Tìm hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong thơ Bùi Văn Dị - Pdf 38

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
1.
1.1.

Lý do chọn đề tài
Lý do khoa học
Tác giả văn học là người sáng tạo ra những giá trị văn học, là người đưa
ra ý kiến, quan điểm của mình về cuộc đời thông qua những văn bản ngôn từ,
đặc biệt là tác phẩm văn học. Vì vậy, việc nghiên cứu về các tác giả và tác
phẩm của họ là vô cùng quan trọng, nhất là những tác giả và tác phẩm văn
học chưa được phổ biến rộng rãi.
Thơ văn nửa sau thế kỉ XIX có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến
trình văn học Việt Nam. Các tác gia đã làm cho văn học nửa sau thế kỷ XIX
hiện lên một cách phong phú, đa dạng và chân thực. Bên cạnh những tên tuổi
như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương
còn có rất nhiều những tác gia khác. Ở luận văn này, chúng tôi sẽ đề cập đến
một trong những tác giả ấy, đó là nhà thơ Bùi Văn Dị.
Bùi Văn Dị thường được biết đến là một vị quan thanh liêm, chính trực,
hết lòng vì nước, vì dân, nhưng đồng thời cũng là một nhà thơ yêu nước nửa
sau thế kỷ XIX – thời kỳ đầy biến động của dân tộc. Số lượng tác phẩm Bùi
Văn Dị tương đối lớn (gần 600 bài) trong khi mới chỉ được nghiên cứu ở mức
độ khái quát ngắn gọn hoặc đi vào cụ thể từng tập thơ mà chưa bao quát được
toàn bộ hệ thống tác phẩm. Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung và nghệ thuật
trong thơ ông sẽ có nhiều đóng góp vào sự nghiệp nghiên cứu văn học trung
đại nước nhà, cho thấy rõ sự phong phú của kho tàng văn học nghệ thuật dân
tộc.

Bùi Văn Dị trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam [6].
Năm 1981, trong cuốn Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh
[11], Nguyễn Văn Huyền giới thiệu sơ lược về cuộc đời Bùi Văn Dị và tuyển
dịch, giới thiệu 17 bài thơ trong tập Du hiên thi thảo và 4 bài trong tập Tốn
Am thi sao. Đến năm 1993, trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 17
[12], ông tiếp tục giới thiệu sơ lược về tiểu sử Bùi Văn Dị (sinh năm 1831,
không rõ năm mất) và phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ 10 bài trong Du Hiên
thi thảo và 1 bài trong Tốn Am thi sao.
Năm 1993, trong Di sản Hán Nôm Việt Nam – thư mục đề yếu [25], Trần
Nghĩa và Francois Gros đã giới thiệu về Bùi Văn Dị với các bút danh cùng
sáng tác của ông.
Cũng trong năm này, cuốn Thơ đi sứ do Phạm Thiều và Đào Bình
Phương đã giới thiệu tên tự, tên hiệu và quê quán của Bùi Văn Dị, đồng thời
tuyển dịch 6 bài thơ được làm trong thời gian đi sứ.
Năm 1997, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (In lần thứ tư) [32],
Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế nói Bùi Dị, cũng gọi là Bùi Văn Dị,
3


sinh năm 1832, không rõ năm mất, khái quát về tên tự tên hiệu và sự nghiệp
làm quan. Tác giả dẫn bài thơ “Nhị nguyệt, thập cửu, nhị thập liên nhật quan
quân dữ tha giao chiến” (Liền hai ngày 19 và 20 tháng hai, quan quân giao
chiến với địch) của tập Du Hiên thi thảo.
Năm 2002, trong cuốn Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam
[23], Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu về tên tự và tên hiệu của Bùi Văn Dị: Ân
Niên, Châu Giang, Du Hiên, Hải Nông và Tốn Am. Trong phần giới thiệu về
tên hiệu Tốn Am, Trịnh Khắc Mạnh nêu vài nét về các giai đoạn làm quan và
tên 7 tập thơ do Bùi Văn Dị sáng tác (Du hiên thi thảo, Du hiên thi tự, Du
hiên thi, Du hiên tùng bút, Đại châu sứ bộ xướng thù, Tốn Am thi sao, Vạn lý
hành ngâm), ông tham gia biên soạn sách Trĩ Chu thù xướng tập và bình

này.
Trong các luận văn này, ngoài việc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp
Bùi Văn Dị, các tác giả còn lựa chọn thiện bản các tập thơ. Việc lựa chọn
thiện bản của một tác phẩm văn học có ý nghĩa rất lớn và đặc biệt có ích đối
với hoạt động nghiên cứu nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó.
2.2.

