ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CÂN TH
THƠ
ÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH
NHÂ
Ữ VĂN
BỘ MÔN NG
NGỮ
SV : Tr
Trầần Bảo Ti
Tiêên
MSSV:6106435
ĐẶ
C SẮC NỘI DUNG VÀ NGH
Ệ THU
ẬT
ĐẶC
NGHỆ
THUẬ
ÀN CÁNH HẠC
TRONG NG
NGÀ
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
ẦN NỘI DUNG
PH
PHẦ
ƯƠ
NG 1 :NH
ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
:NHỮ
1.1 Giới thiệu về thể loại tiểu thuyết trong văn học Nhật Bản
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Y.kawabata
1.2.1 Đường đời của “người lữ khách u sầu” Y.Kawabata
1.2.2 Văn nghiệp
1.3 Vài nét về tiểu thuyết Ngàn cánh hạc của Kawabata
1.3.1 Xuất xứ
1.3.2 Tóm tắt nội dung tiểu thuyết
ƯƠ
NG 2: ĐẶ
C SẮC VỀ NỘI DUNG CỦA TI
ỂU THUY
ẾT “NG
ÀN CÁNH
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
ĐẶC
TIỂ
TIỂ
THUYẾ
NGÀ
CÁNH HẠC”
3.1 Nghệ thuật tương phản và phép lặp
1
3.1.1 Nghệ thuật tương phản
3.1.2 Phép lặp
3.2 Nghệ thuật tạo dựng đối thoại và độc thoại nội tâm đặc sắc
3.2.1 Nghệ thuật độc thoại nội tâm
3.2.2 Nghệ thuật đối thoại
3.4 Không gian và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm
3.4.1 Không gian nghệ thuật trong tác phẩm
3.4.2 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm
3.5.Thi pháp chân không và nghệ thuật chiếc gương soi
ẦN KẾT LU
ẬN
PH
PHẦ
LUẬ
2
ẦN MỞ ĐẦU
PH
PHẦ
đào. Nghiên cứu về văn chương Kawabata, người ta nhận thấy được hấp lực mạnh mẽ
từ tinh hoa văn hóa dân tộc xứ Phù Tang trong từng ý văn của ông. Nhà triết học Mỹ
học Niestzshe từng phát biểu rằng sáng tác của Y.Kawabata là “một cây đại thụ, khi
càng vươn lên cao, cành lá càng đâm trổ vào bầu trời thì gốc rễ của nó càng đâm sâu
vào lòng đất- mạch ngầm sâu của văn hóa dân tộc” [11;tr.4]. Quả thật như thế,văn
chương của Kawabata thoạt nhìn như một viên ngọc thô khó nắm bắt và thưởng thức
nhưng càng nhìn càng bắt sáng và ngày một rực rỡ trên bầu trời văn đàn thế giới. Sự
tiếp nối và ngợi ca cái đẹp là bài ca muôn thuở của nhân loại và Y.Kawabata đã đóng
góp vào bài ca ấy những câu hát mang dấu ấn của riêng ông, như dòng chảy bất tận về
cái đẹp mà chúng ta cần lưu giữ, khám phá và phát huy nó.
Một tác phẩm đặc sắc như Ng
Ngààn cánh hạc được bạn đọc Việt biết đến trong
khoảng thời gian khá sớm nhưng không phổ biến rộng rãi (xuất bản lần đầu 1969, Vũ
Như Thanh dịch).Tác phẩm hạn chế phổ biển trong thế giới bạn đọc bởi nó hàm chưa
nhiều tầng nghĩa và mức độ tiềm ẩn của nó được ví như phần chìm của tảng băng trôi –
4
tương đồng với phương thức truyền đạt của đại văn hào Hemingway phương Tây, và
hơn hết, Ng
Ngààn cánh hạc không đơn thuần biểu đạt theo tuýp “ ý tại ngôn ngoại” hay
gợi mở mà mang tính chất thâm thúy, huyễn hoặc của phương Đông nói chung, Nhật
Bản nói riêng. Bởi lẽ tác phẩm ẩn chứa nhiều tầng nghĩa nên thế giới chính mà tác
phẩm mở ra không chỉ trên trang giấy phẳng mà là một thế giới trong tâm thức người
đọc– nó mang màu sắc thế nào tùy theo từng độc giả. Nếu độc giả là một thanh niên đa
tình sẽ tìm thấy chính bản thân mình trong tác phẩm,từ đó thấy thích thú và đam mê,
hoặc giả như người đọc là một trung niên hoài cổ thì sẽ cảm nhận được sự mai một của
truyền thống và cái đẹp như đang dần thoát li khỏi thực tại… Để tác phẩm thật sự
truyền tải được đầy đủ và trọn vẹn đến độc giả không giới hạn qua lăng kính tuổi tác và
tri thức, chúng tôi thực hiện đề tài này mong muốn có thể phổ biến sâu rộng hơn Ng
dục, Hà Nội, 2007), cuốn sách bày tỏ một hướng nghiên cứu mới về Kawabata là gắn
