TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
PHẠM THANH THẢO
MSSV: 6116152
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG
CHINH PHU NGÂM CỦA HỒNG LIỆT BÁ
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS.GV. TẠ ĐỨC TÚ
Cần Thơ, năm 2014
1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Văn học Việt Nam trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ
XIX
1.1.1. Tình hình lịch sử
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX là thời kì đỉnh cao của văn
học với những thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam trong khi
xã hội phong kiến bắt đầu dấu hiệu của sự suy vong vĩnh viễn. Kiệt tác Truyện Kiều
của Nguyễn Du đã đánh dấu sức mạnh của nền văn học nước nhà, cùng với đó là sự ra
đời của Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều mà theo như Nguyễn Lộc thì đó là
một “lâu đài nghệ thuật bằng ngôn ngữ”.(NGUỒN)
Cũng trong giai đoạn này, người ta đặc biệt chú ý hơn đến số phận của con người
khi hàng loạt những cuộc chiến tranh phi nghĩa nổ ra chỉ vì âm mưu xâm lược và tranh
giành quyền lực. Long đong nhất vẫn là thân phận người phụ nữ khi những hạnh phúc
giản đơn đáng có lại quá đỗi mong manh, khó khăn khi phải bị áp đặt trong vòng giáo
lí phong kiến. Cảm thông cho những bất hạnh đó, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương
đã dành tất cả những tài hoa của mình để lên tiếng bênh vực người phụ nữ, tố cáo xã
hội phong kiến vô lương bằng sự nghiệp văn thơ khá đồ sộ. Ủng hộ tình yêu tự do và
niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận con người là giá trị nhân đạo cao cả trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du. Và xót xa hơn là khi trải lòng cùng những người chinh
phụ mòn mõi vọng phu khi nước nhà binh biến. Nổi bật ở mảng đề tài đó là tác phẩm
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, do Đoàn Thị Điểm diễn Nôm. Chinh phụ ngâm
đã đặt hạnh phúc con người trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa, để từ đó ta thấu
hiểu được những tâm tư, những khao khát về một hạnh phúc lứa đôi khi xã hội phong
kiến và chiến tranh đang ruồng rẫy, quay lưng với hạnh phúc con người, đặc biệt là
người phụ nữ.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm
như: Chinh phụ ngâm bị khảo của GS. Hoàng Xuân Hãn, Tiếng nói của Đoàn Thị
Điểm trong Chinh phụ ngâm khúc của GS. Lê Hữu Mục và GS. Phạm Thị Nhung, hay
Đến với Chinh phụ ngâm của Ngô Viết Dinh,… Cũng trong giai đoạn này, song song
với sự ra đời của Chinh phụ ngâm là tác phẩm Chinh phu ngâm của Hồng Liệt Bá. Văn
học trong giai đoạn này quan tâm nhiều hơn đến thân phận người phụ nữ, và các tác giả
công về hình ảnh người chinh phụ, điều đó đã đặt ra vấn đề cho rất nhiều công trình
nghiên cứu xoay quanh tác phẩm này. Có lẽ vì thế mà hình ảnh người chinh phu dường
5
như bị quên lãng, tồn tại song song với hình ảnh người chinh phụ, Chinh phu ngâm của
Hồng Liệt Bá đã tái hiện hình ảnh của một chinh phu rong ruổi nơi sa trường cũng
mang tâm tư không khác xa gì người chinh phụ. Chung quy chúng tôi nhận thấy giữa
hai tác phẩm có mối tương quan về nội dung, trên cơ sở các công trình nghiên cứu về
Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, nay chúng tôi xin nghiên cứu về một đề tài mới
là khai thác giá trị nội dung trong Chinh phu ngâm của Hồng Liệt Bá. Trong quá trình
nghiên cứu ắt không tránh khỏi những thiếu sót, mong được sự đóng góp của cán bộ
hướng dẫn để công trình nghiên cứu của chúng tôi hoàn thiện hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài đặc điểm nội dung trong Chinh phu ngâm của Hồng Liệt Bá,
chúng tôi đi sâu vào khai thác những giá trị nội dung cũng như những đặc sắc về nghệ
thuật góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm. Trên cơ sở khái quát lại nền văn học
trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, những đặc
điểm về sự phát triển của nền văn học nói chung và thể loại văn học nói riêng, nhận
thấy Chinh phu ngâm trong giai đoạn này là một tác phẩm đặc sắc và có sức ảnh hưởng
hết sức sâu rộng. Lần đầu tiên tiếng nói bênh vực quyền lợi con người đồng loạt vang
lên một cách mạnh mẽ.
