giá trị nội dung và nghệ thuật trong phong thần diễn nghĩa của hứa trọng lâm - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
--------------

LÂM THỊ TUYẾT KHA
MSSV: 6116181

GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG
PHONG THẦN DIỄN NGHĨA CỦA HỨA TRỌNG LÂM

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths. GV. TẠ ĐỨC TÚ

Cần Thơ, 2014

1


ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích của đề tài
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

3.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
3.1.1. Cốt truyện được tổ chức theo kết cấu chương hồi
3.1.2. Cách kể diễn biến một cuộc chiến
3.2. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm
3.2.1. Không gian chiến trận
3.2.2. Không gian kì ảo
3.2.3. Không gian địa lý và không gian sinh hoạt
3.3. Sử dụng yếu tố tưởng tượng, hư cấu
3.3.2. Yếu tố thần thánh hóa
3.3.4. Yếu tố siêu nhiên, hoang đường

PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách đây khoảng năm sáu ngàn năm, truyền thuyết cho rằng ở phía Tây bắc
Trung Quốc ngày nay vốn là nơi phát tích và sinh tụ của một cộng đồng người đã sinh
sống, trên có vua, dưới có trăm quan, thứ dân cùng xây dựng một cuộc sống ấm no, hoà
thuận. Cộng đồng người này là tổ tiên xa xưa của nhân dân các dân tộc Trung Hoa.
Thời kì phát triển rực rỡ nhất của họ là Tam Hoàng Ngũ Đế sau đó là Tam Vương đã
nối tiếp nhau trị vì từ đời này qua đời khác.
Trung Quốc là một nước có chiều dài lịch sử lâu dài, trải qua hàng ngàn năm chế
độ phong kiến vẫn được gìn giữ qua các triều đại. Từ xa xưa, mỗi khi có hôn quân cai
trị hay gian thần nắm quyền thì nguy cơ triều đại đó sẽ bị diệt vong. Lúc ấy tất sẽ có
minh quân xuất hiện thuận theo “ý trời” và “lòng dân” với tư tưởng “Thiên hạ giả, phi

dung lớn lao đối với hiện thực cuộc sống con người và phải có một hình thức phù hợp
để chuyển tải nội dung ấy. Có thể nói thể loại tiểu thuyết chương hồi “Phong thần diễn
nghĩa” đã có được tiêu trí trên. Triều đại Minh là thời đại mà tiểu thuyết phát triển một
cách phồn vinh, rực rỡ nhất, không những đồ sộ về số lượng mà giá trị được tác phẩm
chuyển tải cũng đã có bước tiến vượt bậc so với văn chương truyền thống. Trong đó,
những bộ tiểu thuyết như "Tam quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du ký”... được
nhiều nhà người nghiên cứu đến các tác phẩm này.
Tuy nhiên, để tìm hiểu về “giá trị nội dung và nghệ thuật trong Phong thần
diễn nghĩa”, người viết nhận thấy những nghiên cứu trước đó về tác phẩm này còn hạn
chế. Đa số các nghiên cứu trước chỉ giới thiệu sơ lược về nội dung của tác phẩm chưa
đi sâu vào phân tích nội dung và nghệ thuật.
Trong quyển Văn học sử Trung Quốc (tập 3) của Chương Bồi Hoàn – Lạc Minh
Ngọc, Nhà xuất bản phụ nữ năm 2000. Các tác giả nghiên cứu về thời đại ra đời, ai là
người sáng tác?, dựa trên tư liệu lịch sử ghi lại đồng thời nêu lên những quan niệm
chính trị, đạo đức, giáo lý của xã hội phong kiến được thể hiện trong tác phẩm.
Còn trong quyển Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc (tập 2) do Bùi Hữu Hồng
dịch, Nhà xuất bản thế giới – Hà Nội năm 2000. Tác giả chủ yếu khái quát nội dung nêu
lên quan niệm chính trong tác phẩm, ngoài ra nêu sơ lược phần đặc sắc của nghệ thuật.
Theo Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn, do Lương Duy Tâm
dịch, Nhà xuất bản văn hóa năm 1996, Lỗ Tấn giới thiệu tổng quát về việc làm của nhà
Chu đánh phạt Trụ và sự so tài cao thấp của hai phái Xiển giáo và Triệt giáo nhưng
không đi sâu vào phân tích nội dung.