sáng tác của nhà văn với văn hóa Nhật Bản để có cái nhìn đối sánh : “với số lượng trên
300 trang in, bao gồm phần chính văn và phụ lục, tác giả công trình đã đặt sáng tác
của Kawabata trong dòng chảy văn học Nhật Bản” [12;tr.73], và tác giả cũng lưu ý
rằng mục đích chính của công trình là trên cơ sở “ khảo sát Nhật Bản và cái đẹp lấy đó
5
làm nền tảng, (kết hợp với lý thuyết tự sự hiện đại của phương Tây ) để tìm hiểu Nghệ
thuật kể chuyện của Yasunari Kawabata qua các bình diện : người kể chuyện, nhân vật,
không gian, thời gian…” [7;tr.211].Trong cuốn Văn hóa Nh
Nhậật Bản và Yasunari
Kawabata này, tác phẩm Ng
Ngààn cánh hạc cũng được đặt hướng tiếp cận trong tầm
chuyên sâu – có thể nói là công trình nghiên cứu khá vĩ mô, tác giả Đào Thị Thu Hằng
đã phân tích cốt truyện và dụng ý nghệ thuật của Kawabata dựa trên phương pháp tiểu
sử của chính cuộc đời ông và việc tổng hợp phân tích từ các tác phẩm liên quan do ông
sáng tác như Cố đô
đô, Xứ tuy
tuyếết, Người đẹp say ngủ, Tiếng rền của núi...Tác giả đã đưa ra
nhận định sau khi đọc tác phẩm Ng
Ngààn cánh hạc: “Cái còn đọng lại trong tâm hồn
người đọc không phải là những mưu mô của cô Kurimoto Chikako, thậm chí cũng
không phải là tình yêu nồng nàn của bà Ota, đầu tiên là đối với ông Mitani và sau này
là đối với con trai ông ta, mà là vẻ đẹp đặc biệt kết hợp với những tách trà và sự hồi
tưởng mà mỗi một đồ vật dụng trong nghi lễ trà đạo gợi lên cho những người tham dự”
[7 tr.47].Công trình đã khẳng định cho chúng ta thấy được cái tận cùng cốt yếu mà
Kawabata muốn truyền đạt không phải là tình yêu của lớp trẻ thời hậu trà đạo mà tình
yêu chỉ là phương tiện để truyền đạt hiện thực của trà đạo.Về mặt nghệ thuật, Đào Thị
Thu Hằng đưa ra những luận cứ trên cơ sở mục đích để người đọc tìm hiểu rõ hơn về
phẩm.Người Nhật vốn thích sống thanh cao,biết trọng danh dự, giữ gìn đạo đức khuôn
6
phép.Tâm hồn rộng mở,thích hòa nhập với thiên nhiên.Họ yêu vẻ đẹp từ một phiến đá,
một bông hoa trên cạnh, một cảnh tuyết rơi.Họ thích suy ngẫm qua một chén trà, trầm
lắng trước cảnh một ngôi chùa cô tịch”[8;tr.24]. Một phong cảnh đẹp hiện diện trong
tâm thức người đọc của nơi xa xăm phủ tuyết, của Cố đô trầm lắng, tiếng rền âm vang
của núi, nét thanh thoát trong chiếc khăn thêu ngàn cánh hạc gợi cảm đưa ta đến chân
trời Mĩ học với nét đẹp thân quen, ngập tràn cảm xúc.Vì thế, nét tương đồng trong văn
hóa Việt và Nhật như được liên tưởng gắn kết với nhau và người lữ khách Y.Kawabata
đã thật sự hoàn thành chặng đường “tìm kiếm cái đẹp đang bị mất, cứu vớt cái đẹp đang
bị tàn phai”, làm sống lại những giây phút thần tiên của suối nguồn văn hóa Nhật Bản
trong trái tim bạn đọc khắp thế giới. Từ đó, bạn đọc sẽ có cách nhìn nhận cao cả hơn,
nghiêm túc về mảnh đất sinh thành của bản thân.
Về mặt tư liệu, trên các diễn đàn, báo điện tử, tạp chí văn học cũng có không ích
những tài liệu nói về trình độ bậc thầy trong các sáng tác của Kawabata. Điển hình là
bài viết Ti
Tiếếp nh
nhậận tác ph
phẩẩm của Y.Kawabata ở Vi
Việệt nam (Hà Văn Lưỡng, Tạp chí
khoa học, Đại học Huế, số 54,2009 ) đã tóm lược bao quát được quá trình dịch thuật và
ng
giới thiệu, nghiên cứu phê bình về tác phẩm Kawabata ở Việt Nam. Bài Bi
Biểểu tượ
ượng
trong ti
tiểểu thuy
thuyếết của Yasunari Kawabata của Trần Thị Tố Loan có đề cập đến tác
7
phá nội dung và nghệ thuật từng công trình, điển hình như việc nghiên cứu Ng
Ngààn cánh
hạc.