Về nội dung tác phẩm chúng tôi đi sâu vào khai thác những góc cảm xúc, những
cung bậc tình cảm đan xen khó định nghĩa của nhân vật, những đặc sắc nghệ thuật qua
đó nổi bật lên giá trị nhân đạo mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm.
4. Phạm vi nghiên cứu
Không nổi bật so với Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, song Chinh phu
ngâm của Hồng Liệt Bá vẫn giữ một vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt
Nam giai đoạn lúc bấy giờ. Tác phẩm đã phơi bày sự nhiễu nhương của xã hội phong
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Văn học Việt Nam trung đại giai đoạn nửa cuối TK XVIII nửa đầu
TK XIX.
1.1.1
Tình hình lịch sử
Nếu ở giai đoạn XVI – XVIII, nhà nước phong kiến có những bước phát triển
vượt bật, thế mạnh của tiềm lực kinh tế hàng hóa và giao lưu với thế giới đã ảnh hưởng
đến đời sống của nhân dân ta ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Thì vào nửa cuối thế kỉ
XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX xã hội Việt Nam đã xuất hiện mầm móng của sự khủng
hoảng nghiêm trọng, không lối thoát với diện mạo suy yếu: nông nghiệp đình đốn,
ruộng đất rơi vào tay bọn địa chủ, cường hào, tô thuế bất công tăng vọt. Công thương
nghiệp không có điều kiện phát triển, giẫm chân tại chỗ, giao lưu buôn bán của các
thương nhân bị Chúa Trịnh ngăn cản tuyệt đối làm cho thương nghiệp đình trệ, đời
sống nhân dân điêu đứng, khổ sở. Nền giáo dục dù có phát triển về số lượng song chất
lượng vẫn không có gì đặc biệt, vấn đề thi cử trở thành môi trường mua bán của bọn
thống trị tham tiền và bọn ngu dốt lười biếng. Giai cấp phong kiến thống trị bất lực,
tranh quyền đoạt lợi. vua quan bù nhìn, hoang dâm vô đạo khiến xã hội rối ren điên đảo
càng trở nên mục ruỗng thối nát.
Những mâu thuẫn, xung đột âm thầm diễn ra trong xã hội phong kiến bất công đã
kéo theo những cuộc khởi nghĩa. Giai đoạn này được mệnh danh là “Thế kỉ nông dân
khởi nghĩa” khi hàng loạt các cuộc đấu tranh của nông dân liên tiếp trỗi dậy mạnh mẽ ở
khắp nơi mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn (1771 – 1789) do ba anh em Nguyễn
Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tổ chức lãnh đạo. Phong trào Tây Sơn là sự quật khởi
của tầng lớp nhân dân bị áp bức đứng lên lật đổ chế độ phong kiến suy tàn, phản dân
hại nước. Phong trào đã thống nhất lãnh thổ, điều hòa cơ sở kinh tế xã hội và ổn định
nhân dân, đặt cơ sơ cho vấn đề thống nhất đất nước.
lực này, đã khảo sát cuộc đấu tranh giai cấp và đã nghiên cứu các sự chuyển biến
muôn hình vạn trạng của nó, chúng ta mới có thể phát huy ý kiến một cách thỏa đáng
đôi chút về lịch sử tinh thần của xã hội văn minh.”(NGUỒN)
9
Văn học Việt Nam giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn văn học Lê Mạc –
Nguyễn sơ hay văn học cổ điển Việt Nam. Tuy nhiên đó chỉ là những cách gọi chưa
phù hợp về mặt cơ sở.