Công trình nghiên cứu về giá trị văn chương Bùi Văn Dị
Công trình của các học giả:
Năm 1993, cuốn Thơ đi sứ [35] đánh giá cao thơ văn Bùi Văn Dị, khẳng
định “Thơ Bùi Văn Dị làm khi đi sứ tiêu biểu cho tâm sự của một số sĩ phu
lúc bây giờ. Đó là tâm sự buồn u ẩn trong khi nước mất mà mình bất lực…
Thơ Bùi Văn Dị giàu cảm xúc. Nhiều bài độc đáo về mặt diễn tả”.
Năm 1995, trong cuốn Bùi Văn Dị - Nhà thơ yêu nước thế kỉ XIX [13]
Nguyễn Văn Huyền đã nhận xét rằng: ông có một “cuộc đời hiển hách nhưng
cũng trĩu ưu tư, sầu muộn; một năng lực thi ca uẩn súc và tài hoa”[tr10]. Giáo
sư sử học Đinh Xuân Lâm cũng nhận xét về “Những bài thơ sáng tác trong
thời gian ra Bắc tham gia chống Pháp thể hiện tình yêu nước thiết tha, nỗi
quan hoài lớn lao trước thời cuộc và quyết tâm sắt đá của văn thân họ Bùi
muốn đóng góp cho công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc” [tr6]. Trần Lê Văn
không ngần ngại nói: “Thơ Bùi Văn Dị là một hợp lưu trong dòng văn học
yêu nước. Đó cũng là một cây đàn có nhiều cung bậc phong phú. Có dáng
5


mây bay, có tiếng suối chảy, có giọng bình văn dịu êm, có tiếng gươm khua
hùng tráng. Có tiếng phẫn nộ với kẻ thù, có lời âm thầm tự trách. Có vần thơ
tâm sự với non sông, có vần thơ thủ thỉ xót thương với người bạn đời đã
khuất…” [tr38]. Tuy Lý quận vương Vi Dã lão nhân từng nhận xét về tập thơ
bao trùm cả đời thơ Bùi Văn Dị (Tốn Am thi sao) rằng: “ý thơ trầm lắng mà

thuật của tập thơ.
Năm 2013, Nguyễn Văn Trung, trong luận văn Thạc sĩ Khảo sát văn bản
và nghiên cứu giá trị “Tốn Am thi sao” của Bùi Văn Dị, đã giới thiệu về cuộc
đời và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị, đồng thời công trình cũng nghiên
cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của Tốn Am thi sao.
Năm 2014, Nguyễn Thị Thúy Hương, trong luận văn Thạc sĩ Khảo sát
văn bản và nghiên cứu giá trị tập thơ “Vạn lý hành ngâm” của Bùi Văn Dị,
đã giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị, đồng thời
công trình nghiên cứu cụ thể giá trị nội dung và nghệ thuật của Vạn lý hành
ngâm.
Năm 2014, Nguyễn Thị Thư, trong luận văn Thạc sĩ Khảo cứu văn bản
“Trĩ Chu thù xướng tập” của Bùi Văn Dị, đã giới thiệu về cuộc đời và sự
nghiệp văn chương Bùi Văn Dị, đồng thời có tìm hiểu cụ thể nội dung và
nghệ thuật của tập thơ.
Tổng hợp các công trình nghiên cứu trên đây, chúng tôi thấy rằng, có
nhiều công trình đề cập đến Bùi Văn Dị nhưng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu
tên, quê quán, ngay cả năm sinh năm mất cũng chưa rõ ràng, không thống
nhất; giới thiệu tên một số tập thơ, văn. Số lượng công trình nghiên cứu giá trị
thơ văn ông không nhiều và chủ yếu ở chuyên ngành Hán Nôm, hơn nữa đều
ở mức lẻ tẻ từng tập thơ chứ chưa bao quát được toàn bộ sự nghiệp văn
chương của ông.
Có thể khẳng định, đề tài Nghiên cứu đặc điểm nội dung và nghệ
thuật thơ Bùi Văn Dị là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể về
đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị.
3.
3.1.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu


4.1.

