BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------
BÙI HƯƠNG DUNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG
VÀ NGHỆ THUẬT THƠ BÙI VĂN DỊ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hoa Lê
1
1
HÀ NỘI, NĂM 2016
Luận văn được hoàn thành tại
Trường Đại học sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hoa Lê
TT Họ và tên, học hàm, học vị
1
2
3
4
5
2
2
MỞ ĐẦU
1.
1.1.
Lý do chọn đề tài
Lý do khoa học
Tác giả văn học là người sáng tạo ra những giá trị văn học, là người đưa ra ý
kiến, quan điểm của mình về cuộc đời thông qua những văn bản ngôn từ, đặc biệt là
tác phẩm văn học. Vì vậy, việc nghiên cứu về các tác giả và tác phẩm của họ là vô
cùng quan trọng, nhất là những tác giả và tác phẩm văn học chưa được phổ biến rộng
rãi.
Thơ văn nửa sau thế kỉ XIX có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình văn
học Việt Nam. Các tác gia đã làm cho văn học nửa sau thế kỷ XIX hiện lên một cách
phong phú, đa dạng và chân thực. Bên cạnh những tên tuổi như Nguyễn Đình Chiểu,
Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương còn có rất nhiều những tác gia
khác. Ở luận văn này, chúng tôi sẽ đề cập đến một trong những tác giả ấy, đó là nhà
thơ Bùi Văn Dị.
Bùi Văn Dị thường được biết đến là một vị quan thanh liêm, chính trực, hết
lòng vì nước, vì dân, nhưng đồng thời cũng là một nhà thơ yêu nước nửa sau thế kỷ
XIX – thời kỳ đầy biến động của dân tộc. Số lượng tác phẩm Bùi Văn Dị tương đối
lớn (gần 600 bài) và mới chỉ được nghiên cứu ở mức độ khái quát ngắn gọn hoặc đi
vào cụ thể từng tập thơ mà chưa bao quát được toàn bộ hệ thống tác phẩm. Vì vậy,
việc nghiên cứu nội dung và nghệ thuật trong thơ ông sẽ có nhiều đóng góp vào sự
nghiệp nghiên cứu văn học trung đại nước nhà, cho thấy rõ sự phong phú của kho
tàng văn học nghệ thuật dân tộc.
-
Giáp.
Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh, Bùi Văn Dị - Nhà thơ yêu nước thế kỉ
-
XIX, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 17 của Nguyễn Văn Huyền.
Di sản Hán Nôm Việt Nam – thư mục đề yếu của Trần Nghĩa và Francois Gros.
Thơ đi sứ của Phạm Thiều và Đào Phương Bình.
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế.
Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của Trịnh Khắc Mạnh.
Từ điển văn học của Đỗ Đức Hiểu.
Các luận văn:
-
Luận văn Thạc sĩ Khảo cứu văn bản “Du hiên thi thảo” của Bùi Văn Dị của Phạm
-
Thị Gái.
Luận văn Thạc sĩ Khảo sát văn bản và nghiên cứu giá trị “Tốn Am thi sao” của Bùi
-
Văn Dị của Nguyễn Văn Trung.
Luận văn Thạc sĩ Khảo sát văn bản và nghiên cứu giá trị tập thơ “Vạn lý hành
-
chuyên ngành Hán Nôm, hơn nữa đều ở mức lẻ tẻ từng tập thơ chứ chưa bao quát được
toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông.
Có thể khẳng định, đề tài Nghiên cứu đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ
Bùi Văn Dị là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể về đặc điểm nội
dung và nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị.
3.
3.1.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu nội dung và nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị, luận văn
góp phần khẳng định vai trò, vị trí của thơ Bùi Văn Dị trong văn học nửa sau thế kỷ
XIX và trong toàn bộ nền văn học dân tộc.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích và tiến hành so sánh đặc điểm nội
dung, nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị với các nhà thơ khác đồng thời đưa ra những đánh
giá khách quan về giá trị thơ Bùi Văn Dị..
4.
4.1.
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
5
5.3.
Phương pháp so sánh văn học
5.4.
Thao tác thống kê, phân loại
6.
Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Tiền đề lịch sử và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị.
Chương 2: Đặc điểm nội dung thơ Bùi Văn Dị.
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị.