Ngoài ra, ở Việt Nam cũng có các công trình mang tính khái quát, khách quan về
ới bi
ng
Y.Kawabata. Trong giới hạn tư liệu chúng tôi nghiên cứu được có Th
Thếế gi
giớ
biểểu tượ
ượng
trong ti
tiểểu thuy
thuyếết của Y.Kawabta (Lê Thanh Huyền, khóa luận tốt nghiệp Đại học Vinh,
2009) đã làm sáng tỏ được hầu hết thế giới biểu tượng đa dạng trong bộ ba tiểu thuyết
“ Xứ tuy
tuyếết, Ng
Ngààn cánh hạc, Cố đô” : “Biểu tượng trong sáng tác của Kawabata, một
mặt, có nguồn gốc từ truyền thống, chịu ảnh hưởng đậm nét của mĩ học Thiền ; mặt
khác, là những tìm tòi và sáng tạo mới mẻ của nhà văn.Chúng luôn có mối liên hệ với
mẩu gốc biểu tượng văn hóa thế giới, song cũng đồng cũng luôn gợi lên cảm giác mới
ườ
mẻ và đầy ấn tượng với người đọc”[9;tr.99]. Tiếp đến còn có Y.Kawabata – Ng
Ngườ
ườii đi
tìm cái đẹ
đẹpp (Trần Thị Tố Loan, Luận văn Thạc sĩ ngữ văn, Đại học Vinh), bài luận đã
thuyếết Y.Kawabata (Trịnh Thị Thủy, Luận văn Thạc sĩ, Vinh, 2010), bài luận tập trung
nghiên cứu về phương diện nghệ thuật độc thoại nội tâm trong hầu hết các sáng tác nổi
tiếng của Kawabata như Xứ tuy
tuyếết, Ng
Ngààn cánh hạc, Cố đô
đô,, Ti
Tiếếng rền của núi… trong
đó làm rõ mối quan hệ tương quan giữa độc thoại nội tâm với nội dung tác phẩm, điều
đó có nghĩa là nghệ thuật truyền đạt nội dung cũng được sáng tỏ phần nào. Công trình
8
hướng cho chúng tôi biết được nhân vật trong tác phẩm là tuýp nhân vật mang dáng dấp
nhân vật tự ý thức, và mỗi nhất cử nhất động trong tác phẩm đều mang ý nghĩa riêng:
“Ngoài ra Kawabata còn đặt nhân vật Kikuji và Fumiko vào sự tự ý thức trong việc lựa
chọn nên giữ vẻ đẹp của nghi lễ truyền thống hay phủ nhận trà đạo khi nó đã bị các yếu
tố phàm tục làm hoen ố được thể hiện qua việc giữ lại hay đập vỡ chiếc chén Shino,
chiếc cốc trà đã có hàng trăm năm tuổi, gắn bó với biết bao số phận. Fumiko đập vỡ
chén trà, đó là một phán quyết về trà đạo, hoặc giữ nó với vẻ đẹp nguyên thủy hoặc xóa
bỏ nó chứ nhất quyết không để bị hoen ố”[17;tr.74]. Bài Nét đặ
đặcc sắc trong ti
tiểểu thuy
thuyếết
Y.Kawabata trên Zing Blog từ công trình của Lê Thanh Huyền lại làm rõ nét tương
quan đồng điệu giữa hai hình ảnh biểu trưng là “Cố đô và chén trà Shino” , từ đó tạo
nên sự liên hệ gần gũi giữa hai tác phẩm Nobel Ng
Ngààn cánh hạc và Cố đô trong phạm vi
biểu tượng : “Chén trà Shino và Cố đô là hai hình tượng đặc biệt. Đó là dấu ấn đậm
nét của một nền văn hóa lâu đời và đặc sắc mang phong cách Đông phương. Nhưng cả
nghệ thuật trong quá trình sáng tác của ông. Những công trình trên giúp chúng tôi
thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nghiên cứu đặc sắc nghệ thuật và nội dung của tác
phẩm.
Công trình nêu trên là những bài mang tính khái quát về tác phẩm của Kawabata
mà chúng tôi sưu tầm được. Tuy nhiên, về đề tài của luận văn Ng
Ngààn cánh hạc : Tình
yêu và tr
tràà đạ
đạoo trong tác ph
phẩẩm Ng
Ngààn cánh hạc của Yasunari Kawabata (Sinh viên, đại
học Huế, baomuahe2011 blog) cũng có nghiên cứu tường tận về tác phẩm và rút ra kết
luận về thông điệp cũa tác phẩm truyền tải đến bạn đọc : “Hãy giữ truyền thống thanh
cao đó của người Nhật với vẻ đẹp nguyên thủy, đừng làm nó bị hoen ố” [22].Về mặt
nghệ thuật, bài báo có nêu rõ được thi pháp chân không, ý nghĩa nhan đề, các hình ảnh
biểu tượng trong tiểu thuyết ngàn cánh hạc, định hướng được những nét nghệ thuật độc
đáo mà Kawabata tạo dựng trong tác phẩm. Nhưng suy cho cùng, bài viết vẫn dừng ở
mức nghiên cứu sơ khai, nội dung bài nghiên cứu chủ yếu chỉ đi sâu vào hai mảng tình
yêu và trà đạo, chưa làm rõ được cái đẹp diệu kỳ kết hợp giữa hai điều ấy ẩn sâu dưới
nỗi buồn bao trùm tác phẩm, các luận đề viết về nghệ thuật vẫn còn giới hạn ở mức sơ
lược chưa chuyên sâu và ở đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ điều ấy.
