía Đông miền
duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km; phía Bắc và phía
Đông giáp Quảng Ninh; phía Tây giáp Thái Bình và phía Đông là bờ
biển chạy dài theo hướng Tây Bắc- Đông Nam từ phía Đông đảo Cát
Hải đến cửa sông Thái Bình. Thực trạng này đã dẫn đến sự gia tăng
đột biến về số lượng vụ việc và tính chất phức tạp của án kinh tế, án
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Điều này đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến sự ổn định anh ninh, chính trị và bảo đảm phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37/2012/QH13 và Nghị
quyết số 63/2013/QH13 của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành 02
Nghị quyết quan trọng nhằm nâng cao, tập trung chỉ đạo các địa
phương thực hiện các giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ
thi hành án dân sự. Theo số liệu báo cáo năm 2016, tổng số việc liên
quan đến doanh nghiệp là 381 việc = 1.736.102.937.000 đồng, tài sản
được thế chấp tại ngân hàng chủ yếu là bất động sản (gồm nhà
xưởng, nhà ở, vật kiến trúc trên đất, dây chuyền, máy móc, thiết

việc thi hành án đối với doanh nghiệp
Thực hiện việc, định giá lại và bán đấu giá tài sản kê biên để thi
hành án
Thực hiện áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành
án dân sự đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án tại thành
phố Hải Phòng
Thực hiện việc áp dụng biện pháp buộc nhận người lao động
trở lại làm việc
Thực trạng thực hiện thi hành án về việc và tiền đối với
doanh nghiệp trong các năm 2011-2016
Qua bảng thống kê trên có thể thấy: các tranh chấp dân sự kinh tế tăng mạnh hàng năm, đặc biệt là trong những năm gần đây,
theo đó yêu cầu về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp cũng
tăng theo. Trong những năm qua, việc thi hành dứt điểm các bản án,
quyết định liên quan đến ngân hàng đã góp phần nâng cao hiệu quả,
kết quả thi hành án dân sự của thành phố, ổn định kinh tế, chính trị;

16


tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và củng cố niềm tin của nhân
dân đối với pháp luật, đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
2.2. Đánh giá tình hình thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
Trong những năm gần đây, tình hình thi hành án dân sự ở
Hải Phòng nói chung và thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp nói
riêng diễn biến ngày càng phức tạp. Số việc và số tiền đều tăng, đặc
biệt những vụ liên quan đến doanh nghiệp là người phải thi hành án
với số tiền phải thi hành lên đến hàng tỷ đồng. Tuy nhiên, với sự chỉ
đạo, hướng dẫn, đôn đốc của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân

Hải Phòng ngày càng có hiệu quả, kết quả thi hành án cơ bản được
giữ vững.
Thứ hai, Công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án,
đặc biệt là việc thành lập, duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của
các Tổ công tác, Tổ kiểm tra, Tổ chuyên môn giúp cho hoạt động thi
hành án được chuyên sâu, thống nhất vừa tiết kiệm thời gian vừa
nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành án đối với doanh nghiệp.
Đây là một sáng kiến tuy không mới nhưng đã phần nào đem lại hiệu
quả đáng ghi nhận.
Thứ ba, về cơ cấu tổ chức bộ máy thi hành án dân sự ngày
càng được hoàn thiện
Thứ tư, Ban chỉ đạo thi hành án đã và đang khẳng định vai
trò và vị trí trong hoạt động thi hành án dân sự.
Thứ năm, công tác xã hội hóa Thi hành án dân sự với sự
tham gia của Thừa phát lại, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật đến các tổ chức (đặc biệt là doanh nghiệp và ngân
hàng), cá nhân đang ngày càng được triển khai rộng rãi, hiệu quả góp
phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thi hành dân sự.
2.2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động thi hành án
dân sự nói chung và hoạt động thi hành án dân sự đối với doanh
nghiệp nói riêng của thành phố Hải Phòng vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập, hạn chế. Hạn chế, bất cập này xuất phát từ những nguyên nhân
chủ yếu sau:
Thứ nhất, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014, Luật
Doanh nghiệp năm 2014, Luật Thương mại năm 2005, Luật Đất Đai
có hiệu lực ngày 01/7/2014 tuy mới được sửa đổi bổ sung nhưng đã
bộc lộ những bất cập, hạn chế, khiếm khuyết.
Thứ hai, công tác cán bộ ngành Thi hành án dân sự thành
phố Hải Phòng còn rất nhều hạn chế, yếu kém về năng lực.