CHƯƠNG 1:TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ
VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG BÙI VĂN DỊ
1.1.
Tiền đề lịch sử
6
Nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạn diễn ra đầy những biến động lớn về mọi mặt.
Chính trị, kinh tế, văn hóa thời kỳ này gắn liền với cuộc chiến tranh xâm lược của
thực dân Pháp và cuộc chiến đấu anh dũng chống kẻ thù, điều này ảnh hưởng sâu sắc
đến nền văn học của dân tộc.
vào sự nghiệp văn học dân tộc.
Sự nghiệp văn chương
Ông để lại nhiều tập thơ bằng chữ Hán như Vạn lí hành ngâm (Thơ về chuyến
đi vạn dặm), Du hiên thi thảo (Bản thảo tập thơ viết ra trên chiếc xe nhẹ), Tốn Am
thi sao (Thơ của Tốn Am), Tốn Am thi thảo (Bản thảo tập thơ Tốn Am), Du hiên tùng
bút (Tập tùy bút làm trên chiếc xe nhẹ), Trĩ Chu thù xướng tập (Tập xướng họa ở Trĩ
7
Chu),... Hơn nữa, ông còn là đồng tác giả bộ sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ
kỷ.
Sự nghiệp văn chương của Bùi Văn Dị khá đồ sộ với nhiều tập thơ, văn khác
nhau in cả ở Việt Nam và Trung Quốc. Thơ ông được nhiều người đánh giá cao như
Trần Lê Văn, Vi Dã lão nhân, Nhị phẩm Tú chính đại phu Nghê Mậu Lễ, Tiến sĩ
Long Văn Bân, Hậu học Lư giang Văn Đào tử Bùi Hữu Tạo,…
Tiểu kết chương 1:
Ở chương 1, chúng tôi đã thực hiện được những công việc như sau:
Khái quát những vấn đề thời về thời đại (kinh tế - chính trị, văn hóa, văn học) có
vai trò làm tiền đề hình thành và phát triển sự nghiệp văn chương của Bùi Văn Dị. Nửa
cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Bắc Kỳ, triều đình nhà Nguyễn bộc lộ
rõ sự bất lực trước quân giặc. Văn hóa có sự giao thoa giữa phương Đông và phương
Tây, tạo nên một xã hội lố lăng. Chính trị - kinh tế, văn hóa như vậy đã tác động mạnh
mẽ đến nền văn học nước nhà. Văn học…
Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Văn Dị. Bùi Văn Dị là một con người
hiếu học, thông minh, nhiều kinh nghiệm, luôn mong muốn dốc hết sức mình để đền ơn
vua, trả nợ nước. Ông làm nhiều chức quan lớn nhỏ khác nhau nhưng dù ở cương vị nào
thì ông cũng hết lòng cống hiến, ngay cả khi tuổi đã xế chiều ông vẫn không thôi ước
muốn ấy. Sự nghiệp chính trị và con đường văn chương gắn liền với lịch sử đầy biến
động của nước nhà. Tài năng văn chương của ông cũng được nhiều người cả Việt Nam
lẫn Trung Quốc phải công nhận.
dân. Tuy nhiên, lúc nào ông cũng cảm thấy xấu hổ vì tài năng của bản thân không đủ
để cứu dân, cứu nước. Sự mâu thuẫn giữa khát vọng và khả năng đã gây ra bi kịch.
(Lễ vi thí viên tác thị đồng sự; Thư sự; Canh Dần xuân, tương nhập đô lưu giản chư
thân hữu …)
Có thể thấy, Bùi Văn Dị là một con người luôn giữ trọn đạo vua tôi và nỗ lực
cống hiến sức mình cho đất nước, cho dân tộc. Cũng vì vậy mà ông luôn mang trong
mình nỗi thẹn “quốc ân vị báo”, ông luôn trách mình chưa làm được nhiều để báo đáp
ơn vua. Ông thật sự là một bậc trung thần, một sĩ phu yêu nước sâu sắc cuối thế kỷ
XIX. Qua đó cũng cho thấy tư tưởng trung quân “ưu quốc” là phương tiện thể hiện
tinh thần yêu nước của quân và dân ta, đặc biệt là khi dân tộc trở thành món mồi hấp
dẫn của bọn thực dân Pháp.