ch, yêu cầu
3. Mục đí
đích,
Nghiên cứu về Ng
Ngààn cánh hạc để làm sáng tỏ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm thông qua các phương pháp nghiên cứu văn học, tra cứu tài liệu, nghiên
cứu văn chương tuyển tập Y.Kawabata, để tác phẩm trở nên gần gũi và phổ biến hơn
với độc giả Việt Nam.
Cụ thể hơn, đầu tiên chúng tôi sẽ đi từ bề rộng đến bề sâu : tìm hiểu về thể loại
5. Ph
Phươ
ương
phááp nghi
nghiêên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để
thực hiện yêu cầu của đề tài, một số phương pháp chính được sử dụng là :
Phương pháp phân tích -tổng hợp: Người viết sử dụng phương pháp phân tích để
có thể làm sáng tỏ những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Ng
Ngààn cánh
hạc của Y.Kawabata.Từ những biểu hiện cụ thể của từng vấn đề nghiên cứu, luận văn
sẽ tổng hợp thành những luận điểm, luận cứ mang tính khái quát.
Phương pháp tiểu sử : Song hành với việc phân tích – tổng hợp, làm sáng tỏ vấn
đề bằng việc đưa tiểu sử “ người thật,việc thật” về cuộc đời của chính tác giả
Y.Kawabata để có được sự đồng cảm khách quan nhất, chân thực nhất về tác phẩm.
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng khi luận văn
bước đầu chỉ đưa ra được đặc sắc riêng mà Kawabata tạo dựng trong tiểu thuyết ngàn
cánh hạc, kế thừa ý chính và dẫn nhập, so sánh liên hệ với các tác phẩm, với phạm trù
văn hóa Nhật Bản,thấy được sự tương phùng đồng điệu của hồn văn Kawabata với
những nhà văn khác trên văn đàn thế giới.
Phương pháp so sánh lịch sử : Tìm hiểu, nghiên cứu quá trình sáng tác của nhà
văn qua các chặng đường phát triển.
11
ẦN NỘI DUNG
PH
PHẦ
đang biến chuyển và còn chưa định hình”– M.Bakhtin nhận định. Trong sự đối chiếu và
so sánh với các thể loại tự sự khác (ngụ ngôn, anh hùng ca, truyền thuyết ), tiểu thuyết
là thể loại có khả năng tổng hợp nhiều nhất khả năng nghệ thuật của các thể loại khác
với một phương thức biểu đạt riêng biệt : nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư ; tái hiện cuộc
sống đậm chất văn xuôi ; xây dựng nhân vật là con người nếm trải thay vì nhân vật
hành động ; gia tăng yếu tố ngoài cốt truyện; xóa bỏ khoảng cách trần thuật. Xem xét
tiểu thuyết từ các phương diện đó thì Nhật Bản có thể xếp vào những quốc gia có nền
tiều thuyết hiện đại đầu tiên trên thế giới.
Năm 2000, báo chí Pháp kỉ niệm, sinh nhật 1000 năm tác phẩm “tiểu thuyết đầu
tiên của loài người”, một trong những kiệt tác mọi thời đại của nhân loại : Truy
Truyệện
Genji. Genji monogatari là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của nền văn học Nhật Bản, ra
đời vào khoảng 1004-1011, của nữ sĩ tài ba Murasaki Shikibu (978 -1014). Truyện
được sáng tác vào thời đại Heian bằng chữ viết kana, theo thể loại monogatari (truyện)
cổ điển đã có lịch sử phát triển từ 200 năm trước đó của Nhật Bản. Truy
Truyệện Genji cùng
với văn chương Heian, gồm hai yếu tố “ dân tộc” và “nữ lưu” đã tạo dựng phát huy một
nét đẹp huy hoàng chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản.Thơ văn “nữ lưu” đỉnh cao là
Genji monogatari đã đánh dấu sự có mặt thật sự của một nền văn hóa bản địa xứ Phù
Tang trong sức ép ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc thời bấy giờ. Kawabata
trong Diễn từ Nobel đã khẳng định : “ Thời kỳ Heian đã đặt nền móng cho truyền thống
vẻ đẹp Nhật Bản, và trong suốt tám thế kỉ đã ảnh hưởng đến nền văn học Nhật Bản, xác
định tính chất của nó., Genji monogatari là đỉnh cao văn xuôi Nhật Bản tất cả mọi thời
đại”.[17;tr.973]. Xoay quanh hình tượng nhân vật hoàng tử Genji trong phần chính và
Kaoru, người con trai trên danh nghĩa của Genji trong phần thập thiếp cùng mối quan
hệ của họ với những người phụ nữ, tác phẩm gồm 54 chương, thuộc một trong những
truyện rất lớn về dung lượng, rất phức tạp về nội dung và rất quyến rũ về mặt hình thức
13
danh là tiểu thuyết gia bậc nhất thời Edo – thời kỳ văn học được mệnh danh là “ Văn
chương phù thế”. Làn sóng văn chương này do tác giả Saikaku dẫn đầu, là văn chương
của “ những ngọn sóng trần gian”, chỉ biết đến “ con người tại thế” và quay lưng với
quá khứ tôn thờ thần linh.Tiểu thuyết người đàn ông đa tình đã khơi nguồn cho hàng
loạt sáng tác “ Phù thế thảo tử” của Saikaku, ảnh hưởng đến thời đại và trở thành linh
hồn của thời phục hưng Nhật Bản.