-

Những đặc điểm về nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật

được sử dụng trong thơ Bùi Văn Dị.
-

Một số vấn đề về cuộc đời của Bùi Văn Dị, nhất là những yếu tố ảnh hưởng
đến quan niệm sáng tác của ông.

4.2.

Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Chúng tôi kết hợp phần văn bản trong các tài liệu sau:
71 văn bản thơ trích dịch từ Tốn Am thi sao, Vạn lý hành ngâm, Du hiên
thi thảo trong tài liệu số 13.
6 văn bản thơ trích dịch từ các tập thơ làm khi đi sứ trong tài liệu số 35.
32 văn bản thơ được trích dịch từ Du hiên thi thảo trong tài liệu số 4.
26 văn bản thơ được trích dịch từ Tốn Am thi sao trong tài liệu số 38.
31 văn bản thơ được trích dịch từ Vạn lý hành ngâm trong tài liệu số 10.
21 văn bản thơ được trích dịch từ Trĩ Chu thù xướng tập trong tài liệu số
37.

8


Trong năm tài liệu này, có những văn bản trùng nhau, sau khi thống kê,

Thao tác thống kê, phân loại
Chúng tôi sử dụng phương pháp trong một số trường hợp cụ thể khi cần
khảo sát một đặc điểm nào đó về nội dung hoặc nghệ thuật của thơ Bùi Văn
Dị.

6.

Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tiền đề lịch sử và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị
Chương 2: Đặc điểm nội dung thơ Bùi Văn Dị
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị

9


10


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
BÙI VĂN DỊ
Tiền đề lịch sử

1.1.

Nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạn diễn ra đầy những biến động lớn về
mọi mặt. Chính trị, kinh tế, văn hóa thời kỳ này gắn liền với cuộc chiến tranh

diệt giặc, ra lệnh bãi binh, giải tán các đội dân binh để thương lượng với Pháp
kí Hiệp ước Giáp Tuất (15/03/1874). Pháp nghiễm nhiên thoát khỏi thế bị tiêu
diệt. Đây là Hiệp ước bất bình đẳng thứ hai mà nhà Nguyễn ký với thực dân
Pháp, thừa nhận chủ quyền sáu tỉnh Nam Kỳ thuộc về Pháp, nền ngoại giao
nước ta cũng lệ thuộc vào đường lối ngoại giao của nước Pháp. Hiệp ước một
lần nữa chứng tỏ thái độ nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, đi ngược lại
lợi ích của nhân dân. Điều này dẫn đến việc ngày càng xuất hiện những phong
trào đấu tranh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Năm 1876, chuyến đi sứ nhà Thanh đầu tiên diễn ra kể từ khi kí Hiệp
ước Giáp Tuất năm 1874, do Bùi Văn Dị dẫn đầu sứ đoàn. Cần nói thêm, từ
lâu Pháp đã luôn nung nấu ý định xâm lược Trung Quốc. Vì vậy, cuộc đi sứ
lần này gây ra rất nhiều tranh luận, liên quan trực tiếp đến vấn đề chính trị
giữa nước ta, Pháp và Trung Hoa. Ngày 19 tháng 7 năm 1876, Rheinart (viên
chức người Pháp đại diện cho chính quyền bảo hộ ở Trung Kỳ, điều hành việc
cai trị) viết: “Sứ bộ sắp đi Trung Hoa năm nay sang bên đó không phải chỉ để
chúc mừng Thiên tử mới, mà còn để dâng những cống phẩm mà quốc vương
An Nam phải nộp cho Trung Hoa ba năm một lần, với tư cách là nước chư
hầu” [14, tr151], tức là, theo Rheinart, nước ta lúc bấy giờ tuy danh nghĩa là
một nước độc lập nhưng thực tế vẫn là nước chư hầu của Trung Hoa. Ngày 27
tháng 9 năm 1876, Kergaradec (Tổng Lãnh sự Pháp ở Bắc Kỳ) lại nêu quan
điểm khác: “Theo lời người ta nói với tôi, đây là sứ bộ mà triều đình Huế cử
sang Trung Hoa ba năm một lần, theo một thông lệ từ xưa, và không có tính
chất đặc biệt nào khác. Có thể tin đó là sự thật, vì những người được cử đi đều
là quan chức cấp thấp” [14, tr151]. Khi nói chuyện với Bùi Văn Dị,
Kergaradec cũng biết thêm rằng sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Bùi Văn Dị vẫn
phải đến thăm đại sứ Pháp nếu được sự đồng ý của các quan chức Trung Hoa
được giao việc tiếp ông. Có thể thấy, quân Pháp có phần lo ngại về chuyến đi
12





công. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết và
Nguyễn Văn Tường đưa Hiệp Hòa lên ngôi. Nhưng vị vua trẻ chủ trương hòa
bình này lại bị hai quan phụ chính ép uống thuốc độc mà chết. Hoàng tử Kiến
Phúc được đưa lên thay. Pháp chiếm Thuận Hóa rồi quyết định đánh thẳng
vào Huế, áp đặt Hiệp ước Hác – măng ngày 25 tháng 8 năm 1883 buộc triều
đình công nhận Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là đất bảo hộ của Pháp, còn
Trung Kỳ, chúng đưa Đồng Khánh lên ngôi, quản lý dưới sự điều khiển của
Pháp. Vấn đề ngoại giao, quân sự và kinh tế đều do Pháp nắm giữ. Lúc này,
Pháp chính thức biến Việt Nam thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Ngày 6 tháng 6 năm 1884, Pháp ký Hiệp ước Pa – tơ – nốt với triều đình Huế,
khẳng định sự thành công của thực dân Pháp trong việc xâm lược Việt Nam.
Lúc này, trong triều đình phân thành hai phe chủ chiến và chủ hòa, trong đó
đứng đầu phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết. Tháng 8, vua Hàm Nghi lên ngôi
đã ra Chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân cùng vua cứu nước. Từ năm 1885
đến 1913, các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế và phong trào
chống Pháp của đồng bào miền núi liên tiếp diễn ra, gây cho Pháp nhiều phen
náo loạn, quyền thế lung lay nhưng cuối cùng đều thất bại. Pháp tiến hành đợt
khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914).
Các phong trào khởi nghĩa bị Pháp đàn áp hết sức dã man, lần lượt tan
rã nhưng không thể dập tắt lòng yêu nước của dân tộc ta. Bùi Văn Dị cũng
b)

luôn nung nấu tinh thần yêu nước, khát vọng đánh đuổi quân thù.
Kinh tế
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, kinh tế nước ta chủ yếu vẫn là nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quan hệ phong kiến bóc lột lại càng làm cho nền
kinh tế không có những tiến bộ lớn. Bên cạnh đó, thủ công nghiệp và thương
nghiệp lại có những bước tiến đáng kể nhưng cũng chỉ nhằm giải quyết các

Nguyễn.
Văn hóa
Xã hội Việt Nam sau cuộc xâm lược của thực dân Pháp chính thức bắt
1.1.2

đầu chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến, gia nhập vào hệ thống thuộc
địa của chủ nghĩa đế quốc. Thực dân Pháp một mặt tiến hành vơ vét kinh tế,
một mặt lại tìm cách phá vỡ những truyền thống văn hóa nước ta, hạn chế
những ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Hơn nữa, chúng còn duy trì
15


những mặt hạn chế của chế độ phong kiến cũ, kết hợp với những cặn bã của
văn minh phương Tây để tạo nên một xã hội nửa Tây nửa Tàu, dựng lên một
xã hội lai căng nhằm dễ cai trị. Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam
theo bước chân của kẻ xâm lược nên gặp phải không ít khó khăn. Lúc này, hai
nền văn hóa Đông và Tây có sự giao tranh theo hướng lấn át của văn hóa
phương Tây.
Điều kiện in và xuất bản phát triển hơn nhưng chất lượng và tầm ảnh
hưởng của sản phẩm này ít đặc sắc, thậm chí có phần kém hơn giai đoạn
trước. Tầng lớp phong kiến có ý thức thúc đẩy các hoạt động văn hóa nhưng
đây lại là thế lực tiêu cực nên văn hóa cũng không có gì khởi sắc.
Nho giáo vẫn giữ vị trí làm quốc giáo, coi Khổng, Mạnh, Trình, Chu là
những vị thánh. Sự tôn sùng Nho học đến mức bảo thủ đã dẫn đến những hạn
chế trong giáo dục, thi cử. Học trò đi thi chỉ cần học thuộc một số đoạn cần
thiết, có sẵn, đến khi thi chế biến lại đoạn đó. Tự Đức có ý muốn thay đổi
bằng cách đưa ra đề thi mang tính thời sự nhưng cũng không cải thiện được
tình hình.
Nho giáo là quốc giáo nhưng ở giai đoạn này, Phật giáo, Đạo giáo và
một số tín ngưỡng khác cũng rất phát triển. Các vị tướng trước khi ra trận