5


Còn theo cuốn Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc của Trần Xuân Đề, ông đưa ra
lời nhận định về luân lý đạo đức trong phong kiến “quân thần” và “tình nghĩa cha
con” cùng với hệ tư tưởng “thiên mệnh” là trên hết. Tác giả Trần Xuân Đề đã trích lại
lời khẳng định của tác giả phong thần “tôi có thể chống vua, tình nghĩa cha con bạn bè


xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Ngoài ra cần tìm hiểu về phương diện kết cấu trong tác
phẩm và xem xét các thủ pháp nghệ thuật tác giả đã sử dụng. Để từ đó rút ra những
nhận định, nội dung chính trong tác phẩm, sắp xếp theo một trình tự có hệ thống và đi
sâu vào khảo sát từng chi tiết để hiểu rõ hơn giá trị nhân văn của tác phẩm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trước tiên người viết sẽ tìm hiểu tiểu thuyết “Phong thần diễn nghĩa” với
những tư liệu nghiên cứu có liên quan. Sau đó tiếp thu một cách chọn lọc và kết hợp với
các phương pháp nghiên cứu khoa học. Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu đã tiến
hành khảo sát một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tổng hợp: với những tài liệu đã thu thập được, trên tinh thần là đọc
và khảo cứu tài liệu, người viết sẽ trình bày những gì mà bản thân đã chọn lọc được
trong tác phẩm.
Phương pháp phân tích: dựa vào lý luận văn học, lịch sử văn học, những nhận
định của các nhà nghiên cứu, căn cứ vào đó để phân tích chứng minh và rút ra kết luận.
Phương pháp giải thích: để minh họa cho những nhận định, đánh giá về các vấn
đề xung quanh liên quan đến đề tài, người viết dùng phương pháp giải thích nhằm nêu
lên nguyên nhân, hậu quả trong tác phẩm, do con người hay xã hội đó tác động đến.
Qua đó, tổng hợp lại rút ra những nhận xét chung nhất và chính xác nhất được nêu lên ở
tác phẩm phù hợp với đề tài đặt ra

7


PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Bối cảnh lịch sử thời Thương – Chu
Theo như cuốn Vương triều và Hoàng đế Trung Quốc của Trương Tự Văn thì

Đông, gây nên sự mâu thuẫn dân tộc. Vì vậy, vương triều nhà Thương diệt vong như là
sự định sẵn không thể nào khác được.
Trong lúc đó, bộ lạc Chu sống ở lưu vực sông Vị rất hưng thịnh và phát triển.
Vào khoảng năm 1066 Trước Công Nguyên, thủ lĩnh của bộ lạc Chu là Chu Vũ Vương,
thừa lúc nhà Thương đem quân đi đánh Đông Di, thống lĩnh quân liên minh các bộ lạc,
hội quân ở Mạnh Tân. Sau đó, vượt sông Hoàng Hà tiến về phía Bắc, về phía Triều ca,
đánh nhau với quân đội nhà Thương. Trong quân đội của Trụ Vương lúc đó có rất nhiều
binh lính là tù binh người Di, vốn đã bất mãn với nhà Thương, căm thù Trụ Vương. Vì
vậy, rất nhiều binh sĩ đã quay giáo chống lại nhà Thương ngay trên chiến trường. Ngày
Giáp Tý, quân đội của Chu Vũ Vương đã đánh bại quân đội của Trụ Vương. Thất thế,
Trụ Vương chạy vào Lộc đài, tự thiêu chết. Vương triều nhà Thương từ đó bị diệt vong.
Thay vào đó là vương triều nhà Chu tiếp tục cai trị đất nước.
1.2. Giới thiệu về tác giả và tác phẩm Phong thần diễn nghĩa
1.2.1. Tác giả, tác phẩm
Nói về tiểu sử của tác giả, tài liệu ghi chép rất ít. Chủ yếu chỉ ghi tác giả Hứa
Trọng Lâm mất năm 1566, năm sinh không rõ, hiệu là Chung Sơn Dật Tẩu. Ông sinh
tại Nhạn Thiên – huyện Trực Lệ - phủ Ứng Thiên (nay gọi là Nam Kinh) vào thời nhà
Minh. Mọi người đều cho rằng ông là tác giả của Phong thần diễn nghĩa.
Theo như cuốn Văn học sử Trung Quốc (tập 3) thì tiểu thuyết Phong thần diễn
nghĩa gồm có một trăm hồi, bản in đầu tiên được giử ở nội các văn khố bên Nhật Bản
do Thư Tải Dương đời Minh khắc và nhờ Chung Tinh phê bình. Trong quyển thứ hai
của sách thì ghi là Chung Sơn Dật Tẩu của Hứa Trọng Lâm biên soạn. Ở đầu quyển
sách có ghi lời tựa của Lý Vân Tường người Hàn Giang viết: “Bạn tôi là Thư Xuân Phụ
từ Sở Trung mua với giá tiền cao một quyển Phong thần có lời của Chung Bá Kính tiên
sinh phê duyệt. Do ông chưa hoàn tất công việc nên ủy thác cho tôi làm việc này” [9, tr.
435]. Dựa vào chi tiết đó để phán đoán thì nghĩ rằng tác giả đầu tiên của quyển sách
này là Hứa Trọng Lâm, người viết tiếp theo đó là Lý Vân Tường. Niên đại hoàn thành
sách này là những năm niên hiệu Thiên Khải đợi Minh. Đây là câu chuyện Khương Tử