Tiểu thuyết Nhật bản sau Saikaku được nhắc đến cùng hai tên tuổi Akinari với
“Vầng tr
trăăng trong mơ” và Ikaku với “Gót ch
châân giang hồ”. Nói đến tác giả này, Ueda
Akinari (1734-1809) được biết đến là văn sĩ tài ba nhất của văn xuôi Nhật thế kỉ XVIII.
“Vầng trăng trong mưa” là truyện được xây dựng bởi các yếu tố kì ảo hoặc siêu nhiên.
Tuy nhiên thế giới nghệ thuật của Akanari không phải là một thế giới ma quai như tác
phẩm đình đám “Li
Liêêu Trai ch
chíí dị” của Trung Quốc, cái ảo của nó chỉ là lớp ảo che đậy
sự thật tâm lí của con người.Đó là một thực tại ảo hóa, một không giang được bôi xóa
và làm nhòe đi, đánh lạc hướng giác quan quan sát của con người. Học giả Nhật Chiêu
đã đánh giá: “Vầng trăng trong mưa được sáng tạo bằng một phong cách văn chương
cao nhã và đầy những tưởng tượng mới mẻ dù vẫn tiếp nối dòng mạch văn chương của
cái ảo trong truyền thống. Có thể gọi đó là phong cách “ Tân cổ điển” [3;tr.252-253].
14
Còn một hiện tượng độc đáo ở thời kì này là Tippensha Ikaku (1765-1831), tác
giả này thì lại được tôn là người sáng tạo ra những trang văn xuôi đầy ấp tiếng cười,
giàu chất hoạt kê nhất trong văn chương Nhật Bản. Thuộc loại sách gọi là Kokkeibon
(hoạt kê bản), “Gót ch
châân giang hồ” là một tác phẩm ngập tràn tiếng cười và thường
tiểu thuyết gia thuở bấy giờ và nó trở đi trở lại mà sáng tác của Kawabata là hiện tượng
tiêu biểu.
1.2 Cu
Cuộộc đờ
đờii và và sự nghi
nghiệệp văn học của Y.Kawabata
ng đờ
ườ
1.2.1 Đườ
Đường
đờii của “ng
ngườ
ườii lữ kh
kháách u sầu” Y.Kawabata
15
Kawabata (1899-1972) chào đời ở một làng quê gần thành phố Osaka trong một
gia đình có người cha là thầy thuốc, gia đình có truyền thống yêu nghệ thuật. Ông sinh
thành vào giai đoạn nước Nhật xảy ra nhiều biến cố lớn của cuộc Minh Trị Phục Hưng
và bản thân ông cũng trải nghiệm sự tang tóc và đau thương khi những người thân yêu
nhất lần lượt từ giã cõi đời. Mồ côi cha mẹ từ năm lên hai tuổi, từ đó ông sống cùng chị
và ông bà ngoại, nhưng niềm hạnh phúc nhỏ bé, chút ấm áp tuổi thơ ấy cũng không tồn
tại lâu khi bà ngoại và chị cũng lần lượt qua đời. Nỗi đau chưa dừng ở đấy, năm ông
mười bốn tuổi, ông ngoại mất, ông đành lên Tokyo sống nhờ gia đình người dì. Vừa côi
cúc, lại cô quạnh, ốm yếu, ông chỉ còn biết trông cậy vào năng lực sáng tạo của bản
thân, chôn nỗi đau mất mát vào nơi sâu thẳm nhất ở cõi lòng. Điều này thể hiện rõ trong
lời Tiến sĩ Anders đọc trong ngày trọng đại 1968 :“nhà văn Nhật Bản Yasunari
Kawabata, sinh năm 1899 ở thành phố công nghiệp khá lớn Osaka, nơi cha ông, một
bác sĩ có học thức cao và say mê văn chương, hành nghề. Tuy nhiên, từ khi còn nhỏ,
ông, luôn có trong các tuyển tập quan trọng. Tiếp sau đó là tập Thi hài miêu tả những
ngày hấp hối của ông nội, được thai nghén năm 1916 và công bố năm 1945. Năm 1920,
ông vào trường đại học Tổng hợp Tôkyô, trước tiên là khoa Anh ngữ, sau chuyển sang
khoa Ngữ văn Nhật. Đây cũng là âm hưởng chung trong quá trình "trở về với truyền
thống" trong văn nghiệp của Kawabata.