có sự xuất hiện của đội ngũ nhà thơ trào phúng và những tác giả sáng tác bằng
chữ quốc ngữ vào những năm cuối thế kỷ.
Nửa cuối thế kỷ XIX, văn học yêu nước chống Pháp trở thành bộ phận
chủ lưu chi phối đời sống văn học của cả nước. Khác với văn học giai đoạn
trước, văn học giai đoạn này nổi bật lên chính là tính chất thời sự của nó. Văn
học trở thành tấm gương phản chiếu cuộc chiến tranh đầy bi thương đó. Con
người trong văn học vì thế cũng không còn là những tài tử giai nhân đối đầu
lại những khuôn khổ khắt khe của Nho giáo như Kim Trọng – Thúy Kiều,
không phải anh hùng tung hoành ngang dọc, cũng không phải công tử say sưa
với “chí nam nhi” mà là những con người yêu nước chống Pháp, họ chiến đấu
và hi sinh vì độc lập tổ quốc. Văn học thực sự là vũ khí chiến đấu chống giặc
thù, nổi lên với những tác giả như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn,
Nguyễn Quang Bích…

17


Khi phong trào đấu tranh chống Pháp đi vào giai đoạn cuối, văn học
phê phán, tố cáo bắt đầu phát triển mạnh và là nội dung hoàn toàn mới của
văn học giai đoạn này. Văn chương trào phúng trước đây chủ yếu phát triển ở
mảng văn học dân gian, đến lúc này trở thành bộ phận quan trọng nhất trong
văn học phê phán và tố cáo hiện thực. Xuất hiện nhiều những nhà văn, nhà
thơ trào phúng “chuyên nghiệp” như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Kép
Trà, Nguyễn Thiện Kế,… Họ cùng nhau hoàn thiện bức tranh về sự tàn lụi
của Đạo học và chế độ phong kiến với hình tượng những Tiến sĩ, những ông
quan dốt, quan tham, những kẻ hỏng thi, kẻ thất tiết,… Bộ phận văn học trào
phúng đã thúc đẩy sự xuất hiện của khuynh hướng văn học hiện thực phê
phán đầu thế kỷ XX như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng.
Bên cạnh đó, văn học cũng hướng vào việc thể hiện thế giới tình cảm
riêng tư của con người. Thơ Nguyễn Khuyến hay người bạn thân của ông là

Nam đã xuất hiện một số tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên như
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký và Thấy Lazaro Phiền
của Nguyễn Trọng Quản. Điều này cho thấy sự thoát ly dần truyền thống văn
học dân tộc của các tác giả cuối thế kỷ XIX.
Về thể loại, đây là giai đoạn văn chính luận rất phát triển, bên cạnh
hịch, chiếu, biểu, thư còn có những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ,
Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Lộ Trạch…. Nghệ thuật viết văn chính luận đã đạt
đến đỉnh cao. Tuồng, truyện thơ, hát nói vẫn tiếp tục phát triển và đạt được
nhiều thành tựu. Thơ Nôm Đường luật có những thành tựu nổi bật với các
sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Bên cạnh
đó, số lượng tác phẩm thơ Đường luật chữ Hán và cổ phong cũng không ít,
trong đó có hàng trăm sáng tác của Bùi Văn Dị.
Những vấn đề về nội dung và nghệ thuật trên đây đã tạo nên một diện
mạo văn học mới hết sức phong phú, đa dạng, đánh dấu những bức chuyển
biến từ văn học trung đại sang văn học hiện đại của dân tộc.
1.2.

Cuộc đời và sự nghiệp Bùi Văn Dị

1.2.1.