Việc nâng cao hiệu lực hiệu quả thi hành án dân sự đối với
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng phải được thực hiện
trên cơ sở quá triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về lĩnh vực thi
hành án dân sụ nói chung. Trên cơ sở định hướng đó, hoạt động
THADS nói chung và THADS đối với doanh nghiệp nói riêng trên

19


địa bàn thành phố Hải Phòng cần có lộ trình cụ thể và theo một số
định hướng về quan điểm chỉ đạo như sau:
3.1.1. Đảm bảo sự đồng bộ, giải quyết trên cơ sở hài hòa lợi
ích giữa các bên trong quá trình THADS đối với doanh nghiệp
Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án là kết quả của quá
trình tố tụng tư pháp, là căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức, nhà nước. Đây là một nguyên tắc Hiến
định (Điều 106 Hiến pháp 2013). Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều
Bản án, quyết định của tòa án và các quyết định khác theo quy định
của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp
luật nhưng được cho thi hành ngay không được bên phải thi hành án
tự nguyện thi hành.
3.1.2. Đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong hoạt động thi
hành án dân sự đối với doanh nghiệp
Nguyên tắc pháp chế là nguyên tắc tối quan trọng và cần
được quán triệt một cách sâu sắc, triệt để trong suốt quá trình tổ chức
và hoạt động THADS nói chung và hoạt động THADS đối với doanh
nghiệp nói riêng từ việc xây dựng pháp luật THADS, tổ chức thực
thiện pháp luật THADS, xử lý vi phạm pháp luật THADS..... Mọi
quy định pháp luật nói chung và pháp luật THADS nói riêng cần phải
được mọi cá nhân, tổ chức và nhà nước tuân thủ, nghiêm chỉnh chấp

quát hết, chưa dự liệu hết các tình huống phát sinh. Mặt khác, trong
quá trình tổ chức hoạt động THADS đối với doanh nghiệp, nếu có
vấn đề mới phát sinh thì cần kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền
sửa đổi, bổ sung kịp thời để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt
động THADS.
Với phạm vị nghiên cứu của chuyên ngành Luật Hành chính
– Hiến pháp và luận văn Thạc sỹ luật học, tác giả đưa ra một số giải
pháp cụ thể nhằm hoàn thiện, khắc phục những tồn tại trong thực tiễn
hoạt động THADS đối với doanh nghiệp tại địa bàn thành phố Hải
Phòng như sau:
Một là, các quy định về Luật Doanh nghiệp còn nhiều khiếm
khuyết, chưa đồng bộ.
Hai là, pháp luật về xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp
là người phải thi hành án còn nhiều bấp cập:
Ba là, hoàn thiện các quy định về cơ chế phối hợp tổ chức
THADS đối với doanh nghiệp.
3.2.2. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác thi
hành án dân sự
Việt Nam là một nước nghìn năm văn hiến, văn minh lúa
nước, một đất nước có lịch sử lâu đời nhưng cũng là đất nước chịu sự
đô hộ của nhiều quốc gia trong nhiều năm liền. Do vậy, tâm lý chống

21


đối pháp luật đã phần nào ăn sâu, bám rễ trong nhận thức của mỗi
người dân. Trong khi đó, hoạt động thực thi pháp luật nói riêng và
pháp luật nói chung còn nhiều hạn chế, bất cập; thủ tục hành chính
rườm rà, phức tạp, chồng chéo và kém hiệu quả.
3.2.3. Nâng cao năng lực của chấp hành viên, thừa phát lại

22


thuộc phối hợp với cơ quan THADS xác minh tài sản của doanh
nghiệp, vận động doanh nghiệp tự nguyện thi hành án hoặc cỡng chế
thi hành nếu doanh nghiệp cố tình chây ỳ, trốn tránh việc thực hiện
nghĩavụ thi hành án của mình.
Thứ ba, cần chỉ đạo xây dựng, bổ sung các quy chế phối hợp
liên ngành giữa cơ quan THADS và các cơ quan hữu quan trong giải
quyết thi hành án dân sự. Tổng kết hoạt động THADS hàng quý hàng
năm để phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực để hoạt
động THADS đối với doanh nghiệp đạt kết quả tốt nhất.
Kết luận chương 3
1. Nâng cao hiệu quả THADS đối với doanh nghiệp là nhiệm
vụ trọng tâm, quan trọng của công tác cải cách tư pháp mà định
hướng của các giải pháp này nhất thiết phải dựa trên quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Đây là tiêu
chí, là mục tiêu quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước Việt
Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân.
2. Thành phố Hải Phòng là thành phố cảng, có vị trí và tầm
quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của miền Bắc và của cả
nước. Với các đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội khác biệt với các
địa phương khác trong cả nước đòi hỏi hoạt động THADS nói chung
và hoạt động THADS nói riêng đối với doanh nghiệp nói riêng trên
địa bàn thành phố Hải Phòng phải có những định hướng phù hợp, rõ
ràng và hết sức thận trọng.

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status