9

Là một bộ tiểu thuyết được xây dựng trên cơ sở cuốn Vũ Vương phạt Trụ bình
thoại in đời Nguyên. Tác phẩm xoay quanh việc suy vong của nhà Thương và sự nổi
loạn của nhà Chu, lồng vào đó vô số thần thoại, truyền thuyết và tôn giáo Trung Hoa,

10


bao gồm các thần, tiên, yêu, ma... Bên cạnh đó, Phong thần diễn nghĩa miêu tả cuộc
sống của người Trung Hoa đương thời, nơi tôn giáo có thể là đóng vai trò lớn trong
cuộc sống hàng ngày. Thông qua đó nói lên tư tưởng quan niệm của tác giả.
Phong thần diễn nghĩa bắt đầu với câu chuyện kể về vua Trụ đi dâng hương, vua
trông thấy tượng bà Nữ Oa có nhan sắc tuyệt trần, bèn đề một bài thơ trên vách tường
với hàm ý hỗn xược khiến cho Nữ Oa nổi giận. Nữ Oa sai ba con yêu nữ là Hồ Ly ngàn
năm ở mộ Hoàng Đế mê hoặc vua Trụ nhằm làm cho nhà Thương sụp đổ, tạo cơ nghiệp
cho nhà Chu thay thế. Một trong ba yêu quái là hồ ly tinh đã tu luyện ngàn năm, giết
chết Tô Đát Kỷ con của Ký Châu hầu Tô Hộ được vua tiến cung, rồi nhập xác vào để ra
mắt nhà vua. Từ ngày Đát Kỷ vào cung vua Trụ ngày thì mở ăn tiệc chơi, tối đến vui
riêng trong cung cấm, bỏ phế việc triều nghi. Được nhà vua sủng ái, Đát Kỷ lộng hành,
xúi vua chế Bào lạc, làm Sái bồn, xây Nhục lâm , trừ khử các bề tôi trung thành, giết
hoàng hậu và toan giết cả hai hoàng tử. Bên cạnh đó, Đát Kỷ giả còn tìm cách hại các
chư hầu lớn, vua Trụ theo lời mời họ vào chầu rồi bắt Tây Bá là Cơ Xương bỏ ngục
giam giữ ở Dũ Lý.
Viên quan tổng binh ải Trần Đường tên Lý Tịnh, vốn là học trò ông Độ Ách núi
Côn Lôn, khi còn nhỏ đi tu, sau bị đuổi về ra phò vua Trụ. Lý Tịnh có ba người con là
Kim Tra, Mộc Tra và Na Tra. Na Tra làm đồ đệ của Thái Ất Chân Nhân, lên bảy tuổi
đã đại náo biển Đông, rút gân tam thái tử con của Long Vương. Long Vương đến nhà
Lý Tịnh đòi đền mạng. Na Tra bằng lòng mổ ruột, lóc thịt chặt xương mình đền tội để
cha mẹ được sống. Na Tra hiện hồn về nhờ mẹ lập miếu ở núi Tây Bình nhưng Lý Tịnh
nổi lửa đốt miếu. Thái Ất dùng lá sen và bông sen làm lại xác cho Na Tra, sau đó tìm
đến Lý Tịnh để trả thù, cha con oán ghét nhau, nhờ có Nhiên Đăng đạo nhân hòa giải