2.2.2. Ca ngợi con người tài đức
Tấm lòng trung quân “ưu quốc” của Bùi Văn Dị còn thể hiện ở sự ngưỡng mộ
và ca ngợi của ông đối với những người tài đức.
9
Bùi Văn Dị luôn đề cao tài năng con người, trong đó có tài năng văn chương.
Điều đó giống với nhiều tác gia ở những thế kỷ trước. Có thể do yếu tố thời đại mà
ông đặc biệt đề cao tài năng quân sự của các vị tướng lĩnh.
Bên cạnh việc chú ý đến phương diện tài năng, ông còn rất đề cao vẻ đẹp nhân
phẩm. Ông luôn tôn trọng những con người có phẩm chất tốt đẹp.
Nội dung ca ngợi con người tài đức được thể hiện qua một số bài thơ như Tặng
Hiệp đốc Tôn Thất; Yết tiên hiền Tử Cống từ; Ức Vân Lộc Nguyễn tiên sinh; …
Với Bùi Văn Dị, những con người tài đức luôn cần được tôn vinh. Ông coi họ
là những tấm gương sáng, cần phải noi theo để giữ trọn được tấm lòng trung quân
“ưu quốc” của mình.
2.2.3. Khát vọng đất nước độc lập, thái bình
Khát vọng đất nước độc lập thái bình chính là lẽ sống của Bùi Văn Dị. Cả cuộc
đời ông luôn mang trong mình khát vọng cháy bỏng ấy.
như Hải Nông biệt thự ngẫu đề; Thu nhật thôn cư; Tảo khởi…
2.2.2. Tình cảm riêng tư
Tình cảm riêng tư của Bùi Văn Dị thể hiện qua mối quan hệ của ông vợ, với
anh em và bạn bè. Dù với ai, ông cũng hết lòng yêu thương họ.
Nội dung này được thể hiện qua một số bài thơ như Tống đệ Cát Trai chi
Quảng Yên hậu bổ; Trung thi đối nguyệt, điệu vong từ; Điệp vận phụng đáp Bồng
Hải đô chuyển;…
2.2.3. Nỗi niềm hoài cổ và tâm sự cô đơn
Tâm lý hoài cổ của Bùi Văn Dị được thể hiện qua hàng loạt những bài thơ vịnh
sử, những bài nói về những chuyện, những nhân vật của quá khứ như Xích Bích hoài
cổ ; Thuận An chu thứ trướng nhiên hữu hoài; Thất nguyệt vọng dã phiếm chu Tây
Hồ; Thượng tị vũ hậu độ trăn Vị; Đăng Hoàng Hạc lâu;… Hoài cổ trong thơ ông một
mặt thể hiện sự chiêm nghiệm cuộc đời, một mặt thể hiện sự hiểu biết, một mặt khác
lại thể hiện khát vọng về một đất nước thái bình, yên ấm.
Bên cạnh nỗi niềm hoài cổ, thơ Bùi Văn Dị còn ẩn chứa cả tâm sự cô đơn thầm
kín. Tâm sự cô đơn ấy thể hiện qua rất nhiều những bài thơ mang cảm hứng đăng cao
như Đăng Dục Thúy sơn lưu đề; Đăng Long Đội sơn đề tự bích; Đăng Hồi Hạc sơn
lưu đề; Đăng Tam Tằng sơn; Đăng Bàn A sơn cảm; Đăng độc Tú Sơn; … Cảm hứng
đăng cao trong thơ ông không phải để khẳng định tài năng, bản lĩnh hay khí phách
của mình như trong thơ Đường, cũng không phải chỉ là một phương thức tiếp cận
không gian, chiếm lĩnh không gian, mở rộng tri thức mà còn là phương tiện để ông
thể hiện được khát vọng được sống trong hòa bình, trong mối quan hệ thống nhất
11
giữa con người và vũ trụ. Qua đó thể hiện tâm hồn phóng khoáng, yêu thiên nhiên
đồng thời thể hiện một cách sâu sắc tâm sự cô đơn của nhà thơ.
Tâm sự cô đơn của thi sĩ bắt nguồn từ tâm trạng của một người con xa xứ.