Cuộc đời và sự nghiệp chính trị
19


Bùi Văn Dị (17/05/1833 – 22/09/1895) sinh tại làng Châu Cầu, nay
thuộc phường Lương Khánh Thiện và Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà
Nam. Tổ tiên họ Bùi của ông có gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc,
phủ Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay là thành phố Hà Nội, cuối đời Lê mới
chuyển xuống đây, Bùi Văn Dị là đời thứ sáu. Đời thứ hai, kể từ khi về làng

tức là đỗ chính thức. Theo đúng nguyên tắc thời bấy giờ, khi đã “chánh trúng
cách” thì thi Đình nhất thiết phải đỗ Tiến sĩ (đỗ Tiến sĩ sẽ được hưởng lệ
“vinh quy”), trừ khi có sai phạm nghiêm trọng. Còn Bùi Văn Dị lại chỉ được
phong Phó bảng, điều này là việc chưa từng có trong lịch sử khoa cử triều
Nguyễn.
Làm quan chưa được bao lâu, năm 1867, Pháp đã đánh chiếm cả Nam
Kỳ. Sau một thời gian, ông phải về quê hộ tang. Đến năm 1872, ông được các
đại thần Bùi Tuấn1, Nguyễn Tư Giản2 vốn biết tài nhau tiến cử vào Nội các 3 tại
Kinh thành Huế.
Năm 1873, thực dân Pháp âm mưu chiếm Bắc Kỳ. Vua Tự Đức đã phái
một số quan chức người Bắc vốn thông thạo công việc, dân tình ra phối hợp
với quan lại địa phương giải quyết các vụ việc. lúc này, lực lượng quân Pháp
còn yếu nên không dám manh động, phải rút quân khỏi bốn tỉnh Bắc Kỳ. Năm
1874, Bùi Văn Dị được cử làm Án sát Ninh Bình, cùng với Bố Chính và Đặng
Văn Huấn tiếp quản.
Một năm sau, ông được triệu về kinh thăng Quang lộc tự khanh, lại
sung vào Nội các. Năm đó, triều đình mở kỳ thi Hội, thi Đình. Nguyễn Tư
Giản, Nguyễn Văn Tường được cử làm độc quyển, Trần Văn Chuẩn và Bùi
Văn Dị được cử làm duyệt quyển. Trong chế độ khoa cử trước đây, người
1 Bùi Tuấn (1808-1872), người xã Liên Bạt, huyện Sơn lãng, tỉnh Hà Nội (nay là thôn Liên Bạt, xã Liên
Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Nội), đỗ Giải nguyên khoa Canh Tý (1840). Năm 1841, ông đỗ Đệ tam giáp đồng
Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu. Sau khi đỗ, ông được cử làm Tri phủ Thụ Xuân. Năm 1848, ông về kinh và
được bổ nhiệm vào Viện tập hiền, thăng Thị giảng học sĩ. Năm 1869, ông được cử làm Tuần phủ hộ lý
Tổng đốc Ninh Thái, ít lâu sau thì mất.
2 Nguyễn Tư Giản (1823–1890) sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay
là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), trong một gia đình khoa bảng nhiều
đời, nhưng gia cảnh đã đến hồi sa sút. Ông là cháu nội danh sĩ Nguyễn Án, đồng tác giả sách Tang thương
ngẫu lục. Cha ông là Nguyễn Tri Hoàn, làm quan tới chức Lang trung bộ Hình dưới thời Minh Mạng.Ông
là một danh sĩ và là một vị quan từng trải qua những chức vụ trọng yếu suốt gần 40 năm, phục vụ 7 đời
vua nhà Nguyễn ở Việt Nam với nhiều chức vụ khác nhau. Tháng 3 năm 1887, xin từ quan, về ẩn thân dạy

Quyền Tham trị bộ Lại để hợp pháp hóa việc cử ông chấm thi. Năm 1881, ông
được lên chức đại thần, chuyển sang quản lý Nha Thương bạc chuyên giao