1.2.3. Vài nét về tiểu thuyết và tiểu thuyết chương hồi
1.2.3.1. Tiểu thuyết
Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của
một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó, sự trần thuật ở đây được
khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu”
của nhân cách. Theo Belinski gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư”. Do chỗ nó “miêu tả
những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội
tâm của con người” [1, tr. 312, 313].
Lịch sử phát triển tiểu thuyết đã để lại cho nền văn học thế giới những thành tựu
rực rỡ, từ những kiệt tác tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đến những tác phẩm đò sộ
của tiểu thuyết hiện thực phê phán phương Tây, từ tiểu thuyết sử thi hoành tráng trong
văn học Nga đến những văn chương hiện thực huyền ảo Mỹ La-tinh, sự phát triển mạnh
mẽ và thoát khỏi dòng văn học truyền thống truyền thống của những nền văn học Châu

12


Á… Những điều ấy đã tạo dựng nên diện mạo đặc biệt của tiểu thuyết trong suốt thời
kỳ đã qua tính từ khi hình thành thể loại.
Có thể nói, Trung Quốc là một nơi có tiểu thuyết xuất hiện rất sớm, vào thời kỳ
Ngụy – Tấn (thế kỷ 3 – 4) tiểu thuyết manh nha dưới dạng những tác phẩm chí quái, chí
nhân. Sang đời nhà Đường xuất hiện thể loại truyền kỳ, đời Tống lại có thêm dạng
thoại bản. Từ đời Minh văn học Trung Quốc nói chung và văn xuôi Trung Quốc nói
riêng phát triển rực rỡ với những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc
diễn nghĩa của La Quán Trung. Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du ký của Ngô Thừa Ân,
Kim Bình Mai của Tiểu Tiếu Sinh… Đời Thanh bước phát triển của tiểu thuyết chương
hồi đã tới thời điểm hoàng kim qua hàng loạt danh tác như Chuyện làng Nho (Nho lâm
ngoại sử) của Ngô Kính Từ, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần. Thời hiện đại các trào
lưu văn học phương Tây đương thời đã ảnh hưởng đến tiểu thuyết Trung Quốc với sáng
tác của các tác giả như Lỗ Tấn, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn… có thể coi là đã vượt thoát

tiểu thuyết hiện thực, làm tiền đề cho tiểu thuyết của chủ nghĩa hiện thực phát triển
mạnh ở giai đoạn sau đó với Balzac, Stendhal, Flaubert, Ch. Dickens… Tiểu thuyết sử
thi của L. Tolstoi với sự trần thuật đạt được tính bao quát, sự mô tả đời sống nội tâm
nhân vật lần đầu tiên cho phép tiểu thuyết tái hiện được “biện chứng của tâm hồn”. Tiểu
thuyết đối thoại của Dostoeski với con người đời tư được đặt trong tương quan với cả
thế giới. Thế kỷ 20 tiểu thuyết phương Tây phát triển trong sự đa dạng đối nghịch nhau
về nhiều mặt, bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết hiện thực với khuynh hướng
hiện thực phê phán và khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, lại cho thấy hàng loạt
các nguyên tắc tiểu thuyết vốn đã thành truyền thống trước kia bị biến đổi: độc thoại
nội tâm như một thủ pháp của tiểu thuyết dòng ý thức, bình diện thời gian và không
gian với sự xáo trộn liên tục, đời sống hiện thực hòa quyện cùng huyền thoại, kể cả vai
trò không kém phần quan trọng của người kể chuyện, chính là những lời kể có cả cái
biết và cái không biết, cái khách quan lẫn chủ quan.

1.2.3.2. Tiểu thuyết chương hồi
Tiểu thuyết chương hồi là một thuật ngữ chỉ một thể loại tiểu thuyết trường thiên
quan trọng trong văn học cổ điển Trung Quốc. Tiểu thuyết viết theo dạng này phân chia
tác phẩm thành các hồi khác nhau, phát triển từ các lối giảng sử thoại bản (chủ yếu là
chuyện lịch sử) thời Tống – Nguyên. Giảng sử thoại bản là hình thức kể chuyện (thuyết
thư nhân – người kể sách, thuyết thoại nhân – người kể chuyện) qua các đời kể lại; đối
với những câu chuyện có dung lượng lớn họ không thể kể xong ngay trong một lần nên
buộc phải ngắt thành các phần khác nhau, mỗi phần được đặt một tiêu đề tóm lược nội
dung, đó chihs là cơ sở hình thành các hồi và các tiêu đề cho các hồi của tiểu thuyết

14


chương hồi về sau. Trong giảng sử thoại bản người ta phân chia các mục cho các đoạn,
các quyền mà chưa phân thành hồi. Cuối thời Nguyên đầu thời Minh các tác giả dựa
vào thoại bản để sáng tác tiểu thuyết trường thiên trong đó nổi tiếng nhất là hai bộ