Ở tuổi đôi mươi, Kawabata lại đánh mất một người mà ông hết lòng yêu thương,
một thiếu nữ ông gọi là Chiyo. Ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi mọi việc chuẩn bị
xong, nàng bất ngờ từ hôn, không một lời giải thích.Trước, ông cũng đã từng có một
cuộc tình thời phổ thông, một tình yêu trong sáng với cô bạn cùng lớp mà sau này mối
tình ấy còn in dấu đậm nét trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác của ông.
Ba mươi năm sau, khi hồi tưởng lại mối tình ấy chính ông gọi đó là "cú sốc ngọt ngào".
Trong tháng một năm 1916 ông chuyển sang một nhà trọ gần trường trung học cơ sở
(tương đương với một trường trung học hiện đại) mà trước đây ông đã đến bằng tàu
hỏa. Qua bao cuộc bể dâu của đời, ông gặt hái và tích lũy được nhiều vốn sống, điều đó
rất có ý nghĩa cho những sáng tác sau này của Kawabata. Ông thường cho ấn tượng
rằng nhân vật của ông đã xây dựng lên một bức tường xung quanh mà di chuyển chúng
vào cô lập. Trong một tác phẩm xuất bản năm 1934 Kawabata đã viết: "Tôi cảm thấy
như thể tôi chưa bao giờ nắm tay một người phụ nữ trong một cảm giác lãng mạn [...]
Tôi có phải là một người đàn ông hạnh phúc hay là một kẻ xứng đáng được thương
hại?"[23] . Trên thực tế tuy điều này không phải hoàn toàn được hiểu theo nghĩa đen,
nhưng nó vẫn biểu hiện sự bất an, thiếu thốn về tình cảm mà Kawabata từng nếm trải,
đặc biệt là qua hai mối tình đau đớn khi ông còn trẻ.
Lúc bấy giờ ngoài tấn bi kịch gia đình, tình hình đất nước cũng gặp không ít
biến đổi. Công cuộc phục hưng Minh trị tiến hành mờ cửa, cách tân chính sách tiến bộ
và hướng ngoại, nước Nhật không chỉ noi gương các nước phương Tây mà đã bắt kịp
đà phát triển, tiến bộ về khoa học kĩ thuật, cả tư tưởng tư duy cũng đổi mới. Bằng tâm
hồn nhạy cảm tinh tế, Kawabata đã sớm nhận thức được đà phát triển của thời đại, điều
này ảnh hưởng sâu rộng đến những sáng tác sau này của ông. Sau khi tốt nghiệp trung
học cơ sở tháng 3 năm 1917, ngay trước sinh nhật thứ mười tám của mình, ông chuyển
đến Tokyo, hy vọng sẽ vượt qua kỳ thi và đỗ đạt tại Đại học tổng hợp Tokyo. Ông đã
chân vào đời văn nghiệp. Ông chứng kiến một thế lực quân phiệt đang hình thành.Nhật
Bản lại bước vào vòng xoáy của cuộc chiến tranh thế giới đệ nhị. Khác với những bộ
phận nhà văn lúc thời bấy giờ, ông từ chối sự tuyên truyền hăng hái trong quân phiệt,
sống lặng và chuyên tâm viết văn. Khi chiến tranh kết thúc, ông cũng chỉ dành ít sự
quan tâm cho việc cải cách chính trị, chỉ tập trung vào sự nghiệp cứu rỗi truyền thống
và cái đẹp, thể hiện cá tính nhân văn trong thời đại của mình.
Hồi ức về tuổi thơ bất hạnh cùng nỗi đau bất đi người con gái mình thương yêu,
ám ảnh về chiến tranh đã trở thành những ngọn nguồn khách quan đi vào phong cách
hành văn của Kawabta. Trong tác phẩm của ông, người ta nhìn thấy những giá trị nghệ
thuật tượng trưng cho cái đẹp đang dần phai tàn, vì nó tuyệt mĩ nhưng không tuyệt đối,
mỏng manh dễ vỡ, chỉ còn lắng đọng lại cảm xúc xót xa cho một thời quá khứ huy
18
hoàng đã qua đi. Đương thời, tiếng nói của Kawabata rất có trọng lượng trong cả văn
giới lẫn chính giới. Cánh tả và cánh hữu đều muốn lôi kéo ông, những bài viết giới
thiệu những nhà văn trẻ của Kawabata đều được xem là những lá bài quyết định số
phận của các nhà văn ấy.