Điều đó được thể hiện qua những bài thơ như Thâm dạ văn cầm; Tương phàm dạ bạc
3.1. Thể thơ
Bùi Văn Dị thường chọn luật thi để sáng tác (91,7%), trong đó chủ yếu là thất
ngôn. Số lượng bài cổ phong chiếm không nhiều (8,3%), chủ yếu là ngũ ngôn trường
thiên.
Thể thơ
Tên tập thơ
Số lượng bài
trong tập thơ
Luật thi
Thất
Ngũ
ngôn
ngôn
31
10
Cổ phong
Thất Ngũ Tạp
ngôn ngôn ngôn
1
0
1
Tốn Am thi sao
43
Vạn lý hành ngâm
23
7
0
3
0
Tổng:
133
96
26
3
7
1
3.1.1. Luật thi
Thể thất ngôn:
Phần lớn văn bản ở bốn tập thơ của Bùi Văn Dị được viết theo thể thất ngôn
bát cú này, ví như Thất nguyệt sư hành quá Nam Xang dạ túc; Đăng Nhạc Dương
lâu; Quá Chương Hà điếu Ngụy Vũ đế; Hoàng Xá trú thứ tức sự tứ vịnh; Giải muộn;
họa vận. Lối họa vận được dùng phổ biến trong thơ xướng họa và chỉ có trong thơ
luật Đường. Nhưng Bùi Văn Dị khác ở chỗ, ngoài thơ luật Đường (Gia Ngư điếu Kim
Trung Tiết Công hoạ tác; Chiết đắc hồng bạch đào hoa các nhất chi thi dĩ thưởng chi
hoạ tác; Điệp vận phụng đáp Bồng Hải đô chuyển…), ông còn sử dụng cả cổ phong
để làm thơ xướng họa (Công ái thính tuyết hữu cảm hoạ tác; Đại Phong đăng Lữ
Tiên đình phóng ca hoạ tác…). Số lượng thơ xướng họa viết theo thể cổ phong tuy
không nhiều nhưng qua đó có thể thấy Bùi Văn Dị luôn sáng tạo trong việc cầm bút
đề thơ. Hơn nữa, việc sử dụng thể cổ phong còn cho thấy tâm hồn phóng khoáng, ưa
tự do của thi sĩ Ân Niên. Những bài thơ xướng họa của ông thường nghiêng về đề tài
ngâm vịnh phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ hoặc tình cảm con người chứ không chú ý
đến những cụm đề tài truyền thống như cây hoa quý (tùng, cúc, trúc, mai) hay những
con vật thiêng (long, ly, quy, phượng)… Có thể thấy, việc lựa chọn cách làm thơ của
14
các tác giả có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện tài năng và quan niệm sống của
họ.
Qua việc khảo sát và phân tích một số bài luật thi và cổ phong, chúng tôi thấy
rằng ở các bài luật thi, Bùi Văn Dị luôn tuân thủ những quy định nghiêm ngặt của thể
loại, còn ở các bài cổ phong, ông cũng tận dụng hết những ưu điểm của thể loại để
thể hiện tâm hồn và tư tưởng của mình. Việc sử dụng linh hoạt các thể thơ và sự kế
thừa, sáng tạo trong lối thơ xướng họa cho thấy Bùi Văn Dị không chỉ nắm chắc luật
thơ, cách làm thơ mà còn luôn có ý thức đổi mới thơ ca, qua đó khẳng định được tài
năng văn chương và tâm hồn phóng khoáng cùng khát vọng tự do của tác giả.