Theo đời sống tâm linh của con người cho rằng , thế giới thần tiên là một thế
giới huyền ảo cách biệt với thế giới trần gian do con người tưởng tượng ra. Nơi đó có
thần tiên định cư, cai quản mọi việc của chúng sinh trong thiên hạ. Họ đã trải qua quá
trình tu luyện và lập nhiều công đức cho nhân loại mới trở thành chánh quả thoát khỏi
trần tục. Các thần tiên đều có năng lực siêu nhiên biết được quá khứ vị lại. Đất nước
Trung Quốc cho rằng, thời xa xưa đã có thần, người, ma quỷ…ở nơi nào cũng có,
chung sống với nhau lẫn lộn. Từ đó có sự phân chia rành mạch với nhau thành tam giới,
trên trời có Ngọc Hoàng Thượng Đế và các tiên gia, trần gian thì có con người và vạn
vật chúng sinh, dưới đất có ma quỷ do Diêm Vương cai quản. Tuy nhiên đều do sự
tưởng tượng hư cấu của con người mà ra.
Tác phẩm Phong thần diễn nghĩa dựa trên những truyền thuyết đó, Hứa Trọng
Lâm đã mượn yếu tố “thần tiên” sáng tạo ra tương đối hoàn chỉnh. Các thần tiên được
nhắc đến là Nữ Oa, Nguyên Thủy Thiên Tôn… vì các nhân vật thần tiên này đều gắn
liền với đời sống tâm linh của nhân dân Trung Hoa.
Nhân vật Nữ Oa mở đầu cho cốt truyện phong thần và sự mất nước của vua Trụ.
Trong một lần đi viếng miếu Nữ Oa, Trụ Vương đã cố tình đề thơ trêu ghẹo. Vì quá tức
giận vua bất kính với bề trên Nữ Oa làm cho vua Trụ mất nước, tạo cảnh Thương – Chu
đánh nhau. Qua đó nói lên việc làm sai trái của Trụ Vương, đồng thời dựa vào thần tiên
để trừng trị kẻ bạo ngược trái lại ý trời không tôn kính thần linh. Cũng nhờ việc làm của
nhân vật Nữ Oa mà trần gian có được một triều đại thay thế hưng thịnh hơn. Nhân vật
Nữ Oa được xây dựng lên vừa là người mở đầu câu chuyện vừa là người khép lại hồi
kết tác phẩm khi bà thu phục ba con yêu tinh. Tuy tần số xuất hiện của nhân vật Nữ Oa
không nhiều nhưng cũng mang lại ý nghĩa trong tác phẩm.
Cùng với nhân vật thần tiên có một tấm lòng ủng hộ việc “nhân chính” như Nữ
Oa thì tác giả xây dựng nhân vật thần tiên Nguyên Thủy Thiên Tôn là người có đạo
hành cao của Đạo giáo. Nguyên Thủy vốn là Giáo chủ phái Xiển giáo ở cung Ngọc Hư
núi Côn Lôn, thừa lệnh của Ngọc Hoàng Thượng Đế phải lập ra một bảng phong thần
khi Trụ Vương mất nước, sau đó tùy công trạng của mọi người mà phong thần cho phù

nhân vật xuất hiện có phần bí ẩn như chính cuộc đời của nhân vật nhưng lại đầy ý nghĩa
và nổi bật suốt trong tác phẩm.
Khương Thượng vốn là học trò của Nguyên Thủy Thiên Tôn, chưa tu hành thành
chánh quả đã phải nhận mệnh lệnh của thầy hội tụ 365 vị tinh tú ứng vào thời Thương –
Chu đánh nhau để xét công phong thần nên đã hạ sơn. Từ đó cuộc đời của nhân vật
được mở ra khi xuống núi rồi lấy vợ ở tuổi cổ lai hy nhờ một người bạn tên Tống Dị
Nhân làm may. Tuy gia cảnh khó khăn nhưng Khương Thượng vẫn nuôi chí lớn muốn
dùng sức mình để góp vào việc an bang trị quốc. Và rồi được làm quan Đại phu dưới