-

thiệp với Pháp và trông nom thuyền buôn.
Thời kỳ chống Pháp:
Năm 1882, trước khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai, dù là quan văn
nhưng Bùi Văn Dị đã dâng sớ xin triều đình đi đánh giặc. Mãi đến khi giữ
chức Khâm sai Phó Kinh lược sứ Bắc Kỳ, ông mới được trực tiếp cầm quân,
đôn đốc quan binh, phối hợp với quan lại địa phương tổ chức công tác phòng
thủ. Đây chính là thời gian mà ông được bộc lộ tinh thần yêu nước của mình
22


một cách nồng nhiệt nhất. Ông trực tiếp tham gia trận đánh vào hai ngày 19
và 20 tháng hai năm Quý Mùi (tức ngày 27 và 28 tháng 3 năm 1883). Sau trận
đánh, Bùi Văn Dị được thưởng Quân công kỷ lục hai lần và một đồng tiền
vàng đồng thời trở thành Tham tán quận thứ Bắc Ninh, phối hợp với Tổng
đốc Bắc Ninh (Trương Quang Đản) chỉ huy lực lượng quân sự tỉnh, chuẩn bị
đánh giặc.
Ngày 17 tháng 8 năm 1883, vua Tự Đức mất. Pháp tấn công Thuận An
và buộc triều đình ký Hiệp ước Quý Mùi. Đến tháng 10 năm đó, Bùi Văn Dị
được cử làm Tổng đốc Ninh – Thái nhưng ông lấy cớ bị bệnh nên từ chối, đây
cũng là hành động thể hiện sự phản ứng lại lệnh bãi binh của triều đình. Sau
khi đất nước rơi vào tay giặc Pháp, triều đình chịu cảnh cảnh “tứ nguyệt tam
vương”, tức là bốn tháng ba vua (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc).
Trong khi nhiều chí sĩ chọn cuộc sống ẩn dật, lánh đời như Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu,... thì Bùi Văn Dị vẫn dốc sức mình cống hiến
cho triều đình. Năm 1884, ông được triệu về kinh giữ chức Tả tham bộ Lại,

trọng dụng. Ông vừa làm Kinh Diên giảng quan vừa phụ đạo đại thần dạy vua
học. Mấy năm sau, ông lên chức Thượng thư bộ Lại và Phụ chính đại thần.
Chính trong dịp này, ông đã đề nghị xét lại học vị Phó bảng trước đây. Sau đó,
vua Thành Thái đã đặc cách, ban cho Bùi Ân Niên học vị Đệ tam giáp Đồng
Tiến sĩ xuất thân. Bia đá chỉ khắc duy nhất họ tên một Tiến sĩ. Đây là di vật
vô tiền khoáng hậu, chưa từng có, hiện được bảo lưu tại Văn Miếu Quốc Tử
Giám Huế. Nhiều nhà Nho lấy chuẩn mực của Bá Di, Thúc Tề mà chê trách
việc làm của ông. Nhưng ở mỗi thời đại khác nhau, chúng ta nên có cái nhìn
công bằng hơn. Trường hợp Bùi Văn Dị là hy hữu trong lịch sử khoa cử của
mọi triều đại phong kiến ở nước ta. Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam có ghi:
“Bùi Văn Dị 34 tuổi đỗ Phó bảng khoa Ất Sửu niên hiệu Tự Đức 18 (1865).
Năm Thành Thái thứ 2 (1890) ông lại thi Hội đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ”.
Còn trong bài “Những nhà khoa bảng Hà Nội thời Nguyễn được khắc trên
bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Huế” của Nhà nghiên cứu Tăng Khôi viết: “Thực ra
khoa thi này dưới triều Thành Thái không có thực, chỉ duy nhất ông Bùi Ân
Niên (Bùi Văn Dị) được vua ban đặc ân để dành bảng vàng và khắc tên riêng
vào một tấm bia ở Văn Miếu, lấy khoa thi Ất Sửu (1865) dưới triều Tự Đức
mà riêng ông đã đỗ Phó bảng để truy phong học vị Tiến sĩ cho ông”. Điều này
cho thấy Bùi Văn Dị thực sự là một tài năng hiếm có cuối thế kỉ XIX.
Dưới triều Thành Thái, dù được trọng dụng nhưng ông vẫn luôn mang
trong mình nỗi buồn, nỗi nhục mất nước. Cũng vì lẽ này, năm 1890, ông xin
từ chức và chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán.
Những năm cuối đời, ông tập trung dạy học cho vua Thành Thái, soạn quốc
sử và biên tập thơ vịnh sử của vua Tự Đức. Ông mất vào ngày mồng 4 tháng 8
24


năm Ất Mùi (tức ngày 22 tháng 9 năm 1895) tại bàn làm việc ở Quốc sử
quán.
Như vậy, có thể thấy Bùi Văn Dị trưởng thành trong giai đoạn đất nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status