3.2. Nghệ thuật đối
Bốn tác phẩm Tốn Am thi sao, Du hiên thi thảo, Vạn lý hành ngâm và Trĩ Chu
thù xướng tập của Bùi Văn Dị có số lượng thơ Đường luật rất lớn. Hầu hết bài thơ
nào cũng có sử dụng phép đối, trong đó có 47 lượt đối một liên (2 câu) và 45 lượt đối
hai liên (đối chỉnh – 4 câu). Nhưng nếu chỉ dừng ở phép đối một liên hay hai liên
thường gặp như trong thơ Đường luật (xuất hiện ở liên một của thất ngôn tứ tuyệt,
người ta còn phân thành thành hai loại: công đối (đối chỉnh) và khoan đối (đối không
chỉnh). Trong văn chương cử nghiệp, công đối là quy định nghiêm ngặt; còn trong
thơ ca, các tác giả thường sử dụng linh hoạt cả hai kiểu đối này. Đặc biệt, Bùi Văn Dị
sử dụng nghệ thuật đối rất linh hoạt và sáng tạo, có khi đối ở liên một, liên một – hai,
một – ba, có khi đối cả ở ba liên; lúc phá bỏ những quy phạm của thơ Đường luật, lúc
lại dùng quy phạm của Đường luật để viết cổ phong. Việc sử dụng đối trong cổ phong
và không dùng đối trong luật thi phải chăng chính là tâm trạng và suy nghĩ đầy mâu
thuẫn của Bùi Văn Dị, một mặt muốn phá bỏ những quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt
của thơ ca, của thời đại, nhưng một mặt lại muốn giữ gìn những yếu tố ấy. Điều này
giống với thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, khi mà thực dân Pháp đang cố
gắng đưa văn hóa phương Tây vào nước ta. Con người vừa muốn giữ gìn những nét
truyền thống vừa muốn tiếp thu văn minh hiện đại, tạo nên những mâu thuẫn trong tư
tưởng. Những yếu tố đặc biệt về thể thơ cũng cho thấy sự mâu thuẫn tư tưởng ấy
đồng thời thể hiện sự phá cách trong hồn thơ Bùi Văn Dị.
3.3. Ngôn ngữ thơ
3.3.1. Điển cố
Số lượng bài luật thi trong sáng tác của Bùi Văn Dị chiếm phần lớn nhưng
trong 133 bài thơ được khảo sát, không phải bài nào cũng xuất hiện điển (điển cố
16
xuất hiện 44 lần), trong đó chủ yếu là điển Nho, ngoài ra còn có một số điển Phật và
Lão – Trang. Điều này có thể lý giải bởi nguyên nhân thời đại lịch sử, lúc này văn
học vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của Đường thi nhưng đã bước vào giai đoạn giao thời,
có nhiều chuyển biến, sáng tạo mới. Tuy vậy, Bùi Văn Dị cũng sử dụng nhiều điển
khác nhau, làm cho thơ văn ông trở nên sâu sắc hơn. Chúng là một trong những
phương tiện để ông gửi gắm tâm sự của mình.
Ông sử dụng những điển tích, điển cố theo hai cách mà thi nhân xưa thường
làm. Cách thứ nhất là dùng điển.
Việc dùng điển, lấy chữ tạo ra tính hàm súc (lời ít, ý nhiều) cho câu thơ, bài thơ.
hoạt động của tác giả như Tống đệ Cát Trai chi Quảng Yên hậu bổ; Đáp phục Ngư
đường Phạm tham quân (Hy Lượng) Sơn thành tịch thoại; Công ái thính tuyết hữu
cảm hoạ tác; … Thứ hai là kiểu nhan đề xác định thời gian, không gian như Quá
Chương Hà điếu Ngụy Vũ đế; Thập nguyệt vọng dạ lưu bạc hạ quan ngẫu cảm hàn
phong mạn phú; Mậu Tý trùng cửu dữ trương kinh triệu, cúc viên Công (Quang
Đản) tài tửu phiếm chu; Cửu nguyệt đắc thỉnh quy tỉnh thứ vận Bùi các lão (Hữu
Tạo) tống biệt, tức Dĩ Lưu Giản; … Thứ ba là kiểu nhan đề xác thực trạng thái, tâm
trạng của tác giả như Quá Ân cố đô cảm tác; Chính nguyệt thập ngũ dạ bạc chu
tương âm hữu cảm; Ức Vân Lộc Nguyễn tiên sinh; Thời trị binh hậu, mễ quý thực
gian, tam kính qui lại nhất bần như tẩy cảm thành tiểu luật, liêu dí tự trào;…
Việc đặt tên tiêu đề theo lối thơ kỷ sự cũng phần nào định hướng nội dung bài
thơ. Thơ Bùi Văn Dị có tính tự sự rất cao. Ông ít làm những bài thơ giáo huấn, ca
ngợi vẻ đẹp mang tính ước lệ mà hướng đến hiện thực đời sống đang diễn ra. Nhiều
bài thơ bộc lộ rõ nét cảm xúc nhưng lại chứa đựng những thông tin mang tính lịch sử
đáng tin cậy. Điều này một mặt khẳng định khả năng phản ánh hiện thực của thơ ca
nhưng một mặt, đôi khi lại làm cho bài thơ trở nên khô khan, không mang lại nhiều
cảm xúc cho người đọc.