17


tướng Trụ Vương nhưng nhân vật này biết nhìn xa trông rộng, thấy vua Trụ hoang dâm,
mê tửu sắc, bạo ngược độc ác, giết hại dân chúng chém đầu tôi trung, ông thương tiếc
cho cảnh đời dân chúng lầm than nhưng không có cách nào ngăn cản vua. Trước tình
cảnh khốn khổ của bá tánh, Trụ Vương bắt Khương Thượng giám sát xây dựng Lộc đài
để vui vẽ cùng Đát Kỷ. Khi xem họa đồ vẽ Lộc đài nhân vật nghĩ thầm: “Triều Ca là
chốn tạm bợ của ta, lẽ đâu dốc sức làm việc này để mang tiến theo hùa với hôn quân
hại dân hại nước. Chi bằng tìm lời thoái thác, nếu hôn quân giận, ta sẽ đào tẩu trước
cho rồi, đừng để lụy thân”[16, tr. 206]. Và rồi nhân vật quyết định “trốn sang Tây Kỳ,
tìm kế sanh nhai, đợi lúc gặp chúa ra phò cũng không mất vinh hoa phú quý đâu” [16,
tr. 212]. Vậy là Khương Thượng tìm đến đất Tây Kỳ ẩn mình ở núi Bàn Khê đợi lúc
gặp chúa hiền. Ở đây ngày ngày nhân vật đạo hành câu cá ở sông Vị chờ thời vận mong
được minh chúa trọng dụng. Thời cơ đã đến, ông được Văn Vương thân đến mời, dùng
lễ mà đối đãi, rước hiền tài về giúp sức Khương Thượng nhận lời. Từ đây ông làm thừa
tướng nhà Chu, một lòng phụng sự cho Văn Vương và phò tá Vũ Vương phạt Trụ.
Được sự ủy thác của Văn Vương, Khương Thượng lo hết mọi việc chính sự
trong triều và được các quân thần ủng hộ, đất Tây Kỳ ngày một hưng thịnh. Có thể nói
việc làm của Tử Nha tạo được lòng tin trong dân chúng mang đến cuộc sống ấm no cho
dân chúng đất Tây Kỳ, hành động này không chỉ là vì lợi ích riêng mà hiểu cho chúng

phải đền mạng, lóc thịt trả mẹ, róc xương trả cha, từ đây không còn cốt phàm nữa. Nhờ
Thái Ất chân nhân dùng cốt sen làm xương, lá sen làm thịt, làm phép hoàn hồn nhập
sát. Na Tra từ đây mang cốt thần tiên, có thể biền ra ba đầu sáu tay, lại được ban cho
Hỏa Tiên thương, hai chân đi trên bánh xe Phong Hỏa. Sau khi theo Tủ Nha phò Vũ
Vương thì lặp nhều công trong cuộc thảo phạt nhà Thương.
Song song đó, tác giả Hứa Trọng Lâm xây dựng một nhân vật có đạo hành
không kém phần so với Na Tra đó là Dương Tiễn. Nhân vật này vốn là học trò của
Ngọc Đỉnh chân nhân, là một trong những tướng kiệt xuất, thông minh nhất dưới tướng
Tử Nha. Tác giả phát họa nhân vật là một thần tướng phi phàm, giữa chán có con mắt
thứ ba có thể nhìn thấu căn tu của người khác, lão có Thất thập nhị huyền công và con
Hạo Khuyển Thiên theo hộ vệ. Ở những trận đấu mấu chốt trí tuệ và tài biến hóa của
Dương Tiễn được thể hiện, nhất là trong trận đại chiến Tru Tiên và Vạn Tiên. Về sau
khi đại nghiệp nhà Chu hoàn thành, nhân vật không màng đến công danh mà trở về tu
hành.
Bên cạnh hai nhân vật trên thì Lôi Chấn Tử là một nhân vật không thua kém. Lôi
Chấn Tử vốn sinh ra từ tiếng sấm, được Văn Vương nhận làm con nuôi, rồi được Vân
Trung Tử truyền dạy võ công cho, Lôi Chấn Tử ăn hai trái đào tiên mà biến hình dị

19


nhân, mọc ra đôi cánh dơi, tóc đỏ mặt xanh nanh dài miệng rộng, con mắt như lục lạc
sáng tự hào quang, cực kỳ lợi hại khi ra trận chiến.
Cả bảy vị thần tiên “Bốn cha con Lý Tịnh, Vi Hộ, Dương Tiễn, Lôi Chấn Tử”,
các nhân vật này theo lời thầy và cũng ứng mệnh trời mà xuống núi giúp Võ Vương
phạt Trụ cứu dân, khi đại nghiệp đã thành thì không màng công danh phú quý, đồng xin
giã biệt về núi, không nghĩ đến thế sự một lòng tu hành chánh quả khiến cho ngưới đời
cảm phục: “Chúng tôi là người núi non, vâng lệnh thầy xuống giúp bệ hạ mà thôi. Nay
đã thái bình thanh trị, chúng tôi xin về núi tu hành, còn việc phú quý thì chúng tôi
không muốn”[17, tr. 539].