Ngoài ra, 1937, Kawabata với tác phẩm Xứ tuy
tuyếết đã cùng nhà văn Ozaki Shiroo,
tác giả cuốn truyện Tr
Tròò đờ
đờii đã cùng nhau chia sẻ phần thưởng thứ ba của Nhóm Hội
Thảo Văn Học. Mặc cho ý định kiểm soát giới cầm bút của chính quyền Nhật gắt gao
đương thời, ông vẫn nhận phần thưởng và dùng số tiền đó mua một căn nhà tại
Karuizawa, đồng thời vẫn đứng trong hàng ngũ các nhà báo có lí luận tư tưởng đề cập
về nhu cầu tự do ngôn luận, tự do phát biểu – một trong những quyền cơ bản mà một
công dân, hơn hết là trách nhiệm người cầm bút cần có. Vào năm 1935, Kawabata phản
đối Nhóm Hội Thảo Văn Học đã không trao giải thưởng cho nhà văn Shimaki Kensaku
vì nghi ngờ có khuynh hướng Mác Xít trong tác phẩm.
mát là sự cầu tiến đi lên con đường sáng tác nghệ thuật bằng tài năng văn chương của
bản thân, trước hết là tác phẩm “ Nh
Nhậật ký tu
tuổổi mườ
ườii sáu”,sau hàng loạt các tác phẩm
nổi danh khác, tên tuổi Kawabata bắt đầu được chú ý và đỉnh cao là việc ông được vinh
danh trước toàn thế giới với giải Nobel văn học năm 1968 với bộ ba tác phẩm Xứ tuy
tuyếết,
Cố đô và Ng
Ngààn cánh hạc, trở thành một đại văn hào của dân tộc Nhật Bản cũng như
trên toàn thế giới. Khi ấy,bài đề từ do Tiến sĩ Anders Osterling đọc tại buỗi lễ trao tặng
có thể xem là nghiên cứu sơ giản đầu tiên về hiện tượng văn học tài năng này : “Cũng
như người đồng hương cao niên quá cố Tanizaki, phải thừa nhận là ông đã chịu ảnh
hưởng của chủ nghĩa hiện thực phương Tây, nhưng đồng thời ông vẫn lấy văn chương
cổ điển Nhật Bản làm nền tảng và nhờ đó đại diện cho một khuynh hướng rõ rệt về sự
hoài vọng và gìn giữ phong cách truyền thống thật sự của đất nước”[18] hay câu chốt
“bài diễn văn trên ca ngợi nghệ thuật kể chuyện bậc thầy của ngài mà bằng sự tri cảm
lớn lao đã thể hiện bản chất tâm hồn Nhật Bản”[18]–trích lời ngài Tiến sĩ đã chỉ ra
những đặc điểm chung nhất và nét đặc rắc riêng của Y.Kawabata một cách tóm lược,
súc tích, và những nhận định này đã gián tiếp gợi ý cho chúng tôi hướng đi thực tế để
nghiên cứu về đại văn hào xứ Phù tang trong tác phẩm Ng
Ngààn cánh hạc.
Có ý kiến cho rằng, sáng tác của Kawabata thời kì đầu chịu tác động mạnh mẽ
của chủ nghĩa duy cảm mới và chủ nghĩa trực giác – hai làn sóng mới du nhập từ
phương Tây, nhưng chính ông thừa nhận rằng bản thân mình vẫn không thể rời bỏ
truyền thống mĩ học lâu đời của dân tộc. Nhật Bản - một nơi vốn được coi là "ốc đảo",
“ luôn “bế quan tỏa cản “ và xem thường sự phát triển của khoa học kĩ thuật, luôn luôn
hoài cổ,đã hoàn toàn thay đổi diện mạo cho đến khi Thiên Hoàng Minh Trị đề ra chính
sách Phục hưng, từ đó không chỉ khoa học kĩ thuật tiến bộ vượt trội mà văn đàn thế giới
đương thời đã thực sự ghi dấu ấn riêng của con người Nhật Bản. Tinh thần học hỏi
thuộc của ông qua Truyện trong lòng bàn tay, được phổ biến rộng và độc giả khắp nơi
thưởng thức. Bản thân Kawabata phải công nhận rằng "đó là những truyện mà tôi hài
lòng nhất", chúng được viết rải rác trong một thời gian dài, từ năm 1921 cho đến năm
1972 và nhà văn gọi chúng là Tanagokoro no shosetsu (hay Truy
Truyệện trong lòng bàn tay).