Tiểu kết chương 3:
Ở chương 3, chúng tôi đã khảo sát và phân tích bốn khía cạnh về phương diện
nghệ thuật. Bùi Văn Dị sử dụng rất nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau về ngôn
ngữ, thể thơ và các nghệ thuật mang tính quy phạm và bất quy phạm trong văn học
trung đại. Ông sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như cổ phong, Đường luật với kiểu
18
thất ngôn, ngũ ngôn, thậm chí cả lục ngôn. Ông cũng sử dụng rất nhiều điển tích điển
cố làm cho câu thơ, bài thơ trở nên sâu sắc và mang âm hưởng hoài cổ. Điều đó càng
chứng tỏ vốn hiểu biết về văn hóa sâu rộng của ông. Bên cạnh đó, nghệ thuật đối
cũng được ông đưa vào tác phẩm của mình một cách điêu luyện, tinh tế đảm bảo tính
quy phạm chặt chẽ của thơ ca trung đại. Đặc biệt, trong một số trường hợp, ông sử
chúng tôi vẫn nhận ra rằng ông là một tâm hồn đẹp, đúng như GS. Nguyễn Đình Chú đã
nhận xét: “Cụ nghè Bùi Văn Dị...là trường hợp có cái đẹp từ cuộc đời đẹp đến văn
chương một cách dễ thấy. Cụ thông minh, học giỏi, thi đậu đến tiến sĩ, là đẹp. Cụ làm
quan, được cử làm Chánh sứ đi sứ Trung Hoa, được người Trung Hoa kính nể, là đẹp.
Cụ có tinh thần yêu nước và đã trực tiếp đánh giặc cứu nước, là đẹp. Nước mất, một thời
cụ rút lui về ở ẩn để giữ lấy cai thanh cao trong nghèo đói, cũng là đẹp... (Trích trong bài
Văn chương Bùi Văn Dị (những cảm nhận ban đầu).
2. Nghệ thuật trong thơ Bùi Văn Dị cũng là một yếu tố cần được chú ý. Ông sử
dụng nhiều thể loại khác nhau như cổ phong, Đường luật,phú, hành, thậm chí cả thơ
sáu chữ. Thể nào cũng tinh tế và hấp dẫn. Về mặt ngôn ngữ, ông sử dụng nhiều điển
tích, điển cố và đạt hiệu quả cao. Việc dùng điển khiến cho câu thơ trở nên sâu sắc,
thâm thúy, yêu cầu người đọc người nghe cũng phải có một vốn hiểu biết nhất định.
Bên cạnh đó, ông còn sử dụng một số từ láy có sức gợi hình, gợi cảm cao mặc dù
việc sử dụng từ láy trong văn học viết bằng chữ Hán là rất khó. Điều này cho thấy tài
năng ngôn ngữ của ông đã đạt đến mức điêu luyện. Ngoài sử dụng ngôn ngữ nghệ
thuật, ông còn thành thạo trong việc đảm bảo tính quy phạm chặt chẽ trong thơ trung
đại, nhất là những bài Đường luật. Nổi bật chính là việc sử dụng nghệ thuật đối. Thơ
ông tồn tại rất nhiều những cặp đối, dù là công đối hay khoan đối thì cũng đều có sức
truyền cảm sâu sắc. Đọc thơ ông người ta nhận thấy sự thuần thục trong việc sử dụng
ngôn ngữ, trong sáng tạo nghệ thuật. Các sử quan triều Nguyễn đánh giá ông là một
bậc “Học thức am luyện” cũng vì như thế. Tiến sĩ Long Văn Bân (Trung Quốc) nói
Bùi Văn Dị tài thơ mẫn tiệp không ai bằng, khi tiếp xúc với Bùi Văn Dị thấy thơ ông
đầy cảm hứng chứ khó có thể là một vị cầm đầu một sứ bộ ngoại giao. Điều này có
thể chứng minh qua toàn bộ tác phẩm của ông. Những tác phẩm ấy vừa thể hiện một
20
tâm hồn nhạy cảm, một chí nam nhi đồng thời cũng thể hiện tài năng nghệ thuật hơn
người của thi sĩ làng Châu Cầu.