người nhân đức lên thay thế cứu dân chúng thoát khỏi cảnh lầm than.
Hình tượng nhân vât Vũ Vương trong tác phẩm với tính cách nhân đức vượt qua
con người thật trong lịch sử, thể hiện lý tưởng nguyện vọng của nhân dân bá tánh về
một vị minh chúa chân chính nhân từ. Nhưng cũng vì vượt quá xa bản chất của người
thật trong lịch sử nên sự tồn tại của nhân vật có phần mơ hồ. chất hiện thực có phần hơi
giảm súc. Người đọc mến lòng nhân dức hiền từ của Vũ Vương nhưng cũng không
bằng lòng với thái độ thiếu tự tin của nhân vật khi trước đại nghiệp phạt Trụ. Tuy
nhiên, vì cảm phục lòng nhân đức của nhân vật mà có nhiều kẻ sĩ giúp nên cơ nghiệp
dẹp nhà Thương thành công. Triều nhà Chu thành lập một vương triều mới hưng thịnh
hơn tám trăm năm đã ra đời tại Trung Quốc thời cổ đại.
Tác giả Hứa Trọng Lâm đã xây dựng một nhân vật thánh hiền xen lẫn với nhân
vật gian các để nêu ý nghĩa tà không thắng chính, cái thiệc sẽ chiến thắng cái ác. Đồng
thời cho người đọc khái quát được sự chân thật của xã hội phong kiến Trung Quốc thời
xưa có người tốt và người xấu.
1.3.4. Nhân vật tàn bạo vô đạo
Phong thần diễn nghĩa xây dựng lại nhân vật Trụ Vương, một con người đã đi
vào lịch sử của Trung Quốc. Đây là nhân vật có tính cách phức tạp, khác hẳn với nhân
vật Vũ Vương. Nhân vật này mang một bộ mặt tàn bạo, vô đạo, của chủ nghĩa cực đoan
của giai cấp thống trị, phản ánh những việc làm trái với đạo trời mà người đời luôn
không thể dung tha được. Bằng những chi tiết chân thật, tác giả khắc họa Trụ Vương,
con người có nhiều tài năng nhưng chủ yếu là những sự gian trá bạo ngược. Ông coi
mình tài trí hơn người, tôi thần có tâu bẩm lời hay ý đúng đến đâu, ông cũng không
thèm nghe. Ngoài tính cách “tự cho mình là đúng nhất”, vua Trụ còn đam mê tửu sắc,
nhất là say đắm người đẹp có một không hai lúc bấy giờ là Đát Kỷ. Đát Kỷ nói gì, vua
Trụ cũng nghe theo, Đát Kỷ là ái phi của vua Trụ, có nhan sắc đẹp tuyệt trần nhưng
lòng dạ cay nghiệt, thường xuyên mê hoặc vua Trụ bày trò hại người để mua vui. Sự tàn
ác của vua Trụ bị các chư hầu, đại thần kể cả nhân dân phản đối. Tác giả xây dựng một

21


thực tế về một vị vua lỗi đạo, mất hết nhân cách trong xã hội phong kiến Trung Quốc
thời cổ đại như những gì ghi chép lại trong sử sách.