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX phát
triển mạnh về lực lượng sáng tác so với các giai đoạn trước. Nếu giai đoạn từ thế kỉ X
– XV dưới triều đại nhà Lý, nhà Trần, thời Lê sơ lực lượng sáng tác chính là các nhà
sư, nhà nho. Thế kỉ XVI – nửa đầu thế kỉ XVIII vẫn là các nhà nho, các nho sĩ ở ẩn thì
đến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX lực lượng sáng tác tuy vẫn là
các nho sĩ quan liêu nhưng bên cạnh đó nho sĩ thuộc tầng lớp bình dân đã chiếm một vị
thế khá đặc biệt trong thành phần tác giả. Bởi lẽ giai đoạn này những người thuộc tầng
lớp bình dân, những người nông dân làm ruộng, những người buôn bán cũng được tạo
điều kiện học tập. Ở giai đoạn này, các nho sĩ có những thay đổi rõ rệt so với các giai
đoạn trước: vốn sống được mở rộng, kiến thức về văn hóa cũng ngày càng phong phú
hơn. Các nho sĩ bình dân đời sống của họ gắn liền với nhân dân, cùng vui niềm vui của
dân và cùng đau nỗi đau của muôn vàn số phận, các nhà văn thuộc tầng lớp quan liêu
cũng không ngoại lệ, họ cởi mở hơn trong cách nhìn nhận xã hội, những tâm tư suy
nghĩ đã không còn gói gém trong khuôn khổ phong kiến ngặt nghèo như trước nữa, họ
biết vung ra, dàn trải ra giữa cuộc đời những cảnh nghèo khổ, long đong của muôn dân
đang tồn tại trong một đất nước chưa thể định đoạt số phận. Chính vì lẽ đó mà giai
đoạn này công chúng văn học được mở rộng không chỉ những người thuộc tầng lớp
trên mà đông đảo là những độc giả thuộc tầng lớp trung và dưới.
Không những thế, nghề in và bán sách ở giai đoạn này có nhiều bước tiến mới
mẻ góp phần thúc đẩy sáng tác văn học, nếu trước đây chỉ có sách của vua chúa mới
dân tộc phát triển rực rỡ cả về số lượng lẫn chất lượng, nhất là về chất lượng.
Văn học chữ Hán ở giai đoạn này dù không có thế mạnh bằng văn học chữ Nôm.
Tuy nhiên so với giai đoạn trước thì số lượng tác phẩm rất nhiều và đạt được những
thành tựu đáng kể, xuất hiện những nhà văn nhà thơ lỗi lạc như: Phan Huy Ích, Trịnh
Sâm, Ngô Thời Sĩ,…
Văn xuôi chữ Hán giai đoạn này vẫn là văn xuôi chính luận, văn xuôi tự sự và
đặc biệt là văn kí sự, ghi chép lại những bước đi của đất nước trong chiều dài lịch sử
mà Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái là một tác phẩm tiêu biểu. Thơ chữ
Hán vẫn giữ nguyên như cũ, chủ yếu là thơ Đường luật, ngoài ra còn có thể thơ trường
thiên, cổ phong,…
Văn học chữ Nôm phát triển vượt bật chưa từng thấy, bởi ở giai đoạn này vấn đề
cấm chữ Nôm đã không còn tác dụng, việc mở rộng dạy học ở nông thôn góp phần làm
11
tăng cường đội ngũ sáng tác. Dù đi ngược với tình hình xã hội lúc bấy giờ, song sự
phát triển của văn học vẫn chịu sự quy định chặt chẽ của xã hội, chịu ảnh hưởng của
đời sống xã hội, quan niệm sáng tác của tác giả ở giai đoạn này cũng có những thay đổi
đáng kể.
Mặc dù còn mang những hạn chế của thời đại và giai cấp xuất thân quy định
nhưng hình thức và nội dung đều đổi mới, hoàn thiện và có những bước tiến đáng kể:
Về hình thức:
Các thể loại truyền thống vẫn được duy trì và phát triển, đáng chú ý hơn đây là
thời kì thịnh vượng của truyện thơ Nôm và khúc ngâm với sự ra đời của Chinh phụ
ngâm của Đoàn Thị Điểm và đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du đã làm sắc nét
cho bộ mặt văn học ở giai đoạn này.
Thơ Đường luật của Hồ Xuân Hương, bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ
đạt đến trình độ điêu luyện và tinh tế hơn. Tuy nhiên thơ Đường luật ở giai đoạn này
lại khởi sắc hơn bao giờ hết, dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương những niêm luật khắc
kiến, giai đoạn này đề tài được mở rộng hơn, đề cập đến nhiều vấn đề liên quan gần gũi
với đời sống con người.
Chủ đề nổi bật lên hai mảng lớn, đó là tình yêu đôi lứa và số phận con người. Lần
đầu tiên văn học Việt Nam ta bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ:
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Và cũng tỏ ra bạo dạn khi tự ý quyết định tình yêu hạnh phúc cho bản thân, vượt
qua những rào cản, định kiến của xã hội phong kiến:
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Cùng với những thái độ suy nghĩ chống lại chế độ phong kiến, số phận con người
trong giai đoạn này cũng trở nên đáng thương hơn, bế tắc hơn. Đặc biệt là vấn đề về cái
chết, sự lụng bại của chế độ phong kiến đã áp đặt lên số phận con người những bất
hạnh nghiệt ngã.
Hình tượng trung tâm của văn học giai đoạn này là con người, đặt biệt là người
phụ nữ, phản ánh số phận của con người đang tồn tại trong một xã hội phong kiến suy
tàn. Có thể nói chưa có giai đoạn nào nói nhiều về người phụ nữ như giai đoạn này, và
cũng trong giai đoạn này, hình ảnh người phụ nữ được khắc họa nổi bật nhất, thành
13
công nhất. Từ xưa, số phận của người phụ nữ đã bị trói buộc khắc khổ trong vòng giáo
lí của xã hội phong kiến, đó như là một sự áp đặt số phận không sao tránh khỏi được.
Như Nguyễn Du đã từng nói:
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu.
Người phụ nữ xuất hiện trong văn học giai đoạn này là những người phụ nữ bị áp
bức toàn diện về thể xác, tinh thần lẫn giới tính. Không chỉ những người xuất thân ở
tầng lớp bình dân mà những người phụ nữ thượng lưu đôi khi cũng mang nhiều tâm sự.
Nói về người phụ nữ giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, tác giả đã
mình vào nỗi nhớ thương của người vợ, chàng hóa thân vào người chinh phụ và hiểu
thấu rằng người chinh phụ cũng ngày qua ngày mòn mõi mong chờ hình bóng của
chinh phu, một xác thân tiều tụy với khuôn trăng nhợt nhạt biếng điểm trang, trau
chuốt như thường ngày. Chán chường với những nhớ thương, người chinh phu và
chinh phụ càng tủi thân hơn trước cảnh ong quanh bướm lượn, như trêu đùa bỡn cợt
với nỗi cô đơn đang trự trị ở trong lòng. Thương nhớ chín mùi, người chinh phụ vượt
qua nỗi cô đơn để ước mơ về một ngày mai đoàn viên hạnh phúc, nhưng bất mãn là sau
những nhớ mong người chinh phu vẫn chưa trở về như bao lời hẹn ước.
Kết thúc tác phẩm là khúc ca khải hoàn của ngày chiến thắng, dù không đúng
như những lời hẹn trước lúc ra đi, nhưng giờ đây người chinh phu đã thực sự trở về,
được nhà vua ban thưởng và họ cùng nhau sống những ngày êm đềm hạnh phúc trong
một đất nước thanh bình.
1.2.2
Thể loại ngâm khúc
Ngâm khúc là thể loại trữ tình trường thiên thuần túy Việt Nam viết dưới hình
thức song thất lục bát. Ngâm khúc là một thể loại cơ bản, có vị trí quan trọng trong văn
học Việt Nam trung đại. Đã có những kiệt tác ra đời dưới thể loại ngâm khúc như:
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm,
Chinh phu ngâm của Hồng Liệt Bá,… Tuy nhiên cho đến nay thể loại ngâm khúc vẫn
chưa có một khái niệm cụ thể nào.
Dưới góc nhìn của các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Văn Khôn thì cho rằng:
“Ngâm là tiếng than thở, tiếng rên; khúc là bản đàn, bản nhạc”. Lê Văn Đức lại khác:
“Ngâm là một động từ đọc với giọng lên xuống kéo dài, khúc là ca khúc. Ngâm khúc là
15
bài văn vần tả cảnh với nhiều tình cảm, nhưng thường làm theo lối song thất lục bát”.
giữa hai yếu tố thể loại: thể loại ngâm khúc và thể loại song thất lục bát. Tác phẩm mở
đầu cho thể loại ngâm khúc hình thức song thất lục bát là Cung oán ngâm khúc của
Nguyễn Gia Thiều mà theo Nguyễn Lộc thì đó là một tác phẩm đạt đến đỉnh cao nhất
về một “lâu đài nghệ thuật bằng ngôn ngữ”.
Ngâm khúc hình thức song thất lục bát trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỉ XVI,
phát triển cực thịnh vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX và kết thúc vào cuối thế kỉ
XIX.
Chính những yếu tố như vần, điệu, nhịp của thể song thất lục bát hòa quyện nhịp
nhàng vào giai điệu ngân nga của thể ngâm khúc mà trong “Mấy vấn đề thi pháp văn
học trung đại Việt Nam” đã khẳng định rằng: “Ngâm khúc đã phát triển đến tột độ
quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung đại. Chính việc kể lể tình cảm mới tạo khả
năng sáng tác được khúc ngâm dài mà không cần cốt truyện”. (NGUỒN)
Dù ra đời và phát triển trong một thời gian không đủ dài, song thể loại ngâm
khúc hình thức song thất lục bát giữ một vị trí quan trọng trong thể loại văn học Việt
Nam. Ngâm khúc thường dùng nhiều từ Hán Việt cho câu thơ thêm trang trọng, thể thơ
song thất lục bát có câu song thất vần trắc xen câu lục bát vần bằng, có vần chân và vần
lưng khiến cho âm điệu gần với tình cảm xót xa, ai oán. Nên: “Ngâm khúc có khi là
khúc ca ai oán tình sầu, có khi là nỗi buồn thăm thẳm nhưng không bao giờ nó thoát ra
buổi hoàng hôn đầy bất trắc của bóng tối phong kiến đương thời”.(MẠNG)
17
CHƯƠNG 2:
ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA CHINH PHU NGÂM
2.1
Người chinh phu và cuộc chiến tranh phong kiến
18
tên tuổi,..một người chinh phu trong hàng ngàn hàng vạn người chinh phu nối tiếp
nhau lên đường ra mặt trận.
Được lệnh tòng quân, người chinh phu – cũng như biết bao người chinh phu
khác, phải tha hương trên chính quê hương mình, là vì khi ra đi, họ không biết mình sẽ
đi bao lâu, khi nào về và không biết rõ chuyến đi này có phải là chuyến đi sau chót? Bi
kịch của người chinh phu là bi kịch của một tên lính bị đày đi trấn giữ biên cương như
một tên tù khổ sai. Quay mặt với người vợ đang lẻ loi, với mẹ già đang yếu, với cả cái
không gian quen thuộc nơi quê nhà để lên đường chuẩn bị cho một cuộc chiến nơi biên
ải xa xôi. Hình ảnh đoàn quân đi hào hùng, oai vệ:
Đoàn quân đi tinh kì phấp phới,
Hình ảnh xưa chăn gối xa dần.
Phận làm trai với biết bao nghĩa vụ, biết bao bổn phận chưa kịp hoàn thành, bổn
phận làm chồng và nghĩa vụ làm con, nay nước nhà lâm nguy thì bổn phận và nghĩa vụ
ấy đành quy về cho việc nước. Khi tiếng trống kêu quân giòn giã vang lên thì đó là lúc
người trai thắt lòng giã từ hạnh phúc:
Cờ bay gợi mối sầu trường,
Rung rinh nhạc ngựa thoáng buồn tình xưa.
Không mang nét dũng tướng mạnh mẽ của tuấn kiệt Lục Vân Tiên, cũng không
đượm vẻ dũng mãnh khí phách tung hoành trong bốn bể như Từ Hải, hình ảnh người
chinh phu hòa quyện vào đoàn quân đang trùng trùng tiến lên phía trước, và đoàn quân
ấy là đoàn quân của cả một tập thể dân tộc anh hùng, mà trong đó, người chinh phu
trong tác phẩm là tượng trưng cho một trượng phu tiêu biểu, chàng mang đủ khí phách
của một anh hùng phong kiến. Vẫn thanh gươm yên ngựa gắn bó với những chiến binh
nơi sa trường, người chinh phu xuất hiện như một trang hào kiệt:
Chém rồng rắn, búa tay vung,
Áo bào thắt chặt, cáo chồn đuổi xa.
Nước Việt Nam trải qua hàng ngàn năm bị đô hộ, sự đô hộ đó đã nuôi lớn sự căm
Mối sầu này như lửa đốt da.
nhưng những yếu đuối thường tình đó không đủ làm nhục chí anh hùng, nó tiếp
cho người chinh phu thêm sức mạnh và nghị lực, thêm miềm tin về một ngày mai toàn
thắng.
20
Buổi chia ly của những ngày về không hẹn trước, chàng gửi lại cho người vợ
hiền những trách nhiệm mình chưa trọn vẹn hoàn thành:
Nàng hãy lo tề gia chẳng lối,
Rời kinh kì tướng giỏi ra quân.
Đó như một lời nhờ cậy và như một lời tiễn dặn, vì biết đâu một mai trên chiến
trường, người chinh phu vô tình gục ngã thì cái trách nhiệm đó chàng đã phó thác được
cho người vợ của mình.
Trên chiến trường, người chinh phu kiên cường hơn khi phải đối mặt với cái giá
lạnh khắc nghiệt của thời tiết:
Hàm Quan tuyết trắng một vùng,
Thành băng gươm lóe sáng cùng nắng mai.
Tuyết ngập thành làm phai lông quạ,
Sương ngoài thành sắc ngựa hoen hoen.
Những tảng băng của lạnh giá dựng lên như một bức tường thành vĩ đại, tuyết đủ
sức làm cho lông quạ nhạt màu, sương đủ sức làm hoen hoen sắc ngựa. Nhưng dẫu có
giá lạnh đến đâu, có buốt rét đến thế nào thì cái giá lạnh ấy cũng không thể giết chết đi
người chinh phu anh dũng, mà cái giá lạnh từ sâu thẳm tâm hồn mới thật sự đáng sợ,
nó đang hoành hành đang hủy nát tâm hồn tráng sĩ:
Trời đêm sương ướt áo khăn,
Bổng nơi quan ải chạnh lòng nhớ quê.
Người chinh phu xông pha trận mạc, đối đầu với những hiểm nguy nhưng luôn
xem thường cái chết, chỉ sợ nhất là nỗi nhớ, nhưng nỗi nhớ lại luôn đeo bám họ trong
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Cuộc chiến trong Chinh phu ngâm cũng không kém phần ác liệt:
Thuở trời đất gió mưa mờ mịt
Lúc anh hùng vào cuộc đua tranh
Thái Hư ai đã tạo thành
Chiến tranh được báo hiệu bằng sự chuyển đổi của trời đất, vừa lúc đất nước loạn
li thì đất trời dường như cũng đau thương tan tác, thật không hay có chăng là một cảnh
đất trời trong tưởng tượng? Chiến tranh bao giờ cũng gay go và dữ dội, chiến tranh làm
thay đổi đời người và thay đổi đất trời, thiên nhiên như cũng cuồng phong bão tố khi
gió mưa phủ kín cả không gian. Hòa vào khói lửa chiến tranh, đất trời cũng nổi cơn
thịnh nộ, hình ảnh “trời đất gió mưa mờ mịt” càng làm tăng thêm sự khốc liệt của chiến
tranh.
22
Khi có những mâu thuẫn, những tham vọng là khi những hòn than đỏ rực chiến
tranh bắt đầu nhen nhúm lửa, đó cũng là lúc con người phải đối mặt với những tan
thương, con lìa cha, vợ lìa chồng,… Chiến tranh nổ ra, dù muốn dù không thì những
người chinh phu vẫn phải lên đường chiến đấu, bởi lẽ có thể họ sẽ chết đi nhưng đó là
cách để họ tồn tại. Vừa có lệnh xuất chinh, hình ảnh người chinh phu vội vã đến dinh
đại tướng càng làm cho cuộc chiến tranh thêm khốc liệt hơn, nghiêm trọng hơn:
Mong trao cờ ấn sân rồng,
Hịch long đâu đã tới gần tướng dinh.
…
Sớm nghe sứ giục trong thành,
Quên nhà vì nước chiến tranh xá gì.
Đất nước ta chịu hàng ngàn năm đô hộ, trong hàng ngàn năm đó có biết bao binh
biến, biết bao rối ren: những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, những cuộc chiến giữa
Chiến tranh – và những cuộc chia ly xuất hiện, chiến tranh gieo rắc cô đơn cho
người ở lại và gợi mối sầu trường cho kẻ ra đi, nếu Đặng Trần Côn dành những thông
cảm của mình để thấu hiểu tâm trạng của người chinh phụ đến như vậy thì thử tưởng
tượng tâm trạng của người chinh phu như thế nào? Thấu hiểu những cô đơn của người
chinh phụ, càng thấu hiểu rõ hơn nỗi lòng của người chinh phu, tác gia Hồng Liệt Bá
đã viết nên Chinh phu ngâm bằng cả tấm chân tình.
Chiến tranh hiện lên trong tác phẩm là bạn đồng hành của nỗi đau và là kẻ thù
của hạnh phúc, chiến tranh mang bao giấc mơ của con người đi xa, khiến bao người
trai trẻ trở thành chinh phu và bao phụ nữ thành người chinh phụ. Chiến tranh trong tác
phẩm hiện lên nhạt nhòa không cụ thể nhưng ta có thể hình dung cuộc chiến tranh
trong Chinh phu ngâm cũng như bao cuộc chiến tranh khác, khói lửa mù mịt, chết
chóc, tan thương, những cái chết không được báo trước. Người chinh phu, ngày chinh
chiến, đêm ngủ trên yên ngựa, trong khoảnh khắc đó không phải là giấc ngủ mà là
những ngổn ngang tâm sự, những đau khổ của thể xác lẫn tinh thần đang dày vò, những
tổn thương mất mác không sao bù đắp được. Khốn khổ nhất là khi nỗi nhớ về người
chinh phụ đang thiêu đốt trọn vẹn trái tim chàng.
24
2.2
Nỗi nhớ mong khi người chinh phu tòng chinh
2.2.1
Nỗi nhớ của người chinh phu
Chiến tranh mang người chinh phu biền biệt ngoài chiến địa, thân thể người
chinh phu đã nguyện phó thác cho sông núi, duy chỉ có nỗi nhớ là còn tồn tại sôi nổi