Một đặc điểm chung dễ nhận thấy là văn chương Nhật Bản rất cô đọng, hàm súc, và
những truyện trong lòng bàn tay của Kawabata cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Mỗi
câu chuyện của ông chỉ có vài trang (có những chuyện chưa đến một trang) nhưng lại
chứa đựng những triết lí sâu xa về cuộc sống, con người và vũ trụ. Người ta tìm thấy sự
tương tác, gần gũi giữa thể thơ Haiku truyền thống Nhật Bản và những Truyện trong
lòng bàn tay của Kawabata ở sự ngắn gọn mà cô đọng, súc tích ấy. Kawabata từng phát
biểu: "Rất nhiều nhà văn, khi còn trẻ, đã làm thơ, còn tôi, thay vì làm thơ, lại viết
Truyện trong lòng bàn tay...Linh hồn thi ca những ngày tuổi trẻ của tôi nằm trong
chúng” [7;tr.43]. Truyện trong lòng bàn tay của Kawabata là sự kết tinh tất cả tinh hoa
của một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết và tài năng thực sự. Suốt thời tuổi trẻ, Kawabata
đã cảm nhận thấm thía sự khắc nghiệt,cô đơn và đôi khi là tuyệt vọng,và chính sự cô
đơn đó đã làm xúc tác cho việc vươn lên mạnh mẽ của một tài năng nghệ thuật. Lúc
buồn chán và mất niềm tin nhất, nhà văn trẻ tìm cách rũ bỏ mọi sự chật vật, u tối của
làng quê bằng cách làm quen với cuộc sống nhộn nhịp của thành thị. Sau khi bị người
tình nhỏ tuổi phụ bạc, mùa thu năm 1918, ông đã cuốc bộ một mình hầu như khắp đảo
Izu còn thưa thớt dân cư khi ấy và rồi kiệt tác đầu tiên được ra đời năm 1926: Vũ nữ
Izu (Izu-no Odoriko). Tác phẩm kể về hành trình gặp gỡ và chia tay của chàng sinh
viên cao đẳng với cô vũ nữ trẻ trong một gánh hát gia đình lưu động. Người kể chuyện
bị cuốn hút bởi một cô vũ nữ trẻ nhất trong nhóm mà anh gặp ở miền Izu. Anh đã nghĩ
đến việc đề nghị cô qua đêm với mình nhưng tình cờ anh phát hiện cô trần truồng trong
21
làn hơi nước suối nước nóng ngoài trời, anh nhận thấy cô vẫn còn là một đứa trẻ, dù
đầu tóc và cách sửa soạn của cô thì đã lớn. Phát hiện bí mật đó không làm anh sinh viên
cái nhìn thời đại. Bộ ba tiểu thuyết Xứ tuy
tuyếết (1947), Ng
Ngààn cánh hạc (1951), Cố
đô(1961) đã mang về cho Kawabata giải Nobel văn học làm rạng danh cả một vùng trời
văn học xứ xở hoa anh đào.
Tiểu thuyết Xứ tuy
tuyếết được viết và chỉnh sửa trong một thời gian dài, từ năm
1934 đến năm 1947, nó được xem là tiểu thuyết đầu tiên của Kawabata, tiểu thuyết
được đăng nhiều kỳ trên nhật báo suốt hơn mười năm mới được hoàn tất. Như nhiều
người nhận xét thì cốt truyện của Xứ tuy
tuyếết vừa đơn giản nhưng cũng vừa khó nắm bắt.
Đọc Xứ tuy
tuyếết, người đọc như được đắm mình trong một vùng thiên nhiên hoang sơ và
đẹp như trong huyền thoại, những suối nước nóng với lữ quán nhỏ, những ngọn đồi
tuyết phủ trắng xóa vào mùa đông và bạt ngàn lau rừng vào mùa thu... Xứ tuy
tuyếết là một
bài thơ về thiên nhiên cảnh sắc, bài ca về một tình yêu vô vọng nhưng đó cũng là nơi
tìm lại mình của những thanh niên Nhật Bản như Shimamura trong cơn lốc giao thời.
Tiếp theo ánh hào quang mà Xứ tuy
tuyếết đã mang về cho nhà văn tài ba, tác phẩm
Ng
Ngààn cánh hạc ra đời. Nhân vật chính trong tác phẩm Ng
Ngààn cánh hạc là Mitani Kikuji,
đã hành động giống như Shimamura trong cuốn tiểu thuyết Xứ tuy
tuyếết. Nhờ vai trò của
23
Mitani, các người đàn bà trong cuộc đời của ông ta: bà Ota, con gái của bà này là
Fumiko, cùng các người phụ nữ khác như cô Kurimoto và cô Inamura, từng người một
cùng với cốt truyện hấp dẫn, éo le, mô tả một thế giới nhỏ, không thể quên được, bên
trong thế giới lớn hơn là nước Nhật Bản hậu chiến.
Vào năm 1954, Yasunari Kawabata cho phổ biến dần dần trên nhật báo cuốn tiểu
thuyết Cái Hồ. Do đã từng đọc nhiều tác phẩm và chịu ảnh hưởng to lớn từ Sigmund
Freud nên trong tác phẩm này cũng chứa nhiều bạo lực hơn các cuốn tiểu thuyết khác
và tác giả Yasunari Kawabata thường xuyên liên hệ hiện tại với quá khứ và các giấc mơ.
Năm 1955, Yasunari Kawabata hoàn thành một loạt bài viết dài nhất đăng trên
ườ
nhật báo, với tên là Ng
Ngườ
ườii Tokyo rồi năm sau là cuốn tiểu thuyết Câu chuy
chuyệện của một
24