22


1.3.5. Nhân vật là yêu tinh
Tác giả Phong thần diễn nghĩa đã sáng tạo ra một thế giới nhân vật yêu tinh
tham gia trong tác phẩm tạo thêm sự sinh động vào câu chuyện phong thần đầy đủ ba
yếu tố “thần, người, yêu tinh”. Tác giả xây dựng những hình tượng yêu tinh đã được
nhân cách hóa. Các yêu tinh cũng là lực lượng thống trị ở hiện thực trần gian, bọn họ
cấu kết với giai cấp thống trị làm mọi điều ác. Đại diện cho thế lực này là Hồ Ly ngàn
năm, Chim Trĩ chín đầu, Đàn Tỳ Bà bằng đá ngọc thạch. Trong đó, tác giả khắc họa
nhân vật Hồ Ly tinh ngàn năm hóa thân vào nhân vật Tô Đát Kỷ mang tính cách một
con người hoàn chỉnh. Tác giả không nêu rõ lai lịch của Hồ Ly ngàn năm, chỉ biết đây
là yêu tinh đã tu luyện thành người sống ở mộ Hoàng Đế, rồi được Nữ Oa sai khiến mê
hoặc Trụ Vương mà thôi. Tác giả miêu tả rằng Đát Kỷ chỉ là người bình thương, con
gái của Ký Châu hầu Tô Hộ. Do vua Trụ háo sắc, nghe lời của hai tên gian thần Bí
Trọng và Vưu Hồn, nên đòi Tô Hộ phải dâng con gái để nạp làm phi tầng. Nhưng trên
đường dâng nạp thì Đắt Kỷ đã bị Hồ Ly hút hồn, nhập xác để làm nhiệm vụ. Từ chi tiết
đó Hứa Trọng Lâm đã dựng lên một câu chuyện yêu tinh Hồ Ly thay thế thân xác của
Đắt Kỷ mà bày ra những chuyện xấu, xúi dục vua Trụ làm theo mình. Mặc khác nhân
vật này còn ghen tị, kết cấu với bạn gian thần Vưu Hồn, Bí Trọng lập mưu hại chết
chính cung Hoàng Hậu và hai vị Thái tử. Mong muốn làm hoàng hậu mẫu nghi của
thiên hạ nên tìm cách hãm hại. Nhờ sự khéo léo của mình, biết cách mê hoặc làm vua
Trụ hết mực yêu thương, khi nói ra điều gí vua cũng nghe theo và chiều theo, quấy phá
triều cương ngày càng hỗn đoạn. Bên cạnh còn dựng lên những nơi ăn chơi lạc thú như
Lộc Đài, Tửu Trì Nhục Lâm để hưởng thụ vui vẽ cùng vua Trụ, làm cho hao tiền tốn
của bá tánh đói khổ lầm than oán trách. Việc làm của Hồ Ly ngày càng quá khi ép vua
giết hại thân thuộc do sự bất hòa với Tỷ Can bắt ông phải moi tim ra làm thuốc. Sự tàn

chạy theo dục vọng mà cuộc sống trở nên xa xỉ đồi bại, đất nước ngày càng suy yếu,
lòng dân oán ghét. Vừa lúc ấy xuất hiện một người tên Thành Thang giúp dân chúng lật
đổ Hạ Kiệt lập nên nhà Thương. Sau khi vua Thành Thang lập nên triều đại Thương,
con cháu nhà vua nối tiếp nhau lên làm vua trải qua sáu trăm năm, truyền đến đời vua
Trụ lại theo vết xe đổ của vua Kiệt còn tàn bạo hơn, khiến triều Thương suy vong, bị
Vũ Vương lật đổ xây dựng nên triều đại nhà Chu.
Trong lịch sử Trung Quốc, những ông vua như Kiệt, Trụ vô bạo hoang dâm hay
câu chuyện Vũ Vương phạt Trụ đã xảy ra từ hơn 10 thế kỷ trước Công Nguyên, được
lưu truyền như câu chuyện truyền thuyết. Sự kiện lịch sử đó cùng với việc hư cấu của
Hứa Trọng Lâm đã xây dựng lên Phong thần diễn nghĩa mang nội dung phong phú và
hấp dẫn. Nội dung trong tác phẩm phản ánh được hiện thực nền chính trị phong kiến
của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Thông qua hình tượng nhân vật Trụ Vương, một
ông vua đại diện cho nền chính trị bạo ngược, chủ nghĩa cục đoan của giai cấp thống trị.
Tác giả miêu tả những việc làm trái với đạo lý của một kẻ thống trị làm mất lòng tin ở
thần dân và việc làm đó người đời không thể dung tha. Bằng những chi tiết chân thật,
tác giả đã xây dựng lại những việc làm tàn bạo của tên hôn quân trong ba mươi hồi đầu
của tác phẩm, nhằm phản ánh và tố cáo hiện thực nền chính trị cực đoan của chế độ
phong kiến cổ xưa.
Giữa lúc vua Trụ đang trị vì thiên hạ. Vua vốn có tài ăn nói, chuộng lẽ phải,
nhanh trí, có sức mạnh phi thường: “Nhân khi vua Thái Ất ngự ngoài vườn xem hoa
mẫu đơn với các quan, thấy lầu Phi Vân gãy mất một kèo, liền truyền các quan thay cây
kèo ấy. Các quan xúm lại đỡ không nổi. Bấy giờ có Ân Thọ đi theo, thấy vậy một